Friday, 1 May 2020
Âm nhạc của màn đêm
Tuesday, 14 November 2017
Thursday, 14 September 2017
Điệu luân vũ thành Viên (François Feldman)
Lời Việt: Thái Linh
Bao kiếp hoa đào nương
Nơi ấy trên cầu buông
Trầm mình vào cơn sóng nước
Phận lạc loài dâng mắt cay.
Hương quán xưa còn đây
Thơm lá hoa cỏ cây
Đời lập lòe trong khói thuốc
Giọt sầu nào vương tóc mây.
Những dĩ vãng lãng đãng trôi như gió mây
Điệu luân vũ ấy vẫn cuốn xoay, vẫn lướt bay?
Bước chân ai mê say dắt em trong đêm nay?
Tình còn ngất ngây?
Những dĩ vãng lãng đãng trôi như gió mây
Điệu luân vũ ấy vẫn cuốn xoay, vẫn lướt bay?
Bước chân ai mê say dắt em trong đêm nay?
Tình còn ngất ngây?
Di tích xưa thành Rome
Bao dấu chân người thương
Chuyền bội tình ai đã viết
Lập trình từ logic quen.
Trong đáy sâu màn đêm
Thêm mãi chán chường thêm
Lệ tình đầu hoen sách cũ
Từ ngày ngây thơ ấm êm
Những dĩ vãng lãng đãng trôi như gió mây
Điệu luân vũ ấy vẫn cuốn xoay, vẫn lướt bay?
Bước chân ai mê say dắt em trong đêm nay?
Tình còn ngất ngây?
Những dĩ vãng lãng đãng trôi như gió mây
Điệu luân vũ ấy vẫn cuốn xoay, vẫn lướt bay?
Bước chân ai mê say dắt em trong đêm nay?
Tình còn ngất ngây?
Những dĩ vãng lãng đãng trôi như gió mây
Điệu luân vũ ấy vẫn cuốn xoay, vẫn lướt bay?
Bước chân ai mê say dắt em trong đêm nay?
Tình còn ngất ngây?
Yêu thương còn đây?
Wednesday, 5 April 2017
Tình yêu nghiệt ngã (Philipp Kirkorov)
Lời Việt: Thái Linh
Tôi dâng người từng ca khúc,
từng lời hát tôi ngân
Tôi mở lòng mình trong trắng,
người muốn gì cứ lấy đi!
Tôi chờ mong cùng mơ ước
giá băng sẽ tan một ngày
Nhưng trong tim người yêu dấu
tình ái không nương náu!
từng lời hát tôi ngân
Tôi mở lòng mình trong trắng,
người muốn gì cứ lấy đi!
Tôi chờ mong cùng mơ ước
giá băng sẽ tan một ngày
Nhưng trong tim người yêu dấu
tình ái không nương náu!
Nào tôi đâu biết
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Còn nói thêm chi, còn nói thêm chi...
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Còn nói thêm chi, còn nói thêm chi...
Tôi chưa từng gặp ai đó
đẹp rạng rỡ như người
Tâm hồn u buồn muôn lối,
sầu héo trước nhan sắc ấy!
Nhưng trong mắt người yêu dấu
tôi nhìn thấy một lời
Và hồn tê dại đau nhói
vì chữ „không” băng giá!
đẹp rạng rỡ như người
Tâm hồn u buồn muôn lối,
sầu héo trước nhan sắc ấy!
Nhưng trong mắt người yêu dấu
tôi nhìn thấy một lời
Và hồn tê dại đau nhói
vì chữ „không” băng giá!
Nào tôi đâu biết
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Còn nói thêm chi, còn nói thêm chi...
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Còn nói thêm chi, còn nói thêm chi...
Nào tôi đâu biết
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Còn nói thêm chi, còn nói thêm chi...
Tình yêu còn nghiệt ngã tơi bời
Và tim cô đơn khô héo bên đời
Tôi có đâu hay, có đâu hay!
Dầu sao đi nữa
Cầu mong sao luôn hạnh phúc cho người
Gặp nhau chi nữa thêm đắng lời!
Monday, 26 December 2016
Dress code - mặc gì, dịp nào, ở đâu
„Thà
làm một kẻ ngu thanh lịch còn hơn là một kẻ ngu không
thanh lịch” – Immanuel Kant bảo thế.
Và
dress code là thứ mật
mã mà bất cứ „kẻ ngu thanh lịch” nào cũng phải
biết. Đơn giản nhất thì nó là mật mã mặc gì vào dịp
nào cho đúng, nhưng hơn thế, nó còn là cách bạn „trình
bày” bản thân cho phù hợp với vị trí công việc, xã
hội, với tuổi tác và đặc điểm ngoại hình của mình,
thậm chí phù hợp với mùa hay thời gian trong ngày. Với
một số người, nó còn là cách thể hiện phong cách, cá
tính riêng, thể hiện sự duy nhất, độc đáo của họ.
Bắt đầu từ những điều đơn giản nhất đã nhé:
dress code mặc gì vào dịp nào. Nếu bạn nhận được
giấy mời đi dự một buổi tiệc với dòng chữ nhỏ ở
góc „black tie”, thì bạn phải mặc gì? Công ti
quy định dress code „business professional” nghĩa là
sao? Tiệm ăn ghi „dress code: smart casual” tức là
thế nào? Dưới đây là những dress code cơ bản từ cấp
độ cao nhất đến thấp nhất theo nghi thức ngoại giao.
White tie (trang
phục formal buổi tối ): đàn ông mặc áo
đuôi tôm dài (tailcoat) và phụ kiện (áo sơ mi trắng, nơ
trắng), phụ nữ mặc váy dạ hội dài chất liệu chủ
yếu là lụa. Mặc vào các dịp: dạ hội, các nghi thức
có mặt các quan chức nhà nước cao cấp nhất.
Morning dress
(trang
phục formal ban ngày) đàn ông mặc áo đuôi tôm vạt
chéo (morning coat, jacket) và phụ kiện (sơ mi sáng màu, nơ
hoặc cà vạt); phụ nữ mặc váy dài hoặc bộ váy áo
các màu khác nhau, nếu đi dự đám cưới thì tránh màu
đen và trắng, nếu đi đám tang mặc màu đen, chất liệu
lụa, len nhẹ, đội mũ. Mặc vào các dịp: đám cưới,
xem đua ngựa, các gala mùa hè ngoài trời, đám tang.
Black tie,
smoking (trang
phục semi-formal): đàn ông mặc đồ smoking đen
(tuxedo, dinner jacket) và phụ kiện (sơ mi trắng, nơ đen);
phụ nữ mặc váy buổi tối dài (hoặc đến đầu gối)
hoặc bộ váy áo vest buổi tối, chất liệu lụa. Mặc
vào các dịp: gala, ra mắt phim, kịch, các lễ kỉ niệm
long trọng.
Informal
(trang
phục informal): đàn
ông mặc com-lê xanh tím than hoặc màu ghi và cà vạt, buổi
tối mặc màu xanh tím than đậm; phụ nữ mặc váy dài
đến đầu gối hoặc quần phăng, chất liệu lụa hoặc
pha lụa, len nhẹ, ban ngày mặc màu sáng hơn đồ mặc
buổi tối. Mặc vào các dịp: ăn trưa, gặp mặt hội
họp, khai mạc triển lãm, cocktail, ăn tối, đến nhà hát,
đi nghe hòa nhạc.
Business
professional (trang
phục informal): đàn
ông mặc com-lê xanh tím than hoặc màu ghi và cà vạt; phụ
nữ mặc váy đến đầu gối hoặc quần phăng, chất liệu
lụa hoặc pha lụa, len nhẹ, màu sắc tùy vào dịp – dịp
càng quan trọng thì màu càng tối. Mặc vào các dịp:
trang phục hàng ngày của chính trị gia, phát biểu trước
quần chúng, business luch...
City (trang
phục informal): đàn
ông mặc com-lê các màu trừ màu đen, xanh tím than và ghi,
hoặc áo vest và quần khác màu; phụ nữ mặc váy mang
tính chất ban ngày, chất liệu lụa không bóng, pha lụa,
vải bông, len nhẹ. Mặc vào các dịp: tiệc vườn, sự
kiện thể thao long trọng, dự hội nghị.
Country
(trang
phục informal): đàn
ông mặc áo vest dạ (thường là áo kẻ nâu) cùng các phụ
kiện nâu; phụ nữ mặc áo khoác (jacket) thể thao, áo
khoác dạ kẻ nâu, váy hoặc quần khác màu, váy dài có
tay, chất liệu: len, cotton, dạ, sợi tổng hợp, thun, đi
giày thấp gót. Mặc vào các dịp: gặp gỡ không long
trọng, đi dạo chơi.
Casual smart
(trang phục informal): đàn ông mặc áo vest thể thao và
quần không li, phụ nữ mặc áo khoác thể thao và quần
jeans, áo tunic và quần bó, hoặc váy có tay mang tính thể
thao, chất liệu: len nhẹ, cotton, pha lụa, dạ. Mặc vào
các dịp: đi công viên, đi dạo, các cuộc vui chơi mang
tính thoải mái.
Casual
(trang phục informal): đàn ông mặc áo thun chui đầu, áo
phông, áo len, quần jeans hoặc quần không li; phụ nữ mặc
áo phông, áo sơ mi, áo len, quần jeans, váy thể thao, váy
thun... chất liệu len, cotton, sợi tổng hợp, dạ. Mặc ra
đường phố, khi đi nghỉ.
Business casual
(trang phục informal): đàn
ông mặc sơ mi thể thao, quần jeans hoặc quần không li;
phụ nữ mặc áo phông, áo sơ mi, quần jeans, váy thể
thao, váy đến đầu gối, chất liệu len, cotton, dạ, sợi
tổng hợp. Mặc đi làm hàng ngày nếu trong công ty không
có quy định khác.
Thursday, 10 November 2016
Ngày hôm qua (Charles Aznavour)
Lời Việt: Thái Linh
Ngày hôm qua, ngày xanh đã xa
Bao khúc ca đắm say nào còn đợi chờ được hát lên
Bao thú vui chốn dương trần còn chờ tôi tới tìm quên
bao nỗi đau trên đời mà mù lòa nào tôi chẳng hay!
Tôi chạy tựa như hoang thú, và thời trẻ trai vút nhanh,
Ngày hôm qua, ngày xanh đã xa,
hương tháng năm thấm qua môi ngọt lành giọt
sương mới sa
Tôi nếm cay đắng ngọt bùi tựa trò dại ngốc
trẻ thơ
Như ánh nến lay chập chờn khi trêu đùa cùng cơn gió
Ngàn muôn mộng ước tôi mơ,
Như ánh nến lay chập chờn khi trêu đùa cùng cơn gió
Ngàn muôn mộng ước tôi mơ,
Ngàn muôn tương lai đã xây,
Như cát đắp những lâu đài vội lụi tàn theo
gió xoay
Tôi sống tràn những đêm dài chẳng màng gì tới
ngày mai
Bao tháng năm thoáng trôi vèo đời người thoảng như cơn gió.
Bao tháng năm thoáng trôi vèo đời người thoảng như cơn gió.
Ngày hôm qua, ngày xanh đã xa
Bao khúc ca đắm say nào còn đợi chờ được hát lên
Bao thú vui chốn dương trần còn chờ tôi tới tìm quên
bao nỗi đau trên đời mà mù lòa nào tôi chẳng hay!
Tôi chạy tựa như hoang thú, và thời trẻ trai vút nhanh,
Không phút suy ngẫm xem cuộc đời này chân
lí chốn nao
Trong mỗi câu lúc chuyện trò mà ngày nào
tôi đã trao
Chỉ thấy có mỗi tôi, tôi, nào còn chi nữa
đâu…
Ngày hôm qua vầng trăng ngát xanh
và mỗi ngày mới điên rồ là một trò vui mới toanh
Ngày hôm qua vầng trăng ngát xanh
và mỗi ngày mới điên rồ là một trò vui mới toanh
Ôi những năm tháng diệu kỳ nhiệm màu tựa
phép thần tiên
Nhưng những hoang phí hão huyền tôi nào đâu
hay biết!
Trò vui tình ái tôi chơi, cuồng điên và kiêu hãnh, tôi
nhen mãi những đốm lửa vội tàn lụi tàn trong phút giây
bạn hữu phiêu lãng chân trời tựa bèo dạt theo nước mây
khi hết đêm lúc canh tàn chỉ còn mình tôi nơi đây.
Trò vui tình ái tôi chơi, cuồng điên và kiêu hãnh, tôi
nhen mãi những đốm lửa vội tàn lụi tàn trong phút giây
bạn hữu phiêu lãng chân trời tựa bèo dạt theo nước mây
khi hết đêm lúc canh tàn chỉ còn mình tôi nơi đây.
Và bao nhiêu bài ca trong tôi còn chưa cất
lên
Tôi nếm đắng cay bùi ngùi giọt lệ nào chưa biết tên
Trả giá cho tháng năm nao xa xưa
Tôi nếm đắng cay bùi ngùi giọt lệ nào chưa biết tên
Trả giá cho tháng năm nao xa xưa
cho dĩ vãng xa
cho bao ngày
xa
đã
xa
Monday, 29 August 2016
Porto chưa đến đã say
Một
căn nhà tràn ngập ánh sáng, ba bề là những ô cửa sổ
lớn màu trắng lộng gió nhìn ra sông Douro. Hoàng hôn rọi
những tia nắng sánh vàng khiến rượu vang trong bình pha
lê trên bàn rực lên một màu óng ả. Nhìn qua cửa sổ
xuống dưới là thấy những đàn cá bơi ven bờ. Rồi đêm
dần buông, sông dần long lanh với ngàn vạn ánh đèn từ
các du thuyền và từ đôi bờ hắt xuống. Từng đám hải
âu chao lượn náo động khắp mặt sông, sà vào sát cửa
sổ. Những bầy chim bồ câu vụt bay lên bầu trời đêm
xanh thẫm, dịu dàng lấp lánh mấy vì sao...
Những
hình ảnh đầu tiên Porto dành cho tôi là như thế. Và tôi
biết, chỉ với khoảnh khắc ấy thôi, tôi đã say Porto
mất rồi.
Rượu
vang trong bình tất nhiên là quốc tửu Bồ Đào Nha. Bên
kia sông là Vila Nova de Gaja - thiên đường của những
người yêu rượu vang, nơi bất cứ ai đến Porto cũng
không thể không đến - với san sát hầm rượu của các
hãng nổi tiếng như Taylor's, Sandeman, Graham's, Offley, Kopke,
Cruz, Ramos Pinto, Ferreira... và hàng chục hầm rượu nhỏ
khác. Tôi đang ở xứ sở của porto, thứ rượu vang ngọt
lừng danh thế giới, tinh túy của thung lũng Douro có
truyền thống trồng nho từ suốt 2000 năm.
Nhưng
điều thú vị là rượu vang porto lại do người Anh tình
cờ tạo ra. Vào thế kỷ XVII, bị cắt nguồn rượu vang
Pháp vì chiến tranh, họ tìm nguồn các cung cấp rượu
vang mới và đã đến Porto. Để rượu vang không bị hỏng
khi vận chuyển bằng đường thủy trong nhiều ngày nắng
nóng, họ pha thêm rượu mạnh vào. Rượu mạnh ức chế
con men và làm ngưng quá trình lên men, giữ lại lượng
đường trong rượu. Porto ra đời như thế.
Sau
khi được pha thêm rượu mạnh, việc rượu vang được ủ
trong hầm bao lâu trước khi đem bán phụ thuộc vào loại
rượu. Có rất nhiều loại vang porto khác nhau về màu
sắc, hương vị và nồng độ, nhưng tất cả đều là
rượu vang cường hóa với nồng độ từ 19-21 độ. Sự
khác nhau cơ bản giữa các loại rượu phụ thuộc vào
nơi rượu vang già đi: trong thùng gỗ sồi hay trong chai.
Trong
số các loại rượu porto được ngâm ủ trong thùng gỗ
sồi, Porto Tawny là loại phổ biến nhất, được để
trong thùng khoảng 3-5 năm và lọc trước khi đóng chai.
Cao hơn một bậc là Tawny Reserve, ủ trong thùng ít nhất 7
năm. Quí nhất là Tawny „có tuổi” với 4 loại: 10, 20,
30 và 40 tuổi. Càng nhiều tuổi, rượu càng giảm bớt
hương vị hoa quả, càng lên hương rễ cây và quả khô.
Tawny sau khi đóng chai cần được uống ngay, không nên giữ
trong hầm rượu gia đình.
Rượu
vang có thể được già đi trong chai. Porto Ruby được làm
theo cách này. Nho được ngâm trong các thùng sứ hay inox
lớn từ 3-6 năm, sau đó được lọc và đóng chai. Porto
Ruby thời xưa là thức uống phổ biến nhất ở Anh, với
hương vị hoa quả đặc trưng.
Loại
rượu porto trẻ nhất là Rosé Porto, được làm tương tự
như Porto Ruby, nhưng trước khi nước nho chuyển hẳn sang
màu đỏ thì người ta bỏ vỏ nho đi. Loại rượu này có
dòng hương anh đào, phúc bồn tử và dâu tây rõ rệt,
nhẹ nhàng và tươi mát, nhất là khi được ướp ở
nhiệt độ 4 độ C.
Porto trắng, hay Porto Branco được làm từ các loại nho khác với porto đỏ, có màu vàng dịu, vị nhẹ nhàng và mùi hương hoa, với độ ngọt khác nhau từ chát đến rất ngọt. Nhưng cần nhớ porto là loại rượu không bao giờ chát hẳn.
Porto trắng, hay Porto Branco được làm từ các loại nho khác với porto đỏ, có màu vàng dịu, vị nhẹ nhàng và mùi hương hoa, với độ ngọt khác nhau từ chát đến rất ngọt. Nhưng cần nhớ porto là loại rượu không bao giờ chát hẳn.
Dòng
rượu cao cấp hơn là Late Bottled Vintage (LBV) được làm
từ thứ nho đỏ tốt nhất, được đóng chai sau khi nằm
trong thùng gỗ từ 4 đến 6 năm. LBV nên dùng ngay sau khi
mua, mặc dù một số loại LBV có thể để được lâu
trong chai tùy thuộc vào việc rượu được lọc hay chưa.
Rượu đã được lọc không có cặn cần uống ngay. Rượu
chưa lọc có thể giữ trong chai ở tư thế nằm ngang sao
cho nút chai chạm rượu và luôn được giữ ẩm. Loại
LBV này có thể giữ được tới 20 năm, nhưng không lâu
hơn. LBV có màu hồng ngọc sâu thẫm đặc trưng, mang mùi
vị của các loại hoa quả như phúc bồn tử, mâm xôi có
dòng hương hạt tiêu và sô cô la. Trước khi dùng nên rót
ra bình để chừng 1 tiếng đồng hồ cho dậy hương.
Loại
rượu porto sang nhất, cao cấp nhất, lâu năm nhất là
Vintage Porto (VP) làm từ những niên vụ nho tốt nhất, là
một trong những loại vang ngon nhất thế giới. Được
xem là „bộ mặt” của các nhà sản xuất porto, vì thế
số lượng rất hạn chế, trung bình khoảng 3-4 năm mới
có 1 vụ. Rượu được ngâm ủ trong thùng gỗ sồi chỉ
trong vòng 2 năm trước khi đóng chai. Vintage Porto có thể
giữ được 20-30, thậm chí trên 60 năm. Rượu càng lâu
năm thì càng giảm lượng đường và cồn, thay vào đó,
hương thơm và mùi vị càng đậm đà, cao quý. Không nên
uống Vintage Porto ngay sau khi mở, rượu càng ít tuổi thì
càng cần nhiều thời gian chờ cho lên hương. Rượu non
dưới 10 năm cần rót ra bình trước khi uống thậm chí
tới 10-12 tiếng. Rượu 25-30 tuổi cần 4-6 tiếng. Rượu
trên 60 năm cần 1-2 tiếng. Vintage Porto được khuyên dùng
sau khi ăn, trong các ly dung tích tối đa 150 ml, nhỏ hơn ly
rượu vang thông thường.
Uống
porto với gì? Porto thường được uống khai vị hoặc sau
bữa ăn với các món tráng miệng. Đôi khi porto cũng được
uống với món chính. Tawny Porto hợp với các loại hoa quả
khô hoặc bánh ngọt có vị sô cô la đắng, cà phê hay
hạnh nhân. Các loại Tawny có tuổi nhất khi uống với
pho mát sẽ rất ngon và có thể giữ được trong tủ lạnh
tới vài tháng sau khi mở chai, nhưng tốt nhất chỉ nên
để đến 1 tháng. Late Bottled Vintage thường được uống
với pho mát, các loại hạt hay sô cô la đen, có thể giữ
trong tủ lạnh 2 tuần sau khi mở. Ngược lại, Vintage
Porto không nên để lâu, chỉ tối đa là 2-3 ngày sau khi
mở, dùng với pho mát, hoa quả khô hay các loại hạt.
Porto trắng thường uống khai vị với chanh, tonic và đá,
hoặc thay chanh bằng vài lá bạc hà, ngon nhất khi được
uống với hạnh nhân, cá hồi hun khói hay mận khô và sau
khi được ướp lạnh ở nhiệt độ khoảng 6-10 độ C.
Sau khi mở chai có thể cất trong tủ lạnh tới vài tuần.
Ruby Porto kết hợp với hoa quả hay bánh ngọt vị hoa quả
là tuyệt nhất, hoặc với pho mát non hay nước lê, sau
khi hơi ướp lạnh ở nhiệt độ 12-16 độ.
Có
thể bạn sẽ thấy „phức tạp quá” khi đọc một mớ
thông tin về rượu porto như thế. Nhưng hãy tin tôi, tất
cả những „lý thuyết” này sẽ trở nên cực kỳ đơn
giản, dễ hiểu khi bạn ở ngay Porto và có thể „thực
hành” mọi nơi mọi lúc. Chiều chiều, bên hai bờ sông
Douro người ta ngồi la liệt ở các quán xá, trong bóng đổ
của những hầm rượu san sát, trên những bờ tường,
những bậc thang, vừa ngắm non nước trữ tình và những
chiếc du thuyền trôi qua dưới các cây cầu, vừa thưởng
thức rượu vang và chuếnh choáng cùng ánh hoàng hôn đang
lấp lánh buông nơi mặt nước... Trong không gian ấy,
người ta sẽ „ngộ” ra Porto nhẹ nhàng đến không ngờ.
Uống xong ly rượu
cuối cùng / Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên”*.
Porto
là chốn đến để mà say. Song Porto không chỉ là nơi để
say mĩ tửu, mà còn là nơi người ta thấy khắp nơi men
say lâng lâng dâng lên trong mắt những đôi tình nhân.
Chưa ở đâu tôi gặp nhiều đôi lứa tay đan tay, môi kề
môi như ở đây, gần như trên mỗi bước chân. Tình yêu
quả là sáng suốt. Porto là nơi lý tưởng để những
người yêu nhau cùng thưởng ngoạn, vì phong cảnh vừa
lãng mạn vừa sôi động, vì rượu và đồ ăn ngon, vì
người dân thân thiện và giá cả không quá đắt đỏ.
Đến
Porto, hãy sống thật chậm, từ từ như khi thưởng thức
một ngụm rượu vang, để Porto lan tỏa và ngấm vào các
giác quan của bạn như ánh nắng dần tan vào đêm mỗi
buổi chiều. Hãy lang thang trên những dốc phố, những
ngóc ngách, để thấy Porto hiền hòa không tráng lệ nhưng
luôn bất ngờ hiện ra những góc đẹp đến thắt lòng,
để thấy có nơi u tối, có nơi tàn tạ mà sao thương
thật là thương... Hãy đi dạo và ngắm thành phố từ
trên cao không chỉ một lần, mà vào cả lúc ngày lên lẫn
khi đêm xuống hay trong bóng chiều nhập nhoạng, cả khi
trời nắng lẫn lúc trời mưa hay giữa mê tỉnh cầu
vồng. Hãy quẳng hết đi những cuốn sách hướng dẫn du
lịch về Porto (tất nhiên trước khi quẳng thì bạn hãy
đọc chúng), hãy trò chuyện với bác lái taxi, bà bán rau
ở chợ, ông lão bán tạp hóa, anh bồi bàn trong tiệm ăn
hay cô chủ nhà trọ...
Hãy
đứng trên cầu Luis I đón làn gió mát rượi từ biển
thổi vào từng ngõ ngách trong buồng phổi và nhìn ra xa
hơn. Phía xa kia. Ở đó là biển lớn, là đại dương. Từ
nơi đây, người ta đã ra đi để chinh phục thế giới.
Từ nơi đây, nhà nước và bản sắc Bồ Đào Nha hình
thành. Từ nơi đây, tôi biết, tôi sẽ không bao giờ quên
được Porto.
* thơ Bùi Giáng
Thursday, 18 August 2016
Khúc tình già
Jacques Brel / Gérard
Jouannest
Lời Việt: Thái
Linh
Hai mươi năm yêu bên nhau ôi điên
rồ
Bao phen chia li anh thôi mong chờ
Bao phen chia li anh thôi mong chờ
Bao phen em ra đi đôi mi hoen mờ
Ba lô trên vai anh không quay về.
Bao nhiêu thương đau bao cơn bão
tố
Trong căn phòng buồn chẳng còn nên thơ
Trong căn phòng buồn chẳng còn nên thơ
Từng lời nào muộn phiền trên
vách in hằn
Anh quên lưu hương, em quên luyến nhớ
Rượu nồng tình hồng chỉ là xa xưa
Mộng lành ngọt ngào ngày nào đã như mơ.
Anh quên lưu hương, em quên luyến nhớ
Rượu nồng tình hồng chỉ là xa xưa
Mộng lành ngọt ngào ngày nào đã như mơ.
Nhưng dấu yêu ơi,
Em vẫn luôn mãi trong trái tim anh
tuyệt vời
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu em...
Em luôn soi ra nơi anh muôn chiêu trò
Anh quen nơi em bao nhiêu những yêu bùa
Em ngăn chân anh không sa nơi đen bùn
Anh buông đôi tay mất em bao lần.
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu em...
Em luôn soi ra nơi anh muôn chiêu trò
Anh quen nơi em bao nhiêu những yêu bùa
Em ngăn chân anh không sa nơi đen bùn
Anh buông đôi tay mất em bao lần.
Đương nhiên em dăm ba phen đắm đuối
Cùng vài người tình giết thời gian trôi
Đổ đầy ngày dài bằng môi mắt da thịt.
Nhưng can chi đâu, em, sau rốt
cuối
Tài tình là người còn hoài đôi
mươi
Trẻ dại một đời mặc dòng cứ trôi xuôi.
Trẻ dại một đời mặc dòng cứ trôi xuôi.
Nhưng dấu yêu ơi,
Em vẫn luôn mãi trong trái tim anh
tuyệt vời
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu em...
Trôi xuôi trôi đi tháng năm ôi mỏi mòn
Ta trôi theo nhau tháng năm đau buồn
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu em...
Trôi xuôi trôi đi tháng năm ôi mỏi mòn
Ta trôi theo nhau tháng năm đau buồn
Nhưng bao uyên ương sống không
giận hờn
Ai đâu hay chăng chán chê muôn
phần?
Đương nhiên em thôi không mau nước mắt
Và anh chẳng còn sầu muộn vu vơ
Chẳng còn điều gì dễ giấu nhau bây giờ.
Ta thôi ngây thơ, thôi chơi tới bến,
Tình cờ là chuyện ngày một xa xưa,
Chỉ là mình cùng dịu dàng sát thương nhau.
Nhưng dấu yêu ơi,
Đương nhiên em thôi không mau nước mắt
Và anh chẳng còn sầu muộn vu vơ
Chẳng còn điều gì dễ giấu nhau bây giờ.
Ta thôi ngây thơ, thôi chơi tới bến,
Tình cờ là chuyện ngày một xa xưa,
Chỉ là mình cùng dịu dàng sát thương nhau.
Nhưng dấu yêu ơi,
Em vẫn luôn mãi trong trái tim anh
tuyệt vời
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu người...
Cho dẫu đêm tối hay lúc ban mai rạng ngời
Anh luôn yêu em, người ơi, anh mãi yêu người...
Monday, 15 August 2016
Du lịch thông minh
„Xách
ba lô lên và đi”, ai mà chẳng thích! Nhưng du lịch một
cách thông minh để các trải nghiệm này vừa trở nên
quý giá, vừa là những trải nghiệm có ý thức, thì
không phải ai cũng để ý. Có người đã đặt ra khái
niệm „hậu-du-khách” (post-tourist) để chỉ những người
khác với du khách hay phượt thủ thông thường ở chỗ
họ có ý thức về sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu,
về quan hệ nhân quả của các hành xử khi là một du
khách, ý thức về các quá trình tâm lí, thương mại hay
hệ tư tưởng. Xin tạm gọi các „hậu-du-khách”
này là những du khách thông minh. Trong thực tế, điều
này có thể biểu hiện như thế nào?
Một số điều sau đây có thể khiến bạn du lịch thông minh hơn:
1. Nên lựa chọn kỹ nơi đến du lịch một cách
có ý thức. Không nhất thiết phải đến nơi nào khách
du lịch không mấy được hoan nghênh, ví dụ như Bhutan
hay núi thiêng Uluru ở Úc. Thế giới rộng lớn có bao
nhiêu nơi để đi, sao phải chen chân vào chốn không mời
làm gì cho khổ?
2. Đừng
mang theo quá nhiều đồ. Chọn những thứ quần áo „đa
năng”, dễ phối dễ mặc trong mọi hoàn cảnh, chỉ cần
1-2 chiếc thay vì 3-4 bộ khác nhau. Mỗi kg hành lí của
bạn sẽ khiến máy bay đốt nhiều nhiên liệu hơn, và
do dó xả nhiều khí thải hơn. Máy bay là nguồn thải
CO2 tăng tốc nhanh nhất hiện nay. Một chuyến bay khứ
hổi Paris - New York thải ra 1 tấn CO2, trong khi đó một
cái cây trung bình chỉ hút được 5 kg CO2 trong 1 năm. Để
xử lý được 1 tấn khí thải, cần vài chục cái cây
trong vài năm.
3. Máy
bay đốt nhiên liệu nhiều nhất khi lên và xuống. Bởi
vậy nếu có thể, nên chọn những chuyến bay thẳng
không transit. Thay vì du lịch vài chuyến ngắn, hãy lên
kế hoạch đi một chuyến dài.
4. Ở
những nước kém phát triển chính quyền không mấy có
trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, ví dụ như
Việt Nam, Ấn Độ, Tunisie, Ai Cập... rác thải phần lớn
sẽ được đổ thẳng ra sông, biển, sa mạc... Đến
những nước này, nên sử dụng khăn tắm nhiều lần
trong khách sạn, đừng lau xong 1 cái là quẳng ngay xuống
sàn để phục vụ phòng phải thay cái khác. Đừng tắm
lâu hay xả nước hoang phí. Tiết kiệm điện, hạn chế
dùng đèn, máy sấy tóc, điều hòa nhiệt độ nếu không
cần thiết lắm.
5. Những
chương trình hấp dẫn dành cho khách du lịch rất nhiều
khi rất không „vô tội” như bề ngoài. Đừng xem các
chương trình biểu diễn múa voi, bởi trước đó những
con voi này đã bị tách khỏi mẹ từ rất nhỏ, đánh
đập, bỏ đói để dạy làm những trò biểu diễn.
Những
con vật dùng để phục vụ du khách thường là những
con thú bị ngược đãi: khỉ bị cho dùng ma túy để
nhào lộn, rắn bị bẻ răng để du khách cho ăn, cá heo
bị nuôi trong các bể nhân tạo cho du khách xem thường
bị chết rất nhiều vì khác với điều kiện sống tự
nhiên của chúng... Nếu không thế ngắm nhìn động vật
tự do trong thiên nhiên (ví dụ ra Đại Tây Dương xem cá
heo) thay vì vào xem các bể nuôi cá heo nhân tạo, bạn
hãy dùng số tiền đó để đóng góp cho việc bảo vệ
chúng.
6. Đừng
đi săn thú ở châu Phi. Giấy phép đi săn không được
kiểm soát dẫn tới tình trạng trong vòng 20 năm qua, số
lượng của các loài động vật ở giới hạn tuyệt
chủng đã bị giảm tới 30 %.
7. Để
phục vụ du khách, nhiều nghi lễ truyền thống của địa
phương đã bị thay đổi, biến dạng. Các lễ hội bị
tập trung lại vào mùa du lịch. Các vở múa Kanthakali ở
Ấn Độ bị rút ngắn mất 2/3, người Bali phải múa
hàng ngày những điệu múa đáng lẽ chỉ diễn ra 60 năm
một lần, người Karen ở Thái Lan đánh trống cho khách
du lịch nghe mặc dù theo truyền thống, họ chỉ đánh
trống trong đám ma...
8. Những
chuyến tham quan các khu ổ chuột của các tour du lịch
không hề đem lại lợi ích cho người dân ở đó, mà
chỉ là sự xâm phạm nhân phẩm và quyền riêng tư của
họ. (Mặc dù vậy, hàng năm vẫn có tới 40 nghìn khách
du lịch thăm các khu ổ chuột ở Rio, và khoảng 300 nghìn
khách du lịch thăm các khu ổ chuột ở cape Town).
9. Đừng
tham gia các chương trình nửa du lịch nửa làm thiện
nguyện, ví dụ kiểu „trò chơi tình nguyện viên”
trong vài ngày giúp các em bé mồ côi ở Nepal hay
Campuchia. Số trẻ em mồ côi ở các nước này tăng đột
biến, nhưng không phải trên thực tế, mà chỉ là để
cung cấp cho các địa điểm „du lịch thiện nguyện”.
Các trẻ em này trở thành nguồn thu nhập của các tổ
chức du lịch. Du khách vừa bị làm tiền, vừa gián tiếp
tiếp tay cho tệ nạn, vừa tưởng rằng mình „là người
tốt” để ru ngủ lương tâm.
(Viết
trước một chuyến đi dài (thay cho vài chuyến đi ngắn),
cũng là để tự nhắc mình :-) Nhiều thông tin được
lấy từ bài „7 tội lỗi của du khách” của Zuzana
Kisielewska, tạp chí Focus số tháng 8/2016).
Sunday, 7 August 2016
Hài kịch (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Tình yêu của chúng mình sẽ qua
đi trước tiên,
một trăm năm, hai trăm năm trôi
qua nữa,
rồi ta sẽ lại chung đôi:
rồi ta sẽ lại chung đôi:
Cô đào và anh kép hài
mà công chúng yêu thích,
sẽ vào vai chúng ta trong vở
kịch.
Một vở hài kịch xinh xinh
với dăm ba vần điệu,
chút múa may, và thật lắm tiếng
cười,
lột tả sát sao bao tình huống
cuộc đời.
Và những tràng vỗ tay.
Anh sẽ nực cười thay
trên sân khấu, với nỗi ghen tuông ấy
và cái cà vạt kia.
Cái đầu em sẽ quay đi,
trái tim em và vương miện,
tim ngu ngốc nát tan rên xiết
trên sân khấu, với nỗi ghen tuông ấy
và cái cà vạt kia.
Cái đầu em sẽ quay đi,
trái tim em và vương miện,
tim ngu ngốc nát tan rên xiết
còn vương miện thì đang rơi.
Ta sẽ hẹn hò nhau người ơi,
sẽ chia ly, để khán phòng cười
cợt,
mấy núi cũng trèo, mấy sông
cũng vượt,
mình sẽ đinh ninh như thế với
nhau.
Và dường như cay đắng khổ
đau
đối với chúng ta còn quá ít -
mình lao vào nhau qua nẻo ngôn từ.
đối với chúng ta còn quá ít -
mình lao vào nhau qua nẻo ngôn từ.
Rồi ta cúi chào lịch sự
kết thúc vở kịch vui.
Khán giả về nhà đi ngủ
sau khi chảy nước mắt vì cười.
kết thúc vở kịch vui.
Khán giả về nhà đi ngủ
sau khi chảy nước mắt vì cười.
Họ sẽ sống thật tuyệt vời,
họ sẽ dạy thuần tình ái,
dưới tay họ cọp beo cũng ngoan ngoãn vâng lời.
dưới tay họ cọp beo cũng ngoan ngoãn vâng lời.
Còn chúng ta muôn kiếp cứ thế
thôi,
đầu đội mũ gắn chuông lục
lạc,
mình sẽ lắng nghe tiếng chuông
lúc lắc
một cách dã man.
***
Nguyên tác:
Buffo
Buffo
- Najpierw minie nasza miłość,
potem sto i dwieście lat,
potem znów będziemy razem:
komediantka i komediant,
ulubieńcy publiczności,
odegrają nas w teatrze.
Mała farsa z kupletami,
trochę słońca, dużo śmiechu,
trafny rys obyczajowy
I oklaski.
Będziesz śmieszny nieodparcie
na tej scenie, z tą zazdrością,
w tym krawacie.
Moja głowa zawrócona,
moje serce i korona,
głupie serce pękające
i korona spadająca.
Będziemy się spotykali,
rozstawali, śmiech na sali,
siedem rzek, siedem gór
między sobą obmyślali.
I jakby nam było mało
Rzeczywistych klęsk i cierpień
- dobijemy się słowami.
A potem się pokłonimy
i to będzie farsy kres.
Spektatorzy pójdą spać
ubawiwszy się do łez.
Oni będą ślicznie żyli,
oni miłość obłaskawią,
tygrys będzie jadł z ich ręki.
A my wiecznie jacyś tacy,
a my w czapkach z dzwoneczkami,
w ich dzwonienie barbarzyńsko
zasłuchani.
Wednesday, 27 July 2016
Hoa sen (Rabindranath Tagore)
(Thái Linh dịch tặng Phan Thị Hà Dương)
Ngày ấy khi hoa sen nở, chao ôi, lòng tôi còn đang lơ đãng
mà tôi chẳng hay. Lẵng của tôi
trống không và hoa kia tôi chưa màng.
Chỉ giờ đây, một lần nữa
khi nỗi sầu vây bủa, tôi sực tỉnh giấc mộng riêng
mang,
nghe mùi hương lạ mong manh trong
gió phương Nam nhẹ thoảng.
Hương dịu ngọt mơ màng khiến tim tôi nhói lên niềm khát khao,
dường như hơi thở mùa Hạ nồng
nàn đang mong tìm viên mãn.
Tôi đâu ngờ hoa sen đã ở thật
gần, hoa sen là của tôi,
Hoa ngọt ngào tuyệt diệu chính
từ sâu thẳm tim tôi bừng nở.
http://www.poemhunter.com/poem/lotus/
Monday, 4 July 2016
Nhớ về xứ sở những bức tranh
Tôi đặt
vé đi Amsterdam trong một phút nhớ Vincent điên cuồng, khi
trong lòng không có mong muốn nào mãnh liệt hơn là được
chìm đắm vào không gian của ông, được mặt đối mặt
với những nét cọ hằn in nội tâm ông. Từ sân bay, tôi
ghé qua khách sạn cất va li, thay chiếc váy màu vàng tôi
đặc biệt dành riêng cho cuộc hội ngộ này, và đi thẳng
tới bảo tàng Van Gogh.
Chiều
tháng Năm nắng dịu trong tiết cuối xuân đầu hè mát
mẻ. Tôi có thể lặp đi lặp lại một nghìn lần: tháng
Năm là tháng đẹp nhất ở châu Âu! Thiên nhiên vừa bừng
tỉnh đang say sưa pha màu điểm sắc trong những khu rừng,
vườn hoa, công viên, giữa những bình nguyên, sườn đồi,
hẻm núi, cả trên những chậu hoa nơi bao lơn, cột đèn,
thành cầu, hè phố... Những màu sắc hào phóng, tinh khôi,
tươi trẻ. Thiên nhiên mà Vincent từng yêu đến thế. Với
ông, „nghệ thuật là con người cộng thêm thiên nhiên”.
Ông viết cho em trai Théo: „Em hãy
gắng khám phá cái đẹp ở bất cứ nơi nào có thể;
phần lớn mọi người không nhìn thấy cái đẹp (…), em
hãy dạo chơi thường xuyên và hãy yêu thiên nhiên – chỉ
có bằng cách ấy mới có thể học được điều gì đó
và hiểu được nghệ thuật tốt hơn. Các họa sĩ hiểu
và yêu thiên nhiên và vì thế họ dạy cho chúng ta cách
nhìn ngắm thiên nhiên như thế nào”.
Vincent thường xuyên đi dạo nhiều giờ liền giữa thiên
nhiên, say sưa ngắm nhìn từng cánh bướm, từng chiếc
lá, từng con côn trùng. Tôi
chợt nhớ Bùi Giáng. Xin yêu mãi
yêu và yêu nhau mãi / Trần gian ơi cánh bướm cánh chuồn
chuồn / Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại / Con côn trùng
sâu bọ cũng yêu luôn... Vincent
và Bùi
Giáng, hai kẻ rong chơi hoang dại, đều điên
rồ lừng lẫyi
đi qua cuộc đời này, đều yêu trần gian đến từng tế
bào xương tủy, đều ngang tàng tự do đến bất cần,
phá vỡ mọi quy ước, luật lệ, xóa nhòa mọi đường
biên quen thuộc, đều có sức sáng tạo bão lốc phi
thường, đều cô đơn và chẳng hiếm lần tuyệt vọng,
nhưng trên hết đều yêu tha nhân đến xót xa. Cả hai đều
đã trở thành những huyền thoại...
Gặp
gỡ với một huyền thoại, điều này mới thật khó khăn
làm sao. Tôi luôn tự hỏi mình: trong cuộc hội ngộ của
tôi với Vincent, bao nhiêu phần sẽ bị màn sương mù của
huyền thoại che phủ? Trong ánh mắt tôi nhìn những bức
tranh của ông, có bao nhiêu phần là cách nhìn mà truyền
thông, xã hội, văn hóa... đã định hướng và áp đặt
cho tôi? Làm sao tôi có thể „trò chuyện” với ông hồn
nhiên như với một người bạn? Làm sao tôi không cảm
thấy lo lắng và e ngại trước cuộc gặp gỡ với một
nhân vật khổng lồ đến thế? Những bản sao tranh ông
tràn ngập khắp nơi, trong các căn hộ, khách sạn, quán
xá, các thư viện, hiệu sách, quầy lưu niệm, thậm chí
cả trong các cửa hàng thời trang hay trên những chuyến
bay... Liệu tôi có tìm được gì nữa cho riêng mình khi
đến gặp ông ở một nơi chẳng còn mấy riêng tư? Chỉ
riêng năm 2015 đã có tới gần hai triệu người đến
thăm bảo tàng Van Gogh.
Nhưng
những hoài nghi ấy hoàn toàn tan biến khi tôi đứng trước
bức tranh Cây hạnh nở hoa
mà tôi hằng yêu thích trên tầng cao nhất của bảo tàng.
Màu xanh dịu của bản gốc là thứ màu sắc tôi chưa
từng thấy trong đời. Nó mềm mại và trong trẻo như
một ban mai mùa xuân tinh khiết. Mát rượi mịn màng như
manh lụa nhẹ vờn trong gió thoảng. Tinh khôi như chưa hề
trôi qua hơn một trăm năm. Chỉ còn tôi và bức tranh.
Hiện thực như đang tan ra trong một thứ dưỡng chất
trần gian tinh túy nhất. Có hề chi những xôn xao của
từng đoàn khách du lịch xung quanh. Có hề chi cả chặng
đường tôi đã đi qua để tới đây. Giây phút ấy tôi
thấy mình là người hạnh phúc nhất trần gian, bởi tôi
đã nhìn được thật sâu vào đôi mắt Vincent và tìm
thấy ở đó những tia sáng dịu dàng, ấm áp và không
ngừng trong trẻo. Cây hạnh nở
hoa là một
trong những bức tranh riêng tư nhất của ông. Nó chính là
bức chân dung tự họa thầm kín và vô cùng chân thực.
Một
bức họa rất riêng tư khác, nhưng hoàn toàn khác hẳn,
là bức Tĩnh vật với cuốn
Thánh kinh mở
ông vẽ vài năm trước, sau cái chết của cha mình. Cuộc
xung đột triền miên giữa hai cha con đã kết thúc bằng
họa phẩm tuyệt đẹp này. Quyển Thánh kinh của người
cha, bệ vệ, nặng nề, mở rộng ở chương 53 của Isaie.
Bên cạnh là chiếc chân nến với ngọn nến đã tàn,
thường là biểu tượng của memento
mori, của
cái chết, trong
hội họa thời xưa. Trước quyển Thánh kinh đồ sộ là
một cuốn sách nhỏ bé: „Niềm
vui sống”
của Emile Zola, tác giả Vincent yêu thích, người có cùng
quan điểm với ông khi cho rằng „nghệ thuật là một
góc thiên nhiên được nhìn qua tâm tình con người”.
Cuốn sách của Zola sờn rách cho thấy nó được đọc
thường xuyên. Sự sắp xếp màu sắc và chủ đề của
bức tranh là sự tương phản giữa hai thế giới xưa cũ
và đương đại, giữa tôn giáo và niềm vui cuộc sống,
với chiến thắng tối hậu thuộc về màu vàng chanh trên
bìa cuốn sách của Zola, màu vàng hẳn đã làm Théo choáng
váng, „như một tiếng thét, một
vệt sáng hay tiếng kèn trompet đang chế ngự cả một dàn
nhạc khổng lồ. Từ đây màu vàng, màu của niềm vui
sống, sẽ lớn dần trong hội họa Vincent.”ii
Tôi
gặp lại màu vàng Vincent trong bức chân dung tự họa đẹp
nhất của ông ở bảo tàng Van Gogh, vẽ năm 1888 vào những
ngày cuối cùng của ông ở Paris. Ông đứng trước giá
vẽ, „mái tóc như đồng lúa
chín vàng với những bông anh túc đỏ, trán, má và tay
lấm lem. Chiếc áo màu lam điểm những vệt vàng sinh động
(...) gợi nhớ bầu trời Van Gogh đầy sao. Giá vẽ màu
vàng, bảng pha màu màu vàng và những cây cọ màu vàng
không chỉ tiệp với màu râu ria lởm chởm và tương phản
với màu xanh lam của chiếc áo choàng, màu nền xám nhạt
và đôi tay màu đất, mà chúng còn báo trước sự khải
hoàn của „nốt màu vàng cao vút”, như chính lời ông,
nốt màu mà ông sẽ đạt tới vào mùa hè năm đó trên
những tấm toan tuyệt nhất từ Arles.”iii
Nốt màu
vàng cao vút ấy, hôm nay tôi mang trên mình để đến gặp
ông, bởi tôi muốn cuộc hội ngộ này phải tràn đầy
niềm vui sống. Vui sống, đó cũng là điều tôi thầm hứa
với Vincent, với chính mình, là món quà không bao giờ tôi
từ chối dành tặng cho riêng mình và những người tôi
thương yêu.
Với
tôi, chuyến thăm Amsterdam lần này trước hết là hành
trình theo dấu Vincent. Tôi đến Rijskmuseum để ngắm Các
viên chức
và Cô dâu Do Thái
của Rembrant mà Vincent đã ngồi nhìn ngắm hàng giờ khi
bảo tàng này mới mở cửa. Ông viết cho Théo: „Bức
Các viên chức là tác phẩm tuyệt
vời và hoàn hảo nhất của Rembrant; nhưng bức Cô
dâu Do Thái thật độc đáo, được
vẽ bằng bàn tay rực lửa. Em thấy đấy, Rembrant trong
Các công
chức trung thành với tạo hóa,
mặc dù ở đó, như mọi khi, ông trở nên thanh cao hơn,
thanh cao đầy sâu sắc, và thăng hoa bất ngờ. Nhưng
Rembrant còn có tài năng khác, khi ông không phải giữ đúng
chính xác nguyên bản như các bức chân dung đòi hỏi, khi
ông có thể chuyển động trong không gian của thi ca, trở
thành thi sĩ, tức là trở thành kẻ sáng tạo. Điều này
được thấy rõ trong Cô
dâu Do Thái. Delacroix sẽ hiểu
bức tranh này thế nào nhỉ? Một cảm xúc thanh cao làm
sao, một cõi thâm sâu không hề hữu ý! Phải sống đi
chết lại nhiều lần để có thể vẽ được như thế –
đó là những lời thích hợp cho bức tranh này.”
Nghệ
thuật vẽ chân dung với Rembrant là đỉnh cao chiếm một
vị trí quan trọng trong hội họa Hà Lan thế kỷ XVII, nền
hội họa mà Gombrich gọi là „chiếc gương soi của tạo
hóa”. Song đó không phải là một tấm gương chính xác
mà vô hồn. Phản chiếu con người hay phong cảnh thiên
nhiên luôn là phản chiếu tâm hồn của người nghệ sĩ,
những ý thích, niềm vui hay tâm trạng anh ta. Chính điều
này khiến cho vẽ tĩnh vật - lĩnh vực đặc sắc nhất
của hội họa Hà Lan – trở nên vô cùng thú vị. Các
họa sĩ Hà Lan đã cho thấy chủ đề của bức tranh chẳng
mấy quan trọng, các bức tĩnh vật trở thành nơi tuyệt
vời để họ thử nghiệm các giải pháp khác nhau cho
những vấn đề trong hội họa, ví dụ như cách thủy
tinh màu phản chiếu và khúc xạ ánh sáng, sự tương phản
và ảnh hưởng lẫn nhau của màu sắc và chất liệu...
„Tương tự như có thứ âm nhạc vĩ đại không lời, tồn tại một thứ hội họa vĩ đại với chủ đề rất khiêm tốn. Những họa sĩ Hà Lan cả đời chuyên vẽ đi vẽ lại những mô típ quen thuộc rốt cuộc đã chứng minh rằng bản thân chủ đề chỉ có ý nghĩa thứ yếu.”iv
Chủ đề chỉ là thứ yếu, bậc thầy kiệt xuất nhất trong việc chứng minh điều này là Vermeer. Tranh của ông chính là các bức tĩnh vật với người, mà nổi tiếng nhất là bức Cô gái rót sữa. E.H. Gombrich viết: „Khó lý giải được vì sao một bức tranh rất đơn giản không cầu kỳ như thế lại là kiệt tác xuất sắc nhất mọi thời đại. Phần lớn những người có may mắn được xem bản gốc đều đồng ý với tôi rằng trong nó có một cái gì như thể phép màu. Có thể miêu tả một trong những yếu tố của phép màu ấy, nhưng không thể lý giải được nó. Đó là cách Vermeer đạt được một cách chuẩn xác khi diễn tả màu sắc, chất liệu và hình dạng, nhưng đồng thời bức tranh lại không khô khan và mệt mỏi. Như một nhiếp ảnh gia làm dịu đi sự tương phản mạnh mẽ mà không cần làm nhòe hình khối, Vermeer làm mềm các đường nét mà vẫn giữ được cảm giác vững chãi. Chính sự kết hợp kỳ lạ, độc đáo giữa cái mềm mại và sự sắc nét khiến cho các bức tranh đẹp nhất của người nghệ sĩ ấy trở thành không thể nào quên. Chúng cho phép ta thấu suốt cái đẹp bình yên của một cảnh trí đơn giản và tưởng tượng người nghệ sĩ đã cảm thấy điều gì khi quan sát làn ánh sáng rọi qua cửa số và làm sống động màu sắc tấm vải.”
Tôi
đã là người may mắn được ngắm nhìn tận mắt phép
màu ấy, điều không một bản sao nào có thể đem lại
cho dù kỹ thuật cao đến đâu. Bản gốc Cô
gái rót sữa nhỏ
hơn tôi vẫn hình dung. Một khoảnh vuông be bé giữa
Rijskmuseum mênh mông mà như khiến cả thế giới trở nên
bất động. Trong bức tranh này, mọi thứ đều đứng
yên, chỉ có dòng sữa nhỏ xíu mong manh chảy ra từ chiếc
bình là chuyển động. Nó đã chảy như thế gần bốn
trăm năm. Thời gian không còn ý nghĩa gì nữa. Ánh sáng
hắt vào khiến nó sáng lên, hơi lấp lánh tinh nghịch,
như ánh mắt của Szymborska khi bà viết thi phẩm Vermeer:
Chừng
nào cô gái ấy, ở Rijksmuseum
trong
tĩnh lặng và chăm chú
ngày
qua ngày vẫn rót sữa
từ
bình ra âu,
thì
thế giới còn chưa xứng đáng đâu
với
ngày tận thế.
Phải,
chưa thể tận thế khi dòng sữa ấy vẫn chảy. Chưa thể
tận thế khi người ta vẫn còn có thể đắm chìm giữa
bao nhiêu bức họa kiệt tác trong Rijskmuseum. Tôi nhớ
Vincent đã viết cho em trai: „Khi
anh ở trong một môi trường khác, giữa những bức tranh
và các tác phẩm nghệ thuật, anh đã bất ngờ yêu ngay
môi trường ấy và như em biết, yêu tới mức nhiệt
thành. Anh không hối tiếc về điều đó, và hôm nay, khi
đang ở xa, anh cảm thấy nhớ về xứ sở những bức
tranh.”
Và
hôm nay, khi đang ở xa, tôi cũng đang nhớ về xứ sở
những bức tranh. Để giữ trong tâm hồn một dòng sữa
mát. Để ngân lên nốt màu vàng
cao vút
giữa thế giới bề bộn xung quanh.
(7.2016)
***
iChữ
của Bùi Giáng
iiDavid
Haziot
iiiWojciech
Karpiński
ivE.H.
Gombrich
Monday, 11 April 2016
Kỷ nguyên của dối trá (chúng ta bị thao túng như thế nào)
Phỏng vấn nhà xã hội học nổi tiếng, giáo sư Zygmunt Bauman do Jacek Żakowski - phóng viên tạp chí Polityka thực hiện tháng 12.2004. Trích từ tập “Hành trang cần thiết của người trí thức”. Thái Linh dịch.
Jacek
Żakowski: - Ông không thể tưởng tượng được
tôi đã vui mừng thế nào khi ông nói về „niềm đam mê
lột trần những dối trá bao che trách nhiệm về những
bất hạnh của con người...” trong cuộc trò chuyện với
Keith Tester. Nhưng Tester đã không khai triển mạch này. Và
tôi vẫn không biết những dối trá ấy là gì. Giờ ta
hãy thử vạch trần chúng một cách triệt để.
Zygmunt
Bauman: - Triệt để? Anh định triệt để vạch trần
và đưa đám sự dối trá?
Tôi
rất muốn ông ít nhất cũng hạ gục vài sự dối trá
lớn.
Thế
thì anh đã ở thế yếu rồi. Cuộc chiến với dối trá
là bất khả chiến thắng. Dối trá tự bản chất là
vĩnh cửu và có ở khắp nơi. Georges Duhamel đã rất thông
thái khi nói rằng: „Giả dối là nguyên tắc, sự thật
là ngoại lệ”.
Ông
cũng cho rằng như vậy?
Điều
này có thể dễ dàng chứng minh một cách lô gích. Cho mỗi
câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng. Thế nhưng các
câu trả lời dối trá thì có cả đống.
Vậy
vì sao „niềm đam mê lột trần dối trá” lại dẫn lối
cho một trong những nhà xã hội học đương đại vĩ đại
nhất?
Hẳn
là anh muốn nói đến những dối trá chính trị?
Nếu
như chúng thường bao che „bất hạnh của con người”
nhất.
Điều
này không mấy thú vị. Dối trá chính trị sớm muộn gì
cũng trở nên rõ ràng đối với tất cả mọi người.
Chẳng ai ngạc nhiên khi nghe thấy rằng Blair nói dối về
vũ khí khủng khiếp của Hunsein, hoặc rằng Đức đã nói
dối về cuộc tấn công của Ba Lan vào đài phát thanh ở
Gliwice. Ở đây chẳng cần đến triết học lẫn xã hội
học. Những thứ ấy chỉ làm tôi mất thời gian. Tôi
quan tâm đến những lò xo ẩn quyết định số phận của
những con người bình thường – như anh và tôi.
Ông
tin là có „những lò xo ẩn của số phận”?
Có
những quá trình vĩ đại mà chúng ta tiếp nhận như những
đòn đánh hay bản án của số phận, mặc dù về bản
chất chúng là hậu quả hành động có ý thức ít hay
nhiều của ai đó. Có những sự kiện có vẻ như bất
ngờ hay bất khả kháng, nhưng lại xuât phát từ chuỗi
quyết định của con người, từ hệ thống các mối liên
kết mà chúng ta có thể có ảnh hưởng nếu biết tự ý
thức.
Những
âm mưu lớn nào đó?
Những
tham vọng thầm kín thì đúng hơn, chúng vẫn luôn hiên
hữu nhưng ngày nay chúng đặc biệt phức tạp và khó
tránh khỏi bởi có tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau
hiển nhiên của các vận mệnh toàn cầu. Chuyện một tia
sét từ trời quang đánh trúng đầu người công nhân đang
làm việc trong nhà máy ở Leeds hay ở Warszawa có thể là
hậu quả của điều gì đó xảy ra ở Singapore hay New
York. Người công nhân chẳng biết gì về điều ấy và
cũng chẳng có chút ảnh hưởng nào đối với nó. Hơn
nữa – thậm chí Gordon Brown (bộ trưởng tài chính Anh),
tổng thống Pháp, thủ tướng Đức hay thủ tướng Ba Lan
cũng chẳng có ảnh hưởng gì.
Điều
này chưa có gì chung lắm với sự dối trá.
Nhưng
sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu khiến nguyên nhân của
vị thế chúng ta thoát khỏi các quan sát của con người.
Điều này mở ra một không gian chưa từng thấy trong lịch
sử cho những sự dối trá và thao túng vĩ đại. Trước
kia không có ngần ấy chỗ cho dối trá, bởi vì các mối
nguy hiểm và cách bảo vệ trước chúng được hình thành
trong mối liên hệ hiển nhiên. Nếu có bệnh dịch thì
cần phải đóng cửa không cho người lạ vào. Nếu có lũ
lụt thì phải leo lên ngọn đồi khô ráo. Ngày nay chúng
ta không hiểu được mối liên hệ giữa các hiểm nguy và
hành động của chúng ta. Ta được biết về chúng từ
những người thông thái viết trên báo chí. Ô nhiễm
không khí, hành tinh nóng lên, lỗ thủng tầng ô zôn,
nguồn gốc của tình hình kinh tế, nguyên nhân khủng bố,
lý do thất nghiệp – đó không phải là những hiện
tượng có thể nắm bắt được bằng các giác quan tự
nhiên. Các chuyên gia nói cho chúng ta nghe về chúng. Nếu
các chuyên gia không nói, chúng ta không biết mình đang
đứng trước nguy hiểm. Hơn thế nữa – vì chúng ta phải
dựa vào ý kiến của các chuyên gia để đánh giá tình
hình và một người bình thường không có cách gì kiểm
soát họ, người ta có thể nói dối chúng ta thoải mái.
Các chuyên gia có thể nói với chúng ta rằng khí nhà kính
không có hại, rằng thuyết đơn phương tốt hơn việc
xây dựng cộng đồng quốc tế, rằng đó là con đường
đúng đắn duy nhất đưa đến phát triển, rằng sô cô
la hay rượu kéo dài tuổi thọ hoặc ngược lại.
Và
theo ông là không có cách gì xác minh điều đó.
Không
có! Thực tế ai cũng có thể ngang nhiên nói dối chúng
ta. Trước kia ai cũng rõ là các chính trị gia nói dối,
bởi thế người ta tìm sự thật ở các chuyên gia, những
người có thẩm quyền, các trí thức, những nhà thông
thái. Ngày nay các chuyên gia, trí thức, những nhà thông
thái nói dối cũng ngang nhiên và nhẹ nhàng như các chính
trị gia mỗi lúc một nhiều hơn. Bởi vậy khi chúng ta
nghe thấy theo các nghiên cứu gần nhất một thứ men nào
đấy có trong thức ăn kéo dài hoặc rút ngắn tuổi thọ,
thì mọi người lập tức hỏi ngay: „Ai tài trợ cho
nghiên cứu này?”. Ngày càng phổ biến ý kiến cho rằng
nếu nghiên cứu được tập đoàn sản xuất thuốc lá
đặt hàng thì kết quả sẽ là thuốc lá tốt cho sức
khỏe. Chắc hẳn chẳng còn luận điểm nào vô lý đến
mức không thể đánh đổ nó bằng kết quả các nghiên
cứu tiến hành trong các trung tâm được công nhận.
Nhưng
có thể đánh đổ nó bằng các nghiên cứu khác.
Chính
thế! Có thể đánh đổ hoặc chứng minh luận điểm đúng
đắn nhất hay ngu ngốc nhất dễ dàng như nhau! Và chúng
ta được gì? Khi tra từ khóa „sự dối trá” ở Google
tiếng Ba Lan, tôi tìm thấy trong vòng hai phần mười giây
hơn 10400 tài liệu. Con người có thể làm gì với điều
này? Còn với từ khóa „sự an toàn” gần đây tôi nhận
được địa chỉ tới 17 triệu tài liệu. Tôi có nhờ
vậy mà thông thái hơn không? Paul Virilio viết về „quả
bom thông tin” mà theo ông còn nguy hiểm đối với sự
tồn tại của loài người hơn cả bom nguyên tử, bởi nó
ngăn cản việc hiểu được những gì đang xảy ra.
Và
việc đưa ra những quyết định hợp lý.
Việc
phán đoán đã trở nên bất khả rồi, nói gì đến quyết
định hợp lý!
Do
đó ngày nay sự dối trá căn bản đầu tiên là luận
điểm rằng chúng ta có thể phân biệt dối trá và sự
thật?
Chúng
ta không biết phân biệt và ngày càng không biết. Đó là
siêu dối trá của tư duy duy lý đương đại, vô sở bất
tại và đang ngày một hùng mạnh. Chúng ta biết phân biệt
dối trá và sự thật ư?
Nhưng
đó chưa phải là một trong những điều dối trá vĩ đại
đương thời „bao che trách nhiệm về bất hạnh của con
người.”
Đó
là điều dối trá mở ra khả năng gói ghém giả dối
tránh nhiệm vào bất cứ cái hộp nào.
Ví
dụ?
Ví
dụ sự an toàn.
Nghĩa
là?
Ở
đây có lẽ tôi đã tháo dỡ ra được điều gì đó,
nhưng tôi đề nghị kiên nhẫn một chút. Anh có nhớ lý
thuyết của Bahtin nói rằng bản chất của quyền lực là
dựa trên nỗi sợ không? Trước hết là nỗi sợ vũ trụ
mà hầu như mỗi người đều cảm thấy từ thủa lọt
lòng. Mỗi khi nghĩ đến vũ trụ, nhìn những cơn sóng
lớn, những vực sâu, những ngọn núi ngất trời, chúng
ta cảm thấy sự nhỏ bé, mong manh, bất lực của mình.
Đó là nỗi sợ tự nhiên mà từ đó tôn giáo, văn hóa,
triết học lấy được sức mạnh. Nỗi sợ thứ hai là
nỗi sợ chính quyền. Sức mạnh của quyền lực chính
trị dựa vào đó. Nỗi sợ chính quyền có thể được
tạo ra. Để đạt đến sức mạnh của nỗi sợ vũ trụ,
quyền lực chính trị phải được cắt đo theo cỡ quyền
lực của Thượng đế. Nó phải có quyền năng rộng
khắp, vô sở bất tại và bất khả thấu. Đó phải là
quyền lực tầm cỡ của cả Kinh Thánh và Sách Job gộp
lại. Bởi Job rốt cuộc đã cảm nhận được, điều đó
có nghĩa là Thượng đế không chỉ tạo ra, mà còn thay
đổi luật lệ theo ý mình, vì vậy không có sự tuân
phục luật lệ Thượng đế nào bảo đảm an toàn cho
chúng ta trên trần thế. Leszek Kołakowski đã đào sâu vấn
đề này thật tuyệt vời. Và trước đó Carl Schmidt đã
viết: „quyền lực thực sự tự chủ phụ thuộc vào
sức mạnh thực hiện các ngoại lệ”. Sư phụ trong lãnh
vực này là Stalin, người đã khủng bố được toàn thể
xã hội, tới mức thậm chí những người phục tùng nhất
cũng không chắc chắn được về ngày mai, bởi vậy họ
biết ơn hắn chỉ bởi hắn không tống họ vào nhóm
những kẻ nổi loạn. „Stalin yêu dấu chăm lo cho người
lương thiện – Người đã không đày tôi đi Siberia”.
Nhưng
cái đó liên quan như thế nào đến thế giới ngày nay?
Vâng,
mỗi chính quyền, bao gồm cả chính quyền ngày nay, để
thực hiện vai trò của mình, cần tính chính danh gieo rắc
trên nỗi sợ. Đó không thể là nỗi sợ vũ trụ như
trong thời ai Cập cổ đại – bởi chính quyền của
chúng ta là thế tục. Nhất thiết cần có nỗi sợ chính
quyền. Chính quyền đứng trước công dân phải có thể
nói với anh ta: „Chính chúng tôi bảo vệ anh trước các
hiểm nguy đang rình rập. Chỉ có việc tuân phục các
luật lệ do chính quyền đặt ra cho cộng đồng chúng ta
mới khiến anh được an toàn!” Nhưng chính quyền ấy
ngày nay phải bảo vệ chúng ta trước điều gì? Trước
kia các hiểm nguy của thế giới rất hiện thực. Các
hiểm nguy là thiên tai, súc vật, kẻ lạ. Chính quyền
phải bảo vệ nhân dân trước những điều này. Sau đó
là các chu trình kinh thế, khủng hoảng, thất nghiệp. Từ
thời Bismarck nhà nước nhận phần bảo vệ trước những
hiểm nguy khác nữa, sau thế chiến II nó mang hình thức
nhà nước xã hội đảm bảo cho mọi người điều kiện
sống tối thiểu và bảo hiểm cho cá nhân trong các trường
hợp bất hạnh – ốm đau, thất nghiệp, tàn tật, nghèo
đói và tuổi già. Các nhà nước của thế kỷ hai mươi
theo một nghĩa chính trị nào đó là các hợp đồng bảo
hiểm. Mô hình này đang kết thúc. Nhà nước đương đại
đã không còn biết bảo hiểm cho các công dân của mình
trước các bất hạnh cá nhân. Không có cả nguồn lực
lẫn ý muốn làm điều đó. Nó đẩy trách nhiệm này cho
các lực thị trường và sự khôn ngoan của cá nhân. Ai
không xoay xở được sẽ trở thành „người bỏ đi”.
Thế giới đương đại là thế giới của „bản kiểm
kê thiếu”. Thứ gì không sử dụng được hoặc đã bị
chán sẽ bị vứt bỏ. Trước tiên những thứ bị vất
vào sọt rác mỗi lúc một nhiều hơn. Giờ đây cả con
người, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các châu
lục cũng bị vứt vào sọt rác. Châu Phi trở thành „rác
thải của toàn cầu hóa”. Khi ngọn gió chính trị hay
kinh tế thay đổi, gần như mỗi người chúng ta đều có
thể ngày một ngày hai trở thành rác. Và càng lúc càng
khó tin được việc ai đó bảo vệ chúng ta trước điều
đó. Nhất là nhà nước. Rủi ro cuộc sống đã bị tư
nhân hóa và cá thể hóa.
Nhưng
sự dối trá nằm ở đâu?
Tôi
đang tiến đến nó, nhưng ở đây bắt đầu có các bậc
thang. Bởi chính quyền, để có tính chính danh, để biện
minh cho đòi hỏi phục tùng, phải là lá chắn duy nhất
trước các nguy hiểm đe dọa công dân và là người dẫn
đường đến thế giới an toàn. Chính quyền đương đại,
vẫn mang tính địa phương như thời xưa, nhưng hoạt động
trong thế giới toàn cầu hóa, đã không thể và không
muốn bảo vệ chúng ta trước những đỏng đảnh của
thị trường, trước số phận bất hạnh, trước rủi ro
bệnh tật. Có sự cám dỗ - và do đó tồn tại khả năng
- chuyển chức năng bảo vệ trước nỗi sợ mà nhân danh
nó chính quyền đòi hỏi chúng ta phục tùng từ phạm vi
này sang phạm vi khác.
Sang
phạm vi nào?
Ở
đây tôi có chút khó khăn về ngôn ngữ. Để chỉ việc
không có các nguy cơ trong tiếng Ba Lan chỉ có một từ -
an toàn. Tiếng Anh có hai từ: security và safety. Security
liên quan đến các mối liên hệ xã hội – thứ ở Ba
Lan gọi là an toàn xã hội – như thu nhập ổn định,
thoát nghèo, có nhà ở, hy vọng vào tuổi già yên ổn.
Còn safety liên quan chủ yếu đến sự bảo toàn cơ thể
– sự chắc chắn là tôi không bị ai đầu độc bằng
thức ăn hay nước uống, không bị ai trộm hay cướp,
không bị ai bắn, không bị ai bắt cóc mất con, không bị
đặt bom... Chính quyền đương đại ngày càng hướng sự
chú ý của nhân dân theo hướng này nhiều hơn. Không thể
hứa hẹn cho nhân dân security và một xã hội nơi họ có
thể cảm thấy secure, chính quyền càng ngày càng nói
nhiều hơn về các hiểm họa safety. Họ muốn lấy được
lòng biết ơn của chúng ta, khi không có bom nổ, khi ta
không bị bọn côn đồ đánh, hay khi ăn mày bị quét sạch
khỏi đường phố. Báo động vàng. Báo động da cam. Báo
động đỏ. Phù, thành công rồi, cuộc tấn công đã bị
vô hiệu hóa! Càng ít security, càng nhiều hưng phấn và
ồn ào quanh safety. Có thể bằng cách này làm nhân dân
nhầm lẫn, mất cảnh giác, hướng sự chú ý của chúng
ta khỏi những bê bối và bất lực của chính quyền.
Điều
này có thể được khẳng định trong các so sánh quốc
tế. Cuộc chiến với khủng bố nóng bỏng nhất ở những
nơi nhà nước ít quan tâm nhất đến phạm vi security hoặc
từ bỏ chúng một cách đột ngột nhất – Mỹ, Anh, Ba
Lan. Những nước không có gì đặc biệt xảy ra với
security thì cuộc chiến này có vẻ nhẹ nhàng hơn.
Nhưng
điều này không chỉ liên quan đến cuộc chiến với
khủng bố. Trong các phạm vi khác của safety mức độ
căng thẳng cũng phân bố tương tự. Càng ít security, thì
cuộc chiến với khói thuốc lá, với việc vượt tốc độ
trên đường bộ, với bạo hành gia đình và các thể
loại côn đồ... càng ồn ào. Ở Mỹ ám ảnh chống thuốc
lá bắt đầu cùng với chủ nghĩa tân tự do và lớn lên
cùng nó. Ở Đức chính quyền bắt đầu nói về việc
lái xe vượt tốc độ trên đường cao tốc khi nhà nước
xã hội bắt đầu bị cắt giảm. Chắc không phải ngẫu
nhiên mà ở châu Âu luật cấm hoàn toàn việc hút thuốc
lá trong nhà do chính Ireland đưa ra,nước có chỉ số cạnh
tranh cao nhất – nghĩa là, nói cách khác, ít safety nhất,
các rủi ro cuộc sống rõ ràng nhất và nhà nước ít
mang tính phúc lợi nhất.
Ông
có cảm giác là bằng cách đó, chính quyền đánh lạc
hướng sự chú ý của người dân khỏi những cuộc cải
cách đau đớn?
Tôi
không biết chứng minh điều này. Nhưng tôi nhìn thấy sự
đồng thời rất rõ ràng. Và tôi cũng thấy những người
bị tước mất security dễ dàng đồng ý với các hạn
chế được biện minh bằng nhu cầu bảo vệ safety cho họ
hơn. Tôi đã quan sát phản ứng của hàng nghìn người
lang thang ở sân bay London khi các chuyến bay đi Mỹ bị
hoãn vì có báo động khủng bố. Không có ai chửi bới,
mọi người ngoan ngoãn chờ đợi. Họ nói về cái chính
quyền đã hoãn các chuyến bay với sự ngưỡng mộ và
lòng biết ơn. Người ta mất kỳ nghỉ hay công chuyện ở
Mỹ cũng chẳng sao. Mọi người đều hạnh phúc vì chính
quyền đã lo lắng cho họ. „Nếu chúng ta ngồi cùng máy
bay với bọn khủng bố thì sẽ ra sao? Nghĩ đến cũng đã
thấy sợ rồi!”. Thực kiện là chẳng có tên khủng bố
nào bị bắt và không có dấu vết đáng tin nào được
đưa ra về việc ai đó có thể bị nguy hiểm không khiến
cho lòng biết ơn của công dân giảm xuống.
Nhưng
sự dối trá ở đâu?
Tôi
không biết có sự dối trá không. Nhưng tôi biết là có
một không gian mới cho dối trá và lừa mị (manipulation)
dân chúng. Tôi không biết bọn khủng bố có thực sự có
kế hoạch gì không. Nhưng tôi biết rằng nếu chính quyền
tự nghĩ ra báo động đó, như Stalin luôn liên tiếp nghĩ
ra những âm mưu gây tranh cãi, thì chính quyền sẽ có
được lòng biết ơn của mọi người mà gần như không
tốn chút hơi sức nào. Không thể kiểm tra được điều
này trên thực tế. Rủi ro ở đây khác với các hiểm
nguy khác, bởi nó không nhìn thấy được, khó đo đếm
và không được xác minh.
Có
thể dễ dàng khẳng định có vụ nổ nào không hay những
người về hưu có được tăng lương hưu hay không. Nhưng
rất khó đánh giá có rủi ro thực tế về việc bom nổ
hay không. Chắc luôn có rủi ro nào đó.
Xét
từ số báo động giả và từ nhưng dối trá chính trị
bị đưa ra ánh sáng, có thể giả định là ở đây chúng
ta có vấn đề.
Nhưng
có lẽ ông cũng tin là có khủng bố chứ?
Tôi
tin là có và tôi tin chính quyền chiến đấu với khủng
bố, nhưng tôi cảm thấy họ lạm dụng - có thể là một
cách có ý thức – nỗi sợ mà khủng bố gây ra để xóa
đi các khía cạnh ít vẻ vang hơn trong hoạt động của
họ. Những cái xe tăng bao vây sân bay London có phải là
để chiến đấu với khủng bố? Hay nhiều hơn là để
tăng cảm giác bị đe dọa và cảm giác biết ơn của
công dân đối với chính quyền đang bảo vệ họ và nhờ
nó mà họ giữ được mạng sống? Anh có tưởng tượng
được việc dùng xe tăng để tìm một phụ nữ mang chất
nổ trong người và sẽ làm nổ máy bay không? Trong cuộc
chiến với không tặc xe tăng ít hiệu quả, nhưng chúng
gây ấn tượng mạnh với những người đang sợ hãi. „Họ
lo lắng cho chúng ta, chăm sóc chúng ta, bảo vệ chúng ta,
chúng ta mang ơn họ về mạng sống”.
Ông
cho rằng chính phủ và các cơ quan an ninh ở Mỹ, Anh, Ba
Lan hay Ý đã có những âm mưu để biến chúng ta thành
bầy người sợ hãi, mất phương hướng, dễ bị lừa mị
và mất tự chủ?
Tôi
nói về sự bất khả thấu nguyên nhân của các mối đe
dọa safety, về sự khó khăn ngày càng lớn trong việc
điều tra sự thật, về phạm vi ngày một rộng hơn của
việc sử dụng sự dối trá. Trong gương mặt khủng hoảng
tính chính danh của chính quyền xuất phát từ những quá
trình toàn cầu hóa, phải chăng nhà nước có khuynh hướng
tạo ra cảm giác bị đe dọa trong phạm vi nó cảm thấy
hơi chắc chắn hơn và có thể cho thấy nó làm được
nhiều hơn?
Nếu
nó có (khuynh hướng ấy) thì sao?
Đây
là câu hỏi căn bản cho nhà xã hội học. Thế giới thay
đổi ra sao khi mọi người không còn hy vọng vào security
và chỉ chú ý tới safety? Họ sẽ sống ra sao, nếu sự
chú ý của họ chỉ tập trung vào việc mua sắm lên đời
các hệ thống báo động, cửa sắt, khóa, áo chống đạn,
mặt nạ khí và có trời mới biết được gì nữa...
Hiển nhiên là dẫu có cả đám hỗn độn ấy thì nguồn
gốc của những bất an và căng thẳng vẫn còn nguyên
không được động chạm đến. Ngược lại, một cơ chế
tự thúc mình được khởi động – càng nhiều sợ hãi,
mớ hỗn độn quanh các hệ thống báo động, cửa, khóa
càng lớn. Mớ hỗn độn càng lớn, nỗi sợ hãi càng
mạnh. Nỗi sợ không được xoa dịu sẽ tìm nguồn và sẽ
cần đến mỗi lúc một nhiều hơn các đối tượng khác
nơi nó có thể giải tỏa. Ở đây hiệu quả phụ nguy
hiểm sẽ là những căng thẳng giữa các sắc dân hay giữa
các nền văn hóa. Trong xã hội đa sắc tộc của phương
Tây ngày nay điều này có nghĩa là sự xói mòn lòng tin
và thống nhất xã hội. Ở đây đã không còn là chuyện
đùa nữa. Chúng ta đi đến tâm điểm của bản sắc xã
hội, của nền dân chủ và cấu trúc chính trị chính là
dựa vào lòng tin và sự thống nhất xã hội. Và kết quả
cuối cùng là người ta làm quá ít để chuẩn bị cho
chúng ta bước vào cuộc sống trên hành tinh toàn cầu hóa
và chung sống an toàn.
Đây
là điều ông nghĩ đến khi nói về việc „lột trần
những dối trá bao che trách nhiệm về bất hạnh của con
người”?
Đây
chỉ là một trong số các ví dụ.
Thế
các ví dụ khác?
Anh
hãy lấy ví dụ cách tính tổng sản phẩm nội địa, tức
là GDP. GDP luôn luôn tăng, nhưng sao người ta có vẻ không
cảm thấy cuộc sống tốt hơn nhiều? Vì sao?
Vì
sự tăng trưởng nhắm vào vài phần trăm những người
tự cường nhất vốn vẫn là những người giàu nhất?
Đó
là một nguyên nhân. Nhưng bản thân tăng trưởng GDP thực
chất là một siêu dối trá toàn cầu, nếu người ta xem
nó là thước đo cho sự phồn vinh của con người. Bởi
vì GDP ghi nhận lượng tiền qua tay trong phạm vi một nền
kinh tế nào đó. Nhưng nó không xem xét tới một khu vực
rộng lớn của kinh tế đạo đức, kinh tế gia đình,
láng giềng, môi trường. Khi ngồi một mình trong nhà ăn
hay quán bar và nuốt đồ ăn nhanh, thì tôi chẳng thấy dễ
chịu gì cho lắm, nhưng tôi thực hiện một nghĩa vụ xã
hội nào đó, bởi hóa đơn tôi sẽ trả được tính vào
thành phần của GDP và làm cho chỉ số tăng trưởng kinh
tế lớn hơn. Nhưng khi vợ tôi nấu cho tôi bữa trưa và
chúng tôi ăn cùng con cái, thì điều đó có thể sẽ dễ
chịu, lành mạnh hơn đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi
sẽ cư xử phi xã hội và phi kinh tế, vì GDP không ghi
nhận điều đó. Khi gia đình tan rã và cả nhà đều chui
ra quán hay các bar ăn nhanh, chắc hẳn hạnh phúc và cả
nhân tính của chúng tôi cũng bớt đi, nhưng GDP lại tăng.
Khi ông hàng xóm giúp tôi cắt cỏ, còn tôi giúp ông ấy
sửa giàn hoa, cả hai chúng tôi đều được hưởng lợi
gấp đôi – vì công việc được hoàn tất và nhân thể,
chúng tôi cảm thấy dễ chịu hơn trong khu vực của mình.
Nhưng GDP sẽ thiệt hại vì điều này, vì mỗi người
chúng tôi đều có thể thuê thợ và hóa đơn sẽ được
thống kê, đánh thuế. Tương tự, khi tuổi cao sức yếu,
tôi sẽ dễ chịu nếu được con gái chăm sóc, hơn là
phải đến cái trại nào đó chờ chết. Nhưng sự chăm
sóc lấy tiền được GDP ưu ái hơn, còn sự chăm sóc từ
trái tim theo góc nhìn thống kê kinh tế là công việc vô
giá trị.
Đồng
ý, có thể dễ dàng tưởng tượng mô hình phát triển
kinh tế dựa trên phát triển dịch vụ, nơi người ta làm
việc và thu nhập mỗi lúc một nhiều hơn khi cung cấp
dịch vụ lẫn nhau, nhưng đồng thời tất cả mọi người
đều tốn tiền và mất chất lượng sống, bởi một mặt
họ chi tiêu mỗi lúc một nhiều hơn, nhưng mặt khác lại
bị mất đi những niềm vui giản dị, những mối liên hệ
tình cảm tích cực với người khác thay cho những liên
hệ kinh tế lạnh lùng. Nhưng đó có phải là dối trá
không?
Đó
là sự dối trá nguy hiểm. Thực chất người ta đo cái
điều biểu hiện sự xói mòn xã hội và tan rã gia đình,
nhưng chúng ta trưng ra như là thành công kinh tế hay thành
công về văn minh! Điều có thật và đau đớn, được
cảm nhận rộng rãi là mất mát, lại được kinh tế thị
trường trình bày như lợi ích. Người ta gói ghém nỗi
bất hạnh của sự tan rã các mối liên kết giữa người
với người hay những phiền phức thông thường trong sự
dối trá dựa trên trao đổi thương mại của tăng trưởng
kinh tế. Ai cũng muốn làm việc cách nhà 500m, đi bộ đi
làm, về nhà ăn trưa, sau giờ làm chăm vườn cùng lũ trẻ
và cùng nấu bữa tối. Nhưng từ góc nhìn GDP thì sẽ tốt
hơn nếu anh làm việc cách nhà 50 km. Khi đó anh tốn khối
tiền và thời gian để đi làm. Tất nhiên anh sẽ ăn
quán. Anh đặt pizza cho bữa tối, trẻ con do cô giúp việc
trông, vườn thuê thợ làm vườn. Thêm vào đó, anh sẵn
lòng làm thêm ngoài giờ hay một công việc thứ hai, vì
lúc nào anh cũng thiếu tiền cho mọi thứ. Có thể trên
danh nghĩa anh giàu hơn rất nhiều, nhưng thực tế lại
nghèo và bất hạnh hơn. Chính phủ khoác lác bằng tăng
trưởng GDP, nhưng không nói tăng trưởng GDP làm tăng chất
lượng cuộc sống ở mức độ nào, và hủy hoại chất
lượng cuộc sống ở mức độ nào. Khi mọi nhu cầu và
khao khát của chúng ta - từ ăn uống đến tình dục - đều
được thị trường thỏa mãn và khi toàn bộ cuộc sống
chúng ta được quy về việc thu chi tiền, chúng ta trở
thành những sinh vật bất hạnh nhất, cô đơn nhất và
vô nghĩa lý nhất trên trái đất. Tất nhiên chúng ta có
thể thương mại hóa toàn bộ phạm vi cuộc sống vốn
dựa vào các mối quan hệ đạo đức, vào cộng đồng,
sự tự lập, nhưng cuộc sống khi đó trông sẽ ra sao?
Ông
tự nghĩ ra điều đó, hay ông đọc ở đâu?
Khó
có thể đọc được điều này ở đâu. Ban đầu tôi cảm
thấy nó. Sau đó tôi đã tìm tòi rất lâu. Phê phán
truyền thống đối với chủ nghĩa tư bản tua-bin
(turbocapitalism) dựa vào việc vạch trần sự leo thang
những thèm khát bị thúc đẩy bởi các chiêu tiếp thị
ngày càng tinh vi và các quảng cáo ngày càng quyền lực.
Sự dối trá này đã được biết đến từ lâu. Kinh tế
đương đại ngày càng dựa nhiều hơn vào việc nghĩ ra
một sản phẩm mới (hoặc bề ngoài là mới), sau đó nhờ
vào tuyên truyền mạnh mẽ để đánh thức những ham muốn
mới, nhồi vào đầu mọi người ý nghĩ là thiếu những
sản phẩm ấy họ sẽ không hạnh phúc. Truyền thông sống
bằng quảng cáo không thể không tham gia vào siêu dối trá
của nền văn minh tiêu dùng. Sự dối trá này từ vài
chục năm nay đã đẩy chúng ta vào nỗi bất hạnh mỗi
lúc một lớn hơn của những ham muốn không được thỏa
mãn, được khơi dậy một cách giả tạo. Nhưng sự dối
trá tồi tệ nhất của nền kinh tế dựa trên quảng cáo
là việc toàn bộ viễn cảnh về cuộc sống và ý nghĩa
tồn tại trong sự tuyên truyền này bị giới hạn vào
thứ dầu gội đầu mới, thứ bột làm thạch hay cái xe
mới.
Sự
dối trá này không chỉ „bao che sự bất hạnh”, mà đơn
giản là tạo ra nó.
Nó
tạo ra đồng thời bao che. Nguồn cơn của bất hạnh là
sự leo thang ham muốn vượt quá khả năng thỏa mãn chúng.
Nền kinh tế dựa vào tiêu dùng sẽ sụp đổ theo cách
khác. Vỏ bọc do quảng cáo tạo ra nằm ở ảo giác rằng
có thể thỏa mãn ham muốn. Song sự thật là trong xã hội
tiêu dùng cơ hội để thỏa mãn chúng rất thấp. Người
ta đổ nhiều tiền bạc và công sức nhất vào việc đánh
thức ham muốn, chứ không phải vào việc thỏa mãn chúng.
Để thỏa mãn những ham muốn bịa đặt bị khơi dậy
một cách giả tạo chúng ta làm việc cật lực, hành hạ
người thân, hủy hoại những phạm vi sống phi thị
trường (không có ý nghĩa kinh tế) của chúng ta. Cuộc
đuổi bắt này không bao giờ chấm dứt. Không có vạch
đích trên đường đua tiêu dùng. Khi anh làm việc cật
lực và rốt cuộc bỏ ra được đủ tiền mua nhà hay xe
hơi, những thứ sẽ phải mang lại hạnh phúc cho gia đình
anh, ngay sau đó anh sẽ nhận được quảng cáo xe hơi từ
chính hãng ấy, cái xe sẽ mang lại nhiều hạnh phúc hơn
nữa, hoặc quảng cáo nhà nơi sẽ có nhiều tình yêu và
hơi ấm gia đình hơn. „Hãy mua đi, rồi bạn sẽ hạnh
phúc”. Những sự dối trá vĩ đại của xã hội tiêu
dùng nằm ở chỗ những lời hứa mang đến kết quả
mong muốn phải bị vi phạm hàng ngày. Trong hệ thống
tiêu dùng chúng ta như Syzyf hay đúng hơn như con lừa đuổi
theo củ cà rốt ở đầu gậy, hoặc như con chuột trong
vòng quay. Anh vừa mới mua xong một thứ đồ phải mang
lại hạnh phúc cho anh và gia đình thì đã được biết
không phải là nó, rằng nguồn gốc của hạnh phúc là
thứ gì đó khác kia. Trong bóng đổ của những niềm hi
vọng tót vời che lấp mọi thứ, mỗi lúc một mới hơn,
đống đồ vừa mới bóc tem mà ta sẽ bỏ đi lớn dần
lên, bởi thực sự chúng chẳng cho ta hạnh phúc hoặc
không so sánh được với những sản phẩm tiềm năng khác
chưa được dùng thử.
Vậy
con người nên học được khá nhanh rằng đồ vật không
mang lại hạnh phúc.
Cái
khó ở đây là lý trí của chúng ta – sau khi bị đặt
dưới sự tẩy não vĩ đại và có hệ thống bằng quảng
cáo – từ lâu đã không còn lành mạnh nữa. Theo nguyên
tắc của Goebbels sự dối trá của chủ nghĩa tiêu dùng,
được lặp lại hàng triệu hay hàng tỉ lần, đã trở
thành sự thật được công nhận rộng rãi. Tiêu dùng hậu
hiện đại là thói quen xấu tuyệt đối gây nghiện. Nó
lây nhiễm y như nghiện ma túy hay nghiện tình dục. Nhìn
thấy một quảng cáo mới, người ta rơi vào trạng thái
hưng phấn không lành mạnh mà người ta không biết làm
chủ. Người ta cảm thấy bất ngờ hưng phấn khi kịp sở
hữu thứ gì đó. Nhưng ngay sau khi mua người ta trải
nghiệm sự thất vọng và sự tuột hứng đau đớn chỉ
có thể bị đẩy lùi bằng cách thỏa mãn những liều
ham muốn tiếp theo. Cũng như đa số thói quen xấu, liều
cần thiết để chiến thắng nỗi thất vọng không ngừng
tăng lên. Vậy là chúng ta ngày càng rơi vào bất hạnh và
sự cầm tù của ham muốn được gói ghém trong hình dung
sai lầm về hạnh phúc. Sự dối trá này thống trị những
ước mơ của con người và qua giấc mơ con người áp đảo
thế giới.
Nhưng
bằng cách nào, thưa giáo sư, sự dối trá bắt đầu
thống trị, còn sự thật thì người ta lại không nghe?
Ở
đây tôi sẽ viện đến Aristotles, người đã viết rằng
việc điều tra sự thật diễn ra ở chợ (agora), nghĩa là
ở phạm vi công cộng. Ở đó mối liên hệ giữa cái mà
ông gọi là oikos (nghĩa là việc riêng) và ecclesia (việc
chung) được thiết lập. Ở chợ, từ hàng thế kỷ, các
nhu cầu cá nhân bị chuyển thành các lợi ích xã hội,
còn các quyền lợi tập thể bị chuyển thành ngôn ngữ
của các quyền và nghĩa vụ cá nhân. Bằng cách đó, sự
thật được điều tra một cách diễn ngôn, người ta xác
định điều xã hội chấp nhận là sự miêu tả đúng
thực tại. Bây giờ không còn cái chợ như thế nữa.
Trong cái chợ ngày nay người ta chủ yếu kể về những
trải nghiệm cá nhân của mình. „Tôi đã làm được
điều đó”. „Họ đã không làm được điều đó.”
„Cái này dễ thương.” „Cái ấy đáng tiếc”. Diễn
ngôn khép lại trong tầm chân trời cá nhân. Nó xoay quanh
những gì con người có thể tự nhìn thấy hay trải
nghiệm. Những gì chúng ta có thể sờ, nếm, ngửi. Các
kinh nghiệm tập thể thiếu cái „nền vật chất” hay
cơ chế xã hội cho phép chúng kết tinh và mở đường
đến sự thật chung, khách quan, bên trên cá nhân.
Nhưng
vì sao lại thế, thưa giáo sư?
Ai
đó đã nói rất đúng rằng người tiêu dùng là kẻ thù
của công dân. Công dân quan tâm đến sự thật có giá
trị xã hội vượt lên trên cá thể, bởi anh ta tìm kiếm
sự viên mãn trong cộng đồng mà anh ta thuộc về, hay
cộng đồng mà anh ta muốn lập ra. Người tiêu dùng chỉ
quan tâm đến việc thỏa mãn các ham muốn cá nhân của
mình. Anh ta không nghĩ đến sự thật hay dối trá. Anh ta
chỉ sử dụng khía cạnh hữu dụng, dễ chịu, vui vẻ.
Trong thế giới của những người tiêu dùng mối giao tiếp
giữa ecclesie và oikos bị cắt đứt. Các nhân vật của
công chúng thậm chí bảo đảm với chúng ta rằng công
bằng là khái niệm rỗng được các nhà tư tưởng bịa
ra, rằng chỉ có quyền lợi cá nhân là hiện thực và
rằng – ngay cả nếu thuật ngữ „xã hội công bằng”
có nghĩa gì đó - thì chính là sự khuyến khích các quyền
lợi cá nhân. Nhưng nếu chỉ tồn tại các quyền lợi
thì chúng ta phải tìm sự thật như thế nào? Thứ luật
chung nào là khả dĩ trong thế giới người tiêu dùng? Tôi
không nói đến lời giải đáp triết học. Tôi là nhà xã
hội học và với tư cách một nhà xã hội học, tôi cảm
thấy bất an vì sự biến mất rõ rệt của các cơ chế
xã hội truy tầm sự thật.
Có
nghĩa là kỷ nguyên dối trá đang chờ đợi chúng ta?
Điều
này phụ thuộc vào mọi người, mà mọi người, đáng
tiếc, lại thờ ơ với sự thật.
Ở
Ba Lan người ta không tranh cãi về chuyện gì khác cả. Ai
nói dối? Ai nói dối hơn? Ai lừa đảo? Sự thật và dối
trá là chủ đề số 1.
Nhưng
sự thật nào? Những sự dối trá nào? Ngày nay chúng ta
đưa đạo dức chính trị vào đạo đức cá nhân của
các chính trị gia. Clinton là một ví dụ tốt. Khi ông phá
bỏ hệ thống an sinh xã hội được Roosevelt thành lập
và Johnson xây dựng, khi ông hủy bỏ các chương trình xã
hội liên bang và chuyển chúng cho các tiểu bang, khi các
bang bắt đầu cạnh tranh để cắt giảm trợ cấp, vì
mỗi tiểu bang đều muốn tránh làn sóng đói nghèo tràn
sang từ bang lân cận, người ta không đặt vấn đề đạo
đức đối với ông ta. Mà ông ta đã nghi ngờ nguyên tắc
đạo đức cơ bản rằng trách nhiệm của nhà nước là
chăm lo cho dân chúng. Nhưng khi ông nói dối về chuyện
ngoại tình với thực tập sinh, người ta đòi phải bãi
nhiệm ông vì lý do đạo đức. Người ta công nhận rằng
tổng thống đã vi phạm nguyên tắc luân lý.... Đây là
đặc trưng của tình hình mới. Sự dối trá hay vụ ngoại
tình hủy diệt chính trị gia. Nhưng vi phạm đạo đức
của đời sống xã hội thì có thể dễ dàng xoay xở.
Khi vấn đề sự thật được giản lược đến việc nói
thật dẫu là của những cá nhân tuyệt vời nhất, thì
sự thật về xã hội, về tình trạng và số phận của
cộng đồng biến mất khỏi tầm mắt. Nếu chính trị
gia nói dối, có thể lột mặt nạ anh ta và bãi nhiệm.
Có các công cụ để làm việc đó. Công tố viên, tòa
án, các nhà báo tò mò hay các ủy ban điều tra. Nhưng khi
những sự thật của chung sống xã hội bị dối trá,
người ta chủ yếu im lặng. Bởi các sự thật định
đoạt số phận chung của chúng ta không thể được xác
định bởi các công tố viên, các quan tòa và các ủy ban
điều tra. Việc xác định chúng đòi hỏi phải có agora.
Mà agora đang biến mất.
Nghĩa
là lỗi lại ở sự tiêu dùng?
Chủ
nghĩa tiêu thụ – một phần. Nhưng không chỉ có mình
nó. Sự tràn ngập thông tin cũng có thể tạo điều kiện
cho dối trá áp đảo. Truyền thông đương đại cũng vậy.
Kỹ thuật truyền đạt thông tin và kỹ thuật truy tầm
sự thật được chi phối bởi các lô gíc khác nhau. Nguồn
thông tin phổ biến nhất hiện nay là truyền hình về bản
chất không thể gây sự chú ý của người xem trong khoảng
thời gian cần thiết để đưa ra căn bản của luận
điểm. Trong cuộc tranh luận trên truyền hình, cùng lắm
chỉ có thể làm người đối thoại điếc tai và tương
vào anh ta (và vào khán giả) những lời châm chích ngắn
ngủi. Mà truy tầm sự thật thì cần tập trung và gắng
sức. Chẳng bao giờ đến được với sự thật bằng
những tiếng la hét hay những lời châm chích. Khi cuộc
tranh luận dẫn đến trận khẩu chiến bằng những lời
châm chích, việc phân biệt sự thật và dối trá là bất
khả.
Nhất
định phải thế, hay đó chỉ là một giai đoạn lịch sử
thôi?
Tôi
không bao giờ chấp nhận là tình hình phải như nó đang
là. Nếu chúng ta phản kháng, nếu chúng ta trò chuyện vài
giờ – như chúng ta đang làm, chứ không phải vài phút,
thì sự thật sẽ khá hơn. Thông tin đưa ra càng quá liều
và càng nông thì càng ít có cơ hội cho một cuộc tranh
luận nghiêm túc, chúng ta càng có nhiều khả năng bị
chìm trong dối trá. Chúng ta đứng trước lựa chọn –
và chúng ta sẽ ra sao cũng phụ thuộc vào chúng ta.
Ông
muốn thay đổi số phận của thế giới bằng lời nói?
Anh
biết không, người ta từng hỏi Cornelius Castoriadis: „Ông
muốn thay đổi thế giới à?”. Và ông trả lời: „Xin
Chúa che chở cho tôi! Tôi chỉ muốn thế giới tự thay
đổi. Như nó đã từng làm thế trong lịch sử của
mình”.
Subscribe to:
Posts (Atom)




















