Showing posts with label Ba Lan. Show all posts
Showing posts with label Ba Lan. Show all posts

Friday, 29 August 2014

Bạn có phải là một người tốt?

Janina Ochojska ở Sudan

Phỏng vấn bà Janina Ochojska – nhà hoạt động từ thiện Ba Lan nổi tiếng, chủ tịch và nhà sáng lập tổ chức thiện nguyện phi chính phủ „Hoạt động Nhân đạo Ba Lan”. Bài phỏng vấn do Grzegorz Sroczyński thực hiện, đăng trên Gazeta Wyborcza - nhật báo lớn nhất Ba Lan số ra ngày 08.08.2014. Thái Linh trích dịch. Một phần của bản dịch đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 31 ra ngày 17.08.2014.


Grzegorz Sroczyński: Có nên cho tiền những người ăn xin không?

Janina Ochojska: Không cho.

Thế nếu là một đứa trẻ ăn xin thì sao?

Cũng không cho. Đứa trẻ bị lợi dụng để làm anh cảm động và để moi tiền anh. Kẻ kiếm được tiền là người khác, cả một băng nhóm. Một người quen của tôi làm việc trong tu viện ở Kraków đã quan sát những người ăn xin trước tu viện, họ kiếm tiền rất khá. Một ngày có thể kiếm được 300 zloty1 và người ăn xin phải mua chỗ. Một bà mẹ ngồi với đứa con nhỏ, trông có vẻ nghèo rớt mồng tơi. Và chắc hẳn là họ nghèo thật. Nhưng có kẻ đã đặt họ ngồi vào chỗ ấy và thu tiền. Người quen tôi có lần nhìn thấy hắn sau khi thu tiền đã đi về bằng taxi.

Chúng ta ai cũng thích nghe những câu chuyện như vậy.

Câu chuyện này có thật.

Bằng cách này giới trung lưu Ba Lan rũ bỏ trách nhiệm của mình. „Toàn là những kẻ đểu cáng, họ muốn lừa tiền của chúng ta” - chúng ta lặp đi lặp lại điều đó và thờ ơ lướt qua những người ăn xin.

Tôi chơi thân với xơ Chmielewska2, bà có ý kiến khác: không cho tiền những người ăn xin. Một đứa trẻ buổi tối không mang tiền về sẽ bị đánh. Có thể như thế. Nhưng nếu tôi cho tiền, đứa trẻ cũng vẫn phải chịu hình phạt, bởi nó sẽ vẫn tiếp tục bị cho đi ăn xin.

Ném ra một đồng xu, anh không làm cho cuộc sống của họ thay đổi gì. Anh không giúp đỡ được họ. Hiệu quả duy nhất là anh vỗ về được một chút cho lương tâm của mình: ồ, tôi đã làm được một việc gì đó, tôi đã không thờ ơ đi ngang qua.

Lương tâm cũng quan trọng chứ.

Quan trọng là giúp đỡ, chứ không phải là giải quyết cho lương tâm yên ổn.

Bà nghĩ điều gì tốt hơn: khiến người ta vô cảm với những người ăn xin, lướt qua họ một cách thờ ơ, không cho gì hết hay đôi khi cho vài đồng xu lẻ?

Vậy thì tốt hơn là không cho gì hết.

Tôi thấy khó lòng đồng ý với điều này.

Những người thực sự thành đạt ở Ba Lan thường vô cảm với cái nghèo. Họ cho rằng thành công của họ duy nhất chỉ nhờ vào tài năng và họ không nợ ai điều gì hết. Một yếu tố của sự tự mãn này thường là quan điểm cho rằng nếu ai đó được đứng trên bục cao của cuộc đời thì chắc hẳn là do anh ta xứng đáng. „Không có cái nghèo, chỉ có những người lười nhác” - đó là phiên bản dân túy luận của các tầng lớp cao. Và lời khuyên tuyệt đối „không cho” của tôi có thể trở thành công cụ hữu hiệu cho họ, cũng như câu chuyện về những băng đảng ăn xin.

Chính thế.

Tôi không muốn gỡ bỏ trách nhiệm cho người Ba Lan, nhưng hãy để sự mẫn cảm của họ đơm hoa kết trái thành một điều gì đó sáng suốt hơn là cho tiền lẻ ngoài đường. Vài đồng xu? Anh mua sự yên ổn cho lương tâm mình với giá quá rẻ mạt! Anh sẽ ném ra những đồng xu lẻ suốt cuộc đời mình và tự dối mình rằng anh không thờ ơ với số phận của đồng loại. Tốt hơn là đừng cho, hãy để lương tâm nhạy cảm của anh đau khổ một chút và có thể rốt cuộc nó sẽ ra lệnh cho anh làm một điều gì đó nghiêm túc. Sự cắn rứt lương tâm có thể trở nên rất sáng tạo.

Một người bạn tôi từng hỏi một câu khó hơn: „Tôi dắt con trai đi trên phố, tôi muốn giáo dục cho nó về xã hội. Một người phụ nữ có bầu ngồi ăn xin. Tôi phải làm gì? Thờ ơ đi qua? Thế thì con tôi sẽ học điều đó. Cho tiền? Như thế cũng không tốt.” Bạn tôi cùng cả gia đình đã tham gia giúp đỡ những người tàn tật từ nhiều năm, anh muốn dạy con việc làm thiện nguyện. Và anh muốn cư xử thích hợp trong cả những tình huống trên đường phố như thế này, để không phô bày chứng tâm thần phân liệt về đạo đức.

Bà đã khuyên anh ấy thế nào?

Tôi khuyên anh dạy con trong những tình huống như thế này thay vì cho tiền phải biểu lộ sự quan tâm. Đó là phản ứng tốt nhất.

Sự quan tâm?

Hãy tiếp cận. „Mẹ của em ở đâu?” „Vì sao em đứng ngoài đường?” „Em từ đâu đến?”Tất nhiên sự tiếp cận này sẽ không dễ dàng, bởi người ăn xin có thể không muốn điều đó, sẽ làu bàu khó chịu. Có thể họ không biết tiếng Ba Lan, nếu đó là một gia đình người Di-gan từ Romania. Nhưng cần phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh của người đó. Sau đó nói với con: „Con à, có các nhà tế bần và những tổ chức khác nhau, khi về đến nhà chúng ta sẽ gọi cho họ ngay và cố gắng làm điều gì đó .” Ví dụ anh hãy tra trên mạng „quận Mokotów – nhà tế bần” hay „quận Mokotów – cứu trợ trẻ em”. Anh gọi điện cho họ: „Ở số 80 đường Độc Lập có một em bé ăn xin, các ông bà có giúp được không?” Hôm sau đứa trẻ cũng sẽ vẫn đứng đó mà.

Còn họ thì sẽ phân bua rằng họ không phải là tổ chức có thể giúp được, và không thể làm gì.

Rõ là như vậy. Đừng hy vọng rằng anh gọi điện và người ta sẽ cuống quýt lên: „Ôi ôi, ông thật cao cả khi gọi điện đến như vậy! Ôi, chúng tôi chạy ngay đến đó đây.” Đây chính là sự khác biệt giữa việc ném vài xu lẻ ngoài đường và sự chú tâm thực sự – cái thứ hai thường không dễ chịu và đòi hỏi sự kiên định. Nơi đầu tiên sẽ nói đó không phải là việc của họ. Nhưng có thể họ sẽ biết phải liên hệ chỗ nào và cho số điện thoại. Nếu không, thì anh tiếp tục tìm trên mạng. Anh cố gắng tìm được tổ chức thông thạo khu vực này và hứa sẽ kiềm tra tình hình đứa trẻ cùng gia đình nó. Vài ngày sau anh lại gọi điện xem họ có xác minh thêm được gì không. Và khi đó chính là lúc để rút ví. Các tổ chức như vậy – dù lớn hay nhỏ – rất nhiều và họ luôn có khó khăn về tài chính.

Ở Ba Lan các tổ chức xã hội không được tin tưởng.

Nếu anh hỏi một người bất kỳ xem anh ta có biết tổ chức nào có thể giúp đỡ trong quận hay trong thành phố của anh ta hay không, thì tôi dám cá rằng anh ta không thể nói được tên tổ chức nào cả. Người giàu thì lại càng không, vì anh ta sống trong khu khép kín. Người Ba Lan không biết về sự tồn tại của các định chế cứu trợ một cách đáng đau lòng. Những người bỗng dưng bất ngờ gặp khó khăn, họ làm gì? Họ gửi thư cho Owsiak, Dymna, Ojchowska3 và cho truyền hình. Đấy là tất cả những gì họ có thể nghĩ ra được. Một lần tôi đến xem chương trình của Elżieta Jaworowicz về một cô gái có nguy cơ bị đuổi ra đường. Những trường hợp như thế ngày một nhiều, vì tòa án bắt đầu phát quyết nhiều bản án vô tâm. Khắp nơi bừa bộn khủng khiếp, giẻ rách vung vãi. Tôi hỏi: „Cô không thể dọn dẹp đi một chút sao? Để thấy được có chút cố gắng từ phía cô”. Không. Cô ấy ĐỢI sự giúp đỡ của truyền hình. Nhân viên của tổ chức địa phương nói rằng cô ta không hề liên hệ với họ, mà họ có ngân sách cho những trường hợp như vậy.

Truyền hình thực ra gây hại, bởi nó có thể làm đình đám mọi sự cứu trợ bằng một phương pháp vô hạn định. Một người cần một nghìn để bơi tiếp bằng chính sức lực của mình, bỗng nhiên lại nhận được một trăm nghìn. Sau trận lụt năm 2001 truyền thông đưa công khai số tài khoản cá nhân của những người bị nạn, không ai kiểm soát tiền bạc. Chúng tôi cùng với báo Gazeta Wyborcza xây nhà cho những người bị lụt và có một cô nhận được thêm 250 nghìn trong tài khoản. Cô thường được lên ti vi, đúng là cô ấy rất khó khăn. Thế là cô ấy mua một cái xe oách, đi vòng quanh Ba Lan và chúng tôi không thể giao nhà mới cho cô ấy. Con cái chị cô ấy phải nuôi. Một sự trợ giúp thiếu kiểm soát như vậy có thể trở nên sai lầm, bởi không phải ai cũng cũng biết sử dụng nó một cách sáng suốt. Tôi cho rằng tốt hơn nên chuyển tiền cho một tổ chức địa phương, một định chế có tài khoản ngân hàng và có thể giám sát điều đó. Họ sẽ giúp ở mức vừa đủ và số tiền thừa ra để dành cho những người khác.

Tôi chẳng bao giờ cho ai cái gì, toàn là phường lừa đảo hết” - một người quen của tôi nói vậy.

Một người bất hạnh.

Cuộc phỏng vấn của chúng ta khẳng định thêm điều đó.

Nhưng xin lỗi, ai mới là người có lỗi về chuyện cứu trợ vô trách nhiệm? Về việc một số tổ chức lợi dụng? Tôi biết điều tôi nói đây sẽ khiến nhiều người nhảy đựng lên, nhưng vấn đề nằm ở những người cho! Nếu những người đóng góp muốn có bản quyết toán, quan tâm đến việc tiền của mình được sử dụng ra sao, thì các tình huống như vậy đã ít hơn. Một ông đến chỗ chúng tôi và cho một triệu zloty để xây giếng nước ở Sudan, nhưng chúng tôi ký hợp đồng đàng hoàng và trình cho ông ấy bản quyết toán đầy đủ.

Nếu anh cho tùy tiện thì người ta cũng chi tùy tiện. Nếu anh cho hợp lý thì tiền sẽ được chi hợp lý. Hợp lý nghĩa là gì? Điều này đòi hỏi nỗ lực, đi lại, kiểm tra, quan tâm. Sự chú tâm đến nó. Chứ không phải là giả vờ làm những cử chỉ cao đẹp, ném ra cả đống tiền bằng phản xạ của trái tim bởi đứa trẻ mồ côi khiến tôi xúc động. Chúng ta cho rằng bản thân việc cho tiền đã cao đẹp đến mức có thể miễn trừ mọi nỗ lực khác. Chỉ cần cho tiền và cả thế giới phải lấy làm hạnh phúc.

Sở hữu tiền bạc là một trách nhiệm. Một người được may mắn trong cuộc sống và phải có trách nhiệm chia sẻ. Chia sẻ một cách thông minh.

May mắn?

Tôi cố ý dùng từ này. Tất nhiên, có thể nói: tôi giỏi, tôi chăm chỉ, vì thế tôi có được như vậy. Nhưng đó không phải là toàn bộ sự thật của cuộc sống. Bởi nhiều người từ điểm xuất phát đã được cuộc đời ban tặng rất nhiều: một nơi sinh tốt hơn, trong nhà đầy sách, vốn văn hóa, hay có thể bố mẹ có những người quen biết xin việc cho, rồi sau đó nhờ thông minh và chăm chỉ tôi thành công ngoạn mục... Dẫu sao đi nữa thì người đó cũng có nhiều cơ hội. Nhưng có những người không nhận được những cơ hội ấy hoặc họ rất bị hạn chế. Họ giỏi, chăm chỉ, mặc dù vậy họ không thành công.
Ví dụ, tôi là một người rất may mắn, tôi được số phận ban tặng rất nhiều và tôi coi điều này là một món nợ.

Cứu trợ là sự chọn lọc, lựa chọn. Đôi khi tàn nhẫn.

Sự chọn lọc?

Lần đầu tiên tôi phải đưa ra một quyết định là ở Sarajevo, xe tải của chúng tôi đến đó, tôi phải giải quyết một số việc trong thành phố và chúng tôi đã chuẩn bị lên đường. Tôi trở về xe và thấy một phụ nữ ngồi trong đó cùng với một bé trai và hai cái va li. Cô van xin chúng tôi mang cô đi khỏi Sarajevo. Và... anh biết đấy... tôi phải đuổi cô ấy xuống xe. Bởi chúng tôi đi cùng với một toán quân Serbia và nếu không có họ thì chúng tôi không đời nào vào được Sarajevo. Thế là tôi đuổi cô ấy xuống giữa trời tuyết, tôi đã bỏ lại đứa trẻ giữa lòng chiến trận. Tôi luôn nghĩ về người phụ nữ này, không biết cô có sống sót không. Và về cậu bé. Anh biết không... cô ấy... quỳ giữa tuyết... và van xin tôi. Còn tôi...

Lần đầu tiên tôi thấy bà khóc. Điều này không hợp với bà chút nào.

Tôi nhớ tiếng khóc của cô ấy. Tóc cô ấy đen. Tôi nhớ người phũ nữ đã quỳ xuống và hôn chân tôi. Đúng thế. Và cậu bé ấy, kêu khóc ở đó...

Cứu trợ không phải là một câu chuyện cổ tích, tôi đã hiểu ra điều này. Sẽ không dễ chịu và phải mạnh mẽ về tâm lý.

Phải tàn nhẫn.

Anh có thể gọi nó như vậy. Tôi muốn dùng từ này hơn: cương quyết. Để cứu trợ, cần có một điều gì đó bề ngoài có vẻ như trái ngược với đặc thù của nó – chính là cái đầu lạnh. Khoảng cách.

Bà nổi tiếng về điều này. Tôi luôn ngạc nhiên khi thấy bà thường lạnh lùng đến thế khi kể về những người mà bà giúp đỡ.

Tôi tỉnh táo.
Tôi không thể giúp tất cả mọi người. Tôi phải chọn lựa. Và khi đã chọn lựa thì thực hiện một cách tốt nhất.

Chỉ có người như bà mới có thể cho phép mình đuổi một người phụ nữ ra khỏi xe. Bởi bà làm những việc khác quan trọng hơn. Nhưng tôi thì không thể cho phép mình làm như vậy mà đạo đức không tan nát. Và cũng thế, tôi không thể lướt qua những người ăn xin ngoài phố một cách thờ ơ mà không cho họ tiền. Đây chính là sự khác biệt giữa chúng ta.

Vậy thì anh hãy bắt tay vào làm điều gì đó quan trọng đi! Hãy để tâm vào đi!

Anh muốn cư xử một cách có đạo đức và anh cảm thấy cực kỳ khó xử khi đi ngang qua những người ăn xin, điều đó nghe thật là hay. Sự cảm thông, mẫn cảm, vân vân và vân vân. Nhưng đó thật ra là những tình cảm yếu đuối và không nhất thiết hữu ích trong việc cứu trợ thực sự. Tôi nhớ một cô gái, đã được huấn luyện và chuẩn bị, nhưng khi nhìn thấy lũ trẻ mặc áo rách và quần thủng đít chạy theo cô ấy và kêu la: „Cho em một đồng” thì cô ấy bắt đầu phân phát hết không chỉ kẹo và tiền mà tất cả những gì cô ấy có trong người, vừa cho vừa khóc. Chúng tôi đưa cô ấy về trại và phải rút cô ấy khỏi Sudan. Đó không phải là đất nước dành cho cô ấy.

Phải khiến những người như thế trở nên mất cảm giác, theo một nghĩa nào đó?

Anh có thể gọi như thế. Tôi thì sẽ nói là: làm cho họ trở nên thực tế.

Người ta tưởng tượng rằng khi đứa trẻ ăn xong cái kẹo, nó sẽ vui vẻ. Nhưng cả đám đông trẻ con chạy theo họ và cũng muốn thế. Chúng bắt đầu đánh nhau vì kẹo, đứa trẻ nào đó bị ngã, những người lớn ở đó nhìn thấy và cho rằng „kẻ thực dân trắng” muốn làm điiều có hại cho đám trẻ. Một bi kịch được bày sẵn.

Một người quen có lần kể cho tôi nghe ông đi tham quan ở Ấn Độ và khi nhìn thấy sự nghèo đói ở đó, ông đã thực sự xúc động. Sự thấu cảm, phản ứng của trái tim, và những cảm xúc dâng trào khác như anh vẫn yêu thích. Ở một địa danh du lịch ông gặp một cô bé xinh xắn dễ thương và cho cô bé kẹo, cô bé dẫn ông về nhà, ông trò chuyện với bố mẹ cô bé. Họ không muốn xin tiền, nhưng mơ ước có một quầy hàng nhỏ và họ cần có một cái xe bò. Ông đã mua xe bò cho họ.

Đó chắc là một sự giúp đỡ sáng suốt?

Phải. Có thể nói rằng ông đã xử sự đúng mẫu. Cho cần câu chứ không cho con cá. Và ông rơi vào bẫy của những kẻ lừa đảo. Chúng chuyên lừa những khách du lịch giàu có, nhưng chúng biết xin tiền đã trở thành một việc đáng ngờ, nên chúng nghĩ ra câu chuyện về quầy hàng và cái xe bò. Có thể nói chúng đã điều chỉnh món hàng thị trường của mình cho phù hợp với trí tưởng tượng của một khách du lịch phương Tây được dạy dỗ tử tế về xã hội. Tất nhiên là chúng bán lại cái xe bò ngay lập tức, chúng đã thỏa thuận trước với người bán rồi.

Việc giúp đỡ có hiệu quả không? Đó là câu hỏi quan trọng nhất. Chúng ta hãy kết thúc lớp vỡ lòng về cứu trợ.

Nhưng thế thì sao chứ? Dẫu sao họ vẫn nghèo khổ thật mà.

Tất nhiên. Nhưng bằng cách đó họ học được rằng có thể kiếm tiền nhờ lừa đảo. Và điều đó làm hỏng họ. Không ai nói với tôi rằng lừa đảo lợi dụng sự giúp đỡ có thể mang lại điều gì đó tốt lành.

Bà nói gì với ông người quen?

„Chính ông có lỗi. Cô bé làm ông xúc động và ông không tìm hiểu gì thêm về gia đình nó. Nếu là tôi thì tôi sẽ không làm vậy. Ở đó có hàng xóm, các tổ chức địa phương, ông có thể mở miệng hỏi trước, xem những người ấy có cần giúp thật không.”

Để kiểm tra, ông ta sẽ phải tách ra khỏi đoàn tham quan và ở lại thêm hai ngày.

Chính thế. Phải chú tâm một cách NGHIÊM TÚC. Còn chúng ta thì thường muốn sửa chữa thế giới khi thể nghiệm những xúc cảm nhất thời.

Người Ba Lan có tốt không?

Người ta nói chung không xấu, chỉ có điều đôi khi họ thiếu kiến thức. Nếu giải thích cho họ, họ sẵn lòng thay đổi. „À, đúng vậy, bây giờ mọi thứ đều rõ ràng”.

Ở Wrocław, trong sân chơi công cộng, Natalka, một bé gái mắc chứng tự kỷ túm áo một cậu bé. Bố cậu bé làm om sòm lên. Mẹ Natalka xin lỗi và giải thích rằng con mình bị tự kỷ. Ông bố kêu lên: „Cô hãy đi khỏi đây, nếu con cô bị bệnh thì nó đừng đi ra chỗ công cộng và đừng làm phiền những đứa trẻ khỏe mạnh”. Bà sẽ giải thích cho ông ấy rằng ông ấy làm như thế là sai như thế nào?

Bình tĩnh. Nổi khùng lên với một người như thế chả đem lại điều gì. Tôi sẽ cố gắng nói chuyện bình thường với ông ta, để ông ta nghĩ xem ở đâu là ranh giới của tàn tật mà ông ta chấp nhận. Một đứa trẻ không có tay có thể chơi với con ông ta hay không? Nếu có, thì một đứa trẻ mù có chơi được không? Đẩy bóng sang phía đối phương là cách tốt. Hãy để ông ta định ranh giới. Ông ta sẽ nhanh chóng thấy rằng đặt ra các ranh giới như vậy là ngu xuẩn. Hãy để cho người ta suy nghĩ.

Dạy cho ông ta một bài học không tốt hơn sao?

Không.

Mẹ Natalka chụp ảnh ông ta bằng điện thoại và cho lên Facebook, kể lại toàn bộ sự việc. Bây giờ ảnh ông ta đầy trên mạng vì mọi người ai cũng chia sẻ nó. Thế có tốt không?

Không. Nó làm tổn thương ông ta. Trong những trường hợp như thế này trước tiên tôi nghĩ đến việc không khiến ai bị tổn thương.

Thật kỳ cục là bà lại nghĩ đến sự tổn thương của gã ấy. Thế còn sự tổn thương của người phụ nữ và đứa trẻ thì sao?

Phải, nhưng ông ta đã làm họ tổn thương rồi. Điều đó đã xảy ra. Không cần phải gây thêm tổn thương khác. Anh thấy thế nào khi xem ảnh ông ta?

Giận dữ. „Đồ chó đẻ”.

Nghĩa là bức ảnh gây ra cảm xúc xấu cho hàng nghìn người đang chia sẻ nó. Nhưng có thể ông ta hoàn toàn không phải là đồ chó đẻ. Có thể ông ta chỉ ngu dốt thôi? Hay vô cảm?

Bà không cho rằng sự ngu dốt là một thể loại của cái ác?

Nhiều người có thể phản ứng y như thế vì họ không biết bệnh tự kỷ là gì. Anh có biết tôi chợt nghĩ gì không? Có thể ông ta cho rằng đó là một loại bệnh truyền nhiễm? Hoặc có thể ông ta khó chịu khi nhìn thấy một đứa trẻ không bình thường, vì ông ta đã được ai nó nuôi dạy một cách không khôn ngoan? Trong thời thơ ấu của tôi, người ta quan niệm khá phổ biến là những đứa trẻ tàn tật nên bị giam riêng trong các trung tâm đặc biệt để không làm người bình thường khó chịu.

Ông bố của cậu bé ở Wroclaw trong tình huống này đã hành xử tệ. Nhưng có thể ngay sau đó trong một tình huống khác lại cư xử rất tuyệt vời. Nếu tôi đánh giá người khác chỉ qua một phát biểu ngu dốt thì tôi đã chẳng làm được bất cứ chuyện gì trong đời. „Thế vì sao người mọi đen ở Sudan không tự đào giếng?” Một người có học và khá hay ho đã hỏi tôi như vậy. Đấy là những phản ứng xuất phát từ thiếu hiểu biết chứ không phải vì họ là người xấu.

Bà trả lời thế nào?

Thứ nhất, không gọi họ là „mọi đen”. Thứ hai, giếng sâu hàng trăm mét, không ai dùng xà beng mà đào được.

Có lời khuyên chung nào để người được nhận sự giúp đỡ không cảm thấy tủi thân?

Tôi nhớ chuyện hồi nhỏ, khi một bà của cứu trợ xã hội bước vào lớp và nói: „Chúng ta sẽ mua quần áo cho các bạn nghèo. Ochojska không có áo khoác, vậy ta sẽ mua áo khoác cho bạn, còn cho Kowalska thì mua quần.” Khi đó tôi cảm thấy rất kinh khủng. Nếu tôi phải đưa ra một lời khuyên thì nó sẽ là: không chỉ mặt điểm tên.

Bà có quan tâm đến kinh tế học không?

Tôi không hiểu được nó. Ví dụ, tôi không hiểu vòng quay của tiền. Cũng như không hiểu vì sao người ta lại vui mừng hớn hở khi tổng sản phẩm nội địa tăng trưởng. Ai đó cần cái du thuyền thứ tư hay cái nhà thứ năm để làm gì? Một người muốn có du thuyền, ừ thì tôi còn hiểu được đôi chút. Nhưng thêm cái thứ hai? Và dựa trên nguyên tắc nào mà việc mua sắm không ngừng lại thúc đẩy nền kinh tế?

Năm năm trước chúng ta còn tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dần dần kéo tất cả mọi người lên khỏi cái nghèo, cái đói sẽ biến mất, miễn là không cản trở quy luật vận hành của kinh tế học. Bà có bao giờ lạc quan như thế không?

Tôi không ảo tưởng như thế, vì tôi biết rõ thực kiện. Mỗi ngày có 26 nghìn người chết đói. Nhưng đồng thời thực phẩm lại được sản xuất mỗi ngày một nhiều hơn, chỉ để những người giàu có thể vứt đi nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Những người giàu – nghĩa là có cả chúng ta.

Hệ thống tự cắn cái đuôi của mình. Các tập đoàn toàn cầu phình ra quá mức và giành được quyền lực khủng khiếp. Điều này đặc biệt được thấy rõ ở châu Phi. Hãy xem phim về việc sản xuất đậu đũa ở Kenia, các khúc đậu phải dài bằng nhau, thẳng, nếu hơi cong là bị vứt đi, để chúng ta ở châu Âu có thể mua được đậu đẹp. Và rẻ, vì nhân công phải rẻ.

Thế giới sẽ ra sao?

Chúng ta khiến nó ra sao thì nó sẽ như thế. Cần phải đi đến một sự tự giới hạn ở những vùng giàu có hơn của thế giới.

Nghĩa là sẽ tốt hơn khi tình trạng của chúng ta – những người giàu ở châu Âu – tệ hơn?

Phải. Nhưng từ chối có thêm đôi giày thứ mười là tệ hơn sao?

Nếu chúng ta ngừng mua, thì toàn bộ guồng quay sẽ ngừng lại.

Đấy chính là điều tôi không hiểu nổi! Nó vận hành thế nào?

Người ta sống và tin rằng có một cái ti vi cũ là bi kịch. Nhưng khi có ti vi màn hình phẳng, thì tôi lại phải có cái phẳng hơn nữa, ngay sau đó lại là một cái to hơn nữa. Anh có nhà, thì phải có thêm cái nho nhỏ ở quê, còn nếu anh giàu hơn, thì ở Toscani hay Provence. Tuần tự như tiến. Tôi đọc báo thấy có cặp vợ chồng ly dị và cãi nhau vì 7 cái nhà! Và tôi bắt đầu tưởng tượng nếu mình có 7 cái nhà, tôi sẽ phải có cả máy bay để bay qua bay lại. Trong mỗi căn nhà tôi sẽ phải có cùng từng ấy thứ quần áo, tôi không thể muốn mặc quần đen mà nó lại đang nằm ở thành phố khác. Biết bao nhiêu đồ đạc!? Và tôi có thể sử dụng hết được không, để biện minh cho sự tồn tại của chúng? Nếu tôi muốn đọc cuốn „Núi thần” yêu thích của mình mà đang ở Bahamas, tôi có nên cử máy bay bay về Kraków để lấy sách hay không?

Nhà kinh tế học sẽ nói nếu bà mua 7 bản „Núi thần” cho mỗi căn nhà một bản, 7 cái quần đen và 7 cái tủ lạnh, thì bà thúc đẩy thị trường. Người nghèo ở Bangladesh cũng hưởng lợi từ đó, vì chắc họ sản xuất keo dán gáy sách.

Nhưng điều này dẫn đến sự ngớ ngẩn nực cười! Người ta làm ra các sản phẩm ngày một chóng hỏng hơn. Đồ vật là để phục vụ con người có cuộc sống thoải mái hơn, chắc có một cái tủ lạnh bền thì tốt hơn là cứ 5 năm lại phải thay một lần chứ. Các nhà kinh tế nói cả thế giới nhờ đó mà kiếm tiền. Nhưng nếu loài người chỉ tồn tại được nhờ việc sản xuất mỗi ngày một nhiều hơn thì cả ngành kinh tế học đang trồng cây chuối! Tăng sản xuất thực phẩm hoàn toàn không khiến cho số người bị đói giảm đi. Chúng ta đang vứt đi nhiều hơn!


Chú thích:

1 Khoảng 100 USD
2 Małgorzata Chmielewska, nữ tu sĩ Ba Lan nổi tiếng với các hoạt động thiện nguyện
3 Những người hoạt động từ thiện nổi tiếng của Ba Lan

Sunday, 1 June 2014

(ballet) Don Quixote

(Kitri trong vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng) 


 Có thể nói Don Quixote một trong những chủ đề xuyên suốt lịch sử ballet. Vở ballet đầu tiên với chủ đề này được trình diễn vào năm 1614, đúng 400 năm trước trong hoàng cung Pháp với nhan đề „Le ballet de Don Quichot”. Kể từ đó, Don Quixote liên tục trở đi trở lại trên sân khấu, là nguồn cảm hứng của biết bao thế hệ vũ công và biên đạo, từ thời ballet cung đình baroque, qua thời phục hưng, lãng mạn và hậu lãng mạn, cho tới tận ballet tân cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại. Hầu hết các nhà biên đạo ballet lừng danh đều đã dựng vở Don Quixote của mình, từ Louis-Jacques Milon, Charles-Louis Didelot, Paul Taglioni... qua August Bournonville, Marius Petipa, Aleksandr Gorski, Ninette de Valois tới George Balanchine, Rudolf Nuriejew, Alexei Fadeyechev... Trong số đó, Don Quixote do Marius Petipa dàn dựng với âm nhạc của Ludwig Minkus đã trở thành một kinh điển lớn của nghệ thuật ballet.

Có lẽ không cần giới thiệu nhiều về Marius Petipa, nhà biên đạo người Pháp, là cha đẻ và một tên tuổi gắn liền với thời hoàng kim của ballet Nga mà bất cứ người nào có đôi chút quan tâm đến ballet đều không thể không biết, tác giả của các vở ballet nổi tiếng như Hồ thiên nga, Công chúa ngủ trong rừng, Kẹp hạt dẻ, Faust, Raymonda, La Bayadère... Nhưng còn Ludwig Minkus? Nhạc sĩ người Áo gốc Do Thái này là một trong những nhà soạn nhạc ballet sáng tác dồi dào nhất, với gần 30 vở, gắn bó gần như cả cuộc đời mình với nước Nga và ballet Nga. Nhưng tên tuổi của ông không vượt ra ngoài khuôn khổ các vở ballet, và Don Quixote là một trong những tác phẩm khiến ông không bị rơi vào quên lãng sau khi qua đời năm 1917 tại cố quốc trong đói nghèo và cô đơn, mộ phần bị quân quốc xã san phẳng năm 1939. Bi kịch của ông là đã sống và sáng tác trong thời đại mà các nhà biên đạo chủ yếu chú trọng đến các vũ điệu và tính kể chuyện, sự hoàn hảo về trang trí hơn là các yêu cầu nghệ thuật khác cao hơn trong ballet. Âm nhạc của ông phục vụ những mục đích ấy, nơi nhà soạn nhạc phải ưu tiên các vũ công và nhà biên đạo và do đó, không được các nhà âm nhạc học thời nay đánh giá cao. Nhưng chúng ta còn nhớ, vào thời đó, khi các vở Công chúa ngủ trong rừng hay kẹp hạt dẻ được trình diễn lần đầu, các nhà phê bình đã không tiếc lời chê bai âm nhạc củ Tchaikovsky là vứt đi, hay „không thể múa được”.

Don Quixote của Marius Petipa, mặc dù dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, thật ra không phải là một phản chiếu sắc nét của chủ đề văn học này. Nhân vật Don Quixote mờ nhạt, thậm chí chỉ là cái cớ để các vũ công trình diễn các vũ điệu nối tiếp, liên tục. Xét về nội dung, có thể nói đây là một vở ballet không mấy phong phú hay sâu sắc. Nhưng về mặt biên đạo, đây là một vở ballet xuất sắc và kiểu mẫu (nhất là sau khi được Aleksander Gorski bổ sung thêm). Marius Petipa dựng Don Quixote khi đã là một nhà biên đạo dày dạn kinh nghiệm, sau khi đã tự mình biên soạn các vũ điệu không ai bì kịp theo trường phái ballet divertissement thời kỳ đỉnh cao với tính chất tân cổ điển. Trong Don Quixote tràn ngập những vũ điệu Tây Ban Nha mà Marius Petipa thông thạo hơn ai hết, bởi ông đã dựng các vở ballet đầu tiên của mình ở Madrid, và chính ông đã học múa các vũ điệu dân gian Tây Ban Nha trong những năm 1845-1847. Màn múa giấc mơ của Don Quixote trong hồi 2 là một trong những tuyệt tác của biên đạo ballet. Tiết mục múa đôi (pas de deux) của Kitri và Basilio ở hồi 3 (còn được gọi là Grand pas de deux) đã được các nghệ sỹ ballet kiệt xuất của các thời đại khác nhau gặt hái không biết bao nhiêu thành công vang dội trên khắp thế giới. Tiết mục múa đơn xoay 32 vòng (fouettés) của Kitri luôn là niềm chờ đợi của khán giả, không ít người còn đếm xem vũ công có xoay đủ 32 vòng hay không. Các vũ điệu trong Don Quixote vui tươi, sinh động, đầy nhiệt huyết nhưng cũng đầy quyến rũ, khiến người xem hoàn toàn chìm đắm trong một không gian Tây Ban Nha tràn ngập nhịp điệu và sắc màu.



(Grand pas de deux của Kitri và Basilio do Svetlana Zakharova và Andrei Uvarov thực hiện)



(Natalia Opisova trong vai Kitri và tiết mục xoay 32 vòng)

Vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng và trình diễn lần đầu vào năm 2014 theo biên đạo của Marius Petipe với phần biên đạo mới của nhà biên đạo Nga nổi tiếng Alexei Fadeyechev mang lại cho người xem tất cả không khí và tinh thần Tây Ban Nha ấy. Sân khấu được dàn dựng với những sắc màu tươi sáng, rực rỡ trong hồi 1 với không khí vũ hội linh đình, trong màn giấc mơ của Don Quixote ở hồi 2 lại tối giản và tinh khiết với gam màu trắng và lơ chủ đạo, tới hồi 3 lại là sự kết hợp khéo léo và tinh tế giữa các màu sắc rực rỡ với các màu thanh nhã nhẹ nhàng... có thể nói là phần dàn dựng đẹp nhất và thành công nhất cho vở Don Quixote mà tôi từng được xem. Vũ đoàn với các vũ công kỹ thuật rất cao nên Alexei Fadeyechev tha hồ có đất dụng võ và đã không khiến khán giả thất vọng.

(Thái Linh)

Saturday, 13 July 2013

Tản mạn về một "thượng đỉnh văn học"

Từ ngày 20 đến 22.6.2013, tại Kraków - cố đô và trung tâm văn hóa của Ba Lan - vừa diễn ra Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3. Đây là sự kiện quốc tế lớn nhất thế giới dành cho các dịch giả văn học do Viện Sách trực thuộc Bộ Văn hóa và Di sản Quốc gia Ba Lan tổ chức 4 năm một lần. Tới tham dự Đại hội lần này có 250 dịch giả từ 51 quốc gia của 41 thứ tiếng ở khắp thế giới. Sáu dịch giả Việt Nam được mời là Nguyễn Thanh Thư, Tạ Minh Châu, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Văn Thái, Lê Bá Thự và Nguyễn Thái Linh. 

Các dịch giả Việt Nam từ trái sang phải: Nguyễn Chí Thuật, Lê Bá Thự,
Nguyễn Thái Linh,Tạ Minh Châu, Nguyễn Thanh Thư, Nguyễn Văn Thái
1. Có lẽ không chỉ tôi, mà nhiều thành viên khác của Đại hội sẽ khó quên những ngày cuối tháng Sáu năm 2013, khi chúng tôi liên tục được gặp gỡ, trò chuyện, đối thoại với những con người minh triết và giản dị, được sống trong không khí thân ái, chân tình.

​Trong 3 ngày, chúng tôi được tham gia hơn 40 hội thảo và thảo luận chuyên đề về hiện trạng văn học và ngôn ngữ  Ba Lan cùng với các nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu Ba Lan, qua đó cập nhật thông tin và hoàn thiện kỹ năng dịch thuật của mình. Rzeczpospolita - một trong những tờ nhật báo lớn nhất Ba Lan - đã gọi Đại hội là  "thượng đỉnh văn học”.

Lễ khai mạc tại đại giảng đường trường Đại Học Jagielloński (ảnh của Viện Sách)

Phát biểu trong lễ khai mạc được tổ chức trang trọng tại đại giảng đường Đại học Jagielloński (đại học cổ nhất Ba Lan và là một trong những đại học cổ nhất thế giới), viện trưởng Viện Sách Grzegorz Gauden đã vinh danh các dịch giả là những đại sứ của văn học Ba Lan ở khắp năm châu và bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với những đóng góp của họ cho việc quảng bá văn học Ba Lan ra thế giới. Tình cảm trân trọng đối với các dịch giả và tâm huyết đối với việc quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài không chỉ là lời nói, mà còn được Viện Sách thể hiện trong suốt 10 năm hoạt động của mình. Viện đã tài trợ hơn 4,5 triệu USD cho hơn 1400 đầu sách văn học Ba Lan xuất bản bằng 42 thứ tiếng trên thế giới, giúp đỡ thúc đẩy quan hệ giữa các dịch giả và các nhà xuất bản, đài thọ cho các dịch giả đến Ba Lan làm việc trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, trao các giải thưởng dịch thuật... Những nỗ lực này càng đáng trân trọng bội phần trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.

Ăn trưa ở Piwnica pod Baranami, địa chỉ nổi tiếng của giới văn nghệ sỹ Ba Lan
 Không chỉ là „thượng đỉnh văn học”, Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3 còn là „thượng đỉnh văn hóa”, khi lễ khai mạc, các hội thảo, các bữa trưa, lễ trao giải Transatlantyk... đều diễn ra ở các địa chỉ văn hóa nổi tiếng của Ba Lan ở cố đô Kraków, khiến các dịch giả được chìm đắm trong không gian văn hóa đậm đặc và thân mật.

Đáng ghi nhận nhất vẫn là tình cảm, lòng biết ơn và sự trân trọng đối với các dịch giả; tiếp nối tinh thần tri ân đầy nhân văn mà nhà văn, nhà báo kiệt xuất Ba Lan Ryszard Kapuściński đã khơi lên 8 năm về trước. Trong lễ khai mạc Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất năm 2005, Kapuściński đã phát biểu:  "Ngày nay vai trò của dịch giả trong một thế giới đa văn hóa càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn – khi người dịch giúp bạn đọc ý thức được rõ ràng về sự tồn tại của những Người khác, về tính đặc biệt, không lặp lại của anh ta...Với ý nghĩa đó, khi dịch một văn bản, chúng ta mở ra cho những Người khác một thế giới mới, chúng ta giải thích cái thế giới mới đó, và khi giải thích, chúng ta đưa cái thế giới đó lại gần mọi người hơn, tạo điều kiện cho mọi người sống trong lòng nó, biến nó thành một phần sự trải nghiệm cá nhân.... Vậy là nhờ cố gắng của dịch giả, chân trời tư duy của mọi người được mở rộng, sự hiểu biết, tri thức chung được nâng lên, sự nhạy cảm, tinh tế được cải thiện. Ngày nay, trong thế kỷ 21 này, những điều kể trên càng trở nên đặc biệt quan trọng, bởi vì thế giới của chúng ta khi phát triển với tốc độ chóng mặt, khi thay đổi và tạo nên sự khác biệt, nó luôn cần đến giải thích, lý giải, trong đó bản dịch văn học là sự trợ giúp đắc lực – nghĩa là công sức của những người có mặt hôm nay là không thể thiếu...”.  Tại Đại hội lần thứ ba này, tinh thần đó đã được Phó chủ tịch thành phố Kraków Magdalena Sroka tiếp nối nhất quán:  "Dịch văn học là một trong những hoạt động quan trọng nhất ở nước ngoài vì lợi ích văn hóa Ba Lan và chủ nghĩa nhân văn. Ngôn từ là cội rễ căn tính của con người. Dịch một ngoại ngữ ra ngôn ngữ nền văn hóa của mình đòi hỏi sự nhạy cảm phi thường. Trong thế kỷ 21, công việc của dịch giả phục vụ cho việc „làm quen với cái Khác”, nó không chỉ mang chiều kích văn hóa, mà cả chiều kích nhân văn.”

Các dịch giả dịch R. Kapuściński chụp ảnh kỷ niệm tại lễ trao giải Transatlantyk,
 giải thưởng thường niên dành cho dịch giả có nhiều đóng góp
cho việc quảng bá văn học Ba Lan ở nước ngoài (ảnh của Viện Sách)
Tình cảm và sự trân trọng dành cho các dịch giả văn học biểu hiện tình cảm và sự trân trọng của người Ba Lan dành cho chính nền văn học nước nhà, một nền văn học luôn đầy sức sống mạnh mẽ. Không phải ngẫu nhiên mà một đất nước nhỏ bé như Ba Lan lại có tới 4 giải Nobel văn học.  Chính bởi tinh thần này mà qua các kỳ đại hội, Ba Lan đã xây dựng được một cộng đồng dịch thuật văn học Ba Lan đầy gắn bó. Đại hội là nơi duy nhất trên hành tinh hội tụ hàng trăm con người đến từ khắp năm châu chỉ cùng nói ngôn ngữ duy nhất - tiếng Ba Lan, một trong những ngôn ngữ khó nhất của châu Âu. Các dịch giả coi nhau như bạn bè thân thiết, xem Ba Lan như quê hương chung và đến đại hội như trở về nhà. Desislava Nedyalkova, dịch giả người Bulgaria tâm sự: "Tôi mong chờ suốt 4 năm để lại được tham dự Đại hội, để gặp lại những người bạn thương mến". Các dịch giả đều có tình yêu và niềm đam mê chung với nền văn học và văn hóa Ba Lan, có những khó khăn chung trong việc dịch thuật hay việc thuyết phục các nhà xuất bản nước ngoài, bởi vậy những cuộc trò chuyện bên lề Đại hội, trong các giờ giải lao, ở phòng ăn khách sạn, trên đường đến hội thảo... dường như kéo dài vô tận, không có kết thúc. Và cũng không có ai muốn Đại hội kết thúc. Ngày cuối cùng của Đại hội, giám đốc Viện Sách nói: „Tôi xin không nói lời bế mạc, mà chỉ tạm dừng cuộc gặp gỡ này lại 4 năm”. Cả hội trường đứng lên vỗ tay không ngớt suốt mấy phút. Anh Jauhien Salejcuk, dịch giả người Bạch Nga, buồn rầu nói: „Thật buồn vì Đại hội đã kết thúc, những gì tốt đẹp thường qua thật nhanh!

Với dịch giả Thụy Điển Anders Bodegard. (W.Szymborska đã từng khiêm tốn nói rằng:
nếu không có các bản dịch của Bodegard thì có lẽ bà không được giải Nobel.)
Dịch giả Tạ Minh Châu  thì cảm kích:  "Chắc không có dân tộc nào trên thế giới tình cảm và trân trọng văn học như dân tộc Ba Lan, có thái độ ứng xử văn hóa như dân tộc Ba Lan. Rời Đại hội trở về, tôi luôn suy nghĩ phải làm sao đền đáp được tấm lòng và sự trân trọng của họ.” Có lẽ đó cũng chính là suy nghĩ của các dịch giả tham dự đại hội nói chung và của các dịch giả Việt Nam nói riêng. Tinh thần ấy, thái độ ấy thực sự khiến cho các dịch giả từ khắp năm châu ngả mũ kính phục.

2. 
Tới dự đại hội lần này, tôi không khỏi mang một cảm giác trống vắng khi không còn được gặp Wisława Szymborska - nhà thơ tôi yêu quý nhất. Mỗi bản dịch thơ bà là một phần cuộc sống của tôi, là một trang trong nhật ký đời tôi. Tôi vẫn nhớ nụ cười hiền hậu mà tinh nghịch của bà, cái dáng gầy gầy thân yêu của bà mà tôi còn được nhìn thấy trong đại hội lần trước. Nụ cười ấy, dáng vóc ấy giờ đây đã yên nghỉ trong nghĩa trang Rakowiecki, cách nơi diễn ra đại hội không xa.


Mang một bó hoa huệ trắng, tôi tới thăm bà vào buổi chiều cuối cùng ở Kraków. Mộ bà nằm bình dị, chìm lẫn giữa bao ngôi mộ khác giữa nghĩa trang rộng lớn, phải loanh quanh một lúc tôi mới tìm được. Bà vẫn thế, giản dị và kín đáo như khi còn sống. Tôi thầm biết ơn những người quản lý nghĩa trang đã không biến nơi an nghỉ của bà thành một địa điểm du lịch. Không khí trong nghĩa trang mát dịu vì nhiều bóng cây tỏa xuống, mặc dù ngoài kia Kraków đang giữa những ngày nóng nắng nhất. Tiếng chim hót ríu rít bình yên và trong lành. Cảm giác thanh thản và bình yên kỳ lạ, thanh thản như nhà thơ nói về cái chết của mình:

Nằm nơi đây là tác giả dăm bài thơ, cổ hủ già nua,
xưa như dấu phẩy. Đất rủ lòng dành cho bà ấy
sự an nghỉ ngàn thu, mặc dù xác chết
chẳng thuộc nhóm văn nào hết.

Nhưng trên nấm mồ bà cũng chẳng có gì hơn
ngoài bài thơ này, nhành ngưu bàng và một con cú vọ
Người qua đường kia ơi, hãy rút trong cặp ra bộ óc điện tử
và ngẫm một giây về phận đời Szymborska.

Tất cả đều đơn giản và bình dị, như viên đá, như đám mây, như một ngày, như sự sống. Nhưng tất cả lại cũng thật phi thường. Như Szymborska đã nói  "trong ngôn ngữ của thi ca, nơi mỗi từ đều vô cùng quan trọng thì chẳng có gì là bình thường nữa cả. Một viên đá, một đám mây, một ngày và nhất là sự sống của ai đó trên thế gian này”.

Thật phi thường, bởi không phải vô cớ mà Joseph Brodsky từng nói: nếu bạn biết tiếng Ba Lan hay đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, thì đó sẽ là một lợi thế lớn, vì  "thứ thi ca phi thường nhất của thế kỷ được viết bằng thứ tiếng này”.

Thái Linh, 7.2013
(Đây là bản đầy đủ của bài đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số ra ngày 05.07.2013)



Monday, 21 January 2013

Hay, vì đau

Cuộc trò chuyện về nghệ thuật Ba Lan giữa Grzegorz Sroczyński  - phóng viên báo Gazeta Wyborcza , và giáo sư Maria Poprzęczka - chủ tịch Hội Sử gia Nghệ thuật (Ba Lan), hiện đang giảng dạy tại Đại Học Tổng Hợp Warszawa, đăng trong chuyên san Giày cao gót (Wysokie Obcasy) số ra ngày 27.10.2012. Thái Linh dịch (bản dịch đã được trích đăng tại Tuổi Trẻ Cuối Tuần)


(GS. Maria Poprzęczka)


Grzegorz Sroczyński: Càng kỳ quặc càng tốt.

Maria Poprzęczka: Nghệ thuật đương đại à? Có lẽ anh quá lời.

GS: Có một cái xô, có một thứ dung dịch màu đỏ nhỏ vào đó, xung quanh treo mấy sợi dây, từ loa phát ra tiếng nghiến kèn kẹt khủng khiếp. „Tác phẩm vô đề”. Hãy thử tỏ ra minh triết xem nào.

MP: Trong Salon de Paris trưng bày nghệ thuật chính thống nổi tiếng thế kỷ XIX, người ta treo hàng trăm bức tranh phong cảnh và các ả khỏa thân. Chán phèo.

GS: Nhưng ít ra với ả khỏa thân thì còn hiểu được người ta muốn nói gì.

MP: Thật lạ là con người không muốn đứng trước điều khó hiểu là tác phẩm của bàn tay người khác. Trước tác phẩm bất khả tư nghì của các thế lực cao siêu -Thượng đế, Chúa hay thiên nhiên – thì họ lại thích. Một số người thậm chí còn khao khát những thứ kỳ cục ấy. Nhưng khi một nghệ sỹ sản tạo ra cái gì đó khó hiểu thì lại nảy sinh nghi ngờ rằng anh ta lừa dối tôi và muốn biến tôi thành thằng ngốc.

GS: Thế anh ta có lừa dối không?

MP: Đáng tiếc là cũng thường như vậy.

GS: Tôi có mấy người bạn cạch đi xem kịch từ khi họ đi xem cái gì đó tiền vệ, ở đó họ bị đổ một thứ mỡ nâu lên người, bị ấn lên sân khấu và bắt đóng giả làm chó sói

MP: Có cách rất tốt cho tình huống này: bỏ về. Tôi đã không đi xem kịch suốt 20 năm.

GS: Cái gì cơ?

MP: Thì thế đấy. Tôi còn có cả lý thuyết về chuyện vì sao tôi không đi xem kịch. Bởi vì tôi không thích việc đóng giả. Đây nhé, người ta bắt tôi ngồi vào ghế rồi xem Holoubek và Łomnicki đang đóng giả rằng họ không phải là Holoubek và Łomicki mà là người khác, rồi tôi lại còn phải trả tiền nữa chứ!

GS: Một giáo sư về nghệ thuật đương đại có thể không đi xem kịch được sao?

MP: Như anh thấy đấy, có thể. Tôi đọc các bài phê bình trên báo chí để biết tình hình thôi.

GS: Bây giờ bà cũng không đi?

MP: Bây giờ tôi có đi, nhưng chỉ khi nào có gì đó thật đặc biệt. „Hamlet” của Klata trong Xưởng đóng tàu Gdańsk, „Macbeth” của Jarzyna trong một nhà máy cũ. Xem những thứ cổ truyền đối với tôi là mất thời gian. Thỉnh thoảng tôi bỏ về.

GS: Lần cuối cùng là khi nào?

MP: Ở Berlin, vì người ta hò hét trên sân khấu kinh quá. Không được để cho ai khủng bố mình hết, kể cả các nghệ sỹ. Nếu anh không thích cái xô kia thì khi đó anh nên bỏ ra ngoài và không quay lại nữa.

GS: Một người có văn hóa có thể không thèm quan tâm đến nghệ thuật đương đại không?

MP: Có thể. Anh ta sẽ mất chút gì đó, nhưng cũng không đến nỗi quá nhiều. Có hàng đống rác rưởi. Rất nhiều.

GS: Đặc điểm chính của cái thứ rác rưởi đương đại này là gì?

MP: Thứ cấp. Bịp bợm. Tự mãn. Sự vội vã để thành công. Và sự gây rối tri-thức-cảm-xúc. Chính là cái điều anh vừa nói: bạn không thích có nghĩa là bạn chưa đủ trình. Nếu bạn không hiểu thì biến đi mà xem tranh Matejko(1). Trong sinh hoạt nghệ thuật của chúng ta, đáng tiếc, vẫn tồn tại sự phân chia ra „chúng tôi” và „họ”.

GS: Chúng tôi là ai?

MP: Thế giới nghệ thuật và các định chế của nó, các nghệ sỹ, các nhà trưng bày, các phê bình gia, và công chúng lui tới các buổi khai mạc.

GS: Còn họ?

MP: Là số còn lại.

GS: Những người hâm mộ Lichen(2) và tranh tôn giáo hàng chợ?

MP: Cũng có họ. Mặc dù đó là sự phân chia quá đơn giản và nhầm lẫn. Giữa nghệ thuật đương đại được trưng bày và các tác phẩm tôn giáo hàng chợ trải ra một khuynh hướng rộng lớn và nhiều dòng các sản phẩm nghệ thuật. Nhưng cũng chẳng có gì phải ảo tưởng – nghệ thuật không và chưa từng là quân bình (egalitarian-ND). Sẽ mãi luôn có „chúng tôi” và „họ” nào đó, „người mình” và „người khác” nào đó. Cốt sao cho sự phân chia này không làm nảy sinh ra thù nghịch và khinh thường. Chỉ chừng ấy thôi và những chừng ấy.

GS: „Họ” muốn nghệ thuật ít nhất cũng phải hiểu được. Và có cái gì đó đèm đẹp treo trên lò sưởi.

MP: Ở Thành Cổ Warszawa có thể mua được những thứ đẹp và dễ hiểu. Tôi hoàn toàn không nói giễu ở đây. Tôi cho rằng nếu ai đó thích thứ nghệ thuật này thì không nên xấu hổ vì điều đó. Anh ta có quyền thích như thế. Tôi hay ngó nghiêng các sản phẩm này, tôi rất quan tâm đến tranh pháo ngoài dòng văn hóa chính thức. Tôi loại ra đồ lưu niệm cho khách du lịch. Sau khi sàng lọc thì hóa ra tranh phong cảnh chiếm ưu thế. Những bức „tranh phong cảnh chung chung”.

GS: „Tranh phong cảnh chung chung” là thế nào?

MP: Có cây cối xanh xanh, có sông hồ và có núi, hơi phủ tuyết một chút. Có thêm con vật gì đó vào thì càng tốt.

GS: Con hươu.

MP: Ví dụ thế. Và đây không phải là đặc sản Ba Lan chúng ta. Mười mấy năm trước Komar và Melamid – hai nghệ sỹ Nga rời Liên Xô sang phương Tây và trở nên khá thành đạt – đã làm một cuộc thăm dò trên phạm vi toàn cầu, từ Pernambuco đến Kyoto về „bức tranh được mong muốn nhất” và „bức tranh ít người thích nhất”. Họ làm thăm dò này một cách chuyên nghiệp, sử dụng các cơ quan thăm dò dư luận ở từng nước. Và trong tất cả các nền văn hóa bức tranh được mong muốn nhất đều giống nhau: mặt trời, bầu trời xanh, nước, núi và động vật. Nghĩa là thiên đường.

GS: Thế „bức tranh ít người thích nhất” ra sao?

MP: Trừu tượng – những khối hình học gì đó được vẽ bằng màu chết. Nhu cầu cần có thiên đường là thứ bẩm sinh của chúng ta, cũng có thể thấy rõ điều này trong tranh ở Thành Cổ Warszawa. Có thể đó là một cô gái tóc vàng ngực lớn, có thể đó là con ngựa – có Nguyên soái cưỡi hoặc không – nghĩa là thiên đường đã mất thời tiền chiến. Người ta có nhu cầu để cuộc sống dễ thương hơn đôi chút.

GS: Nghệ thuật đương đại thật xa xôi với nhu cầu đó.

MP: Vì nó không phục vụ nhu cầu này. Chừng nào nghệ thuật còn được hình thành theo đơn đặt hàng cụ thể – giáo sỹ cần tượng thánh cho nhà thờ, hoàng tử cần nàng Vệ nữ khỏa thân cho phòng ngủ, nhà quý tộc cần chân dung tiền nhân – tất cả đều rõ ràng. Nhưng sau đó định chế bảo tàng xuất hiện. Một không gian công chúng chuyên biệt chỉ dành cho nghệ thuật và chỉ để xem nghệ thuật. Một thay đổi căn bản. Bảo tàng và phòng trưng bày, mặc dù xuất hiện vào thế kỷ XVIII, vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong đời sống nghệ thuật ngày nay.

GS: Như thế nào?

MP: Nghệ sỹ đã không còn sáng tạo theo đơn đặt hàng của cá nhân cụ thể nữa. Nghệ thuật đương đại hình thành trước hết là để triển lãm. Walter Benjamin từ rất lâu đã đưa ra khái niệm giá trị triển lãm, dần dần nó đã thay thế tất cả các giá trị khác. Điều này đồng điệu cùng với cách hiểu hiện đại về nghệ thuật như một hiện tượng tự trị thuần túy. Như vậy nếu nghệ thuật mang tính tự trị và bị tước bỏ các chức năng khác mà người ta gọi một cách xem thường là các chức năng phục vụ, thì nó chỉ còn đủ tiêu chuẩn để triển lãm. Và để cho thị trường nghệ thuật.

GS: Giá trị triển lãm, tức những gì các phê bình gia ưa thích?

MP: Không, vì các cuộc triển lãm vẫn là dành cho công chúng. Chỉ có điều người xem đương đại không có dung nhan, không cụ thể như trước kia. Họ là vô danh, giả định và tiềm tàng.

GS: Ở nước ta thì họ còn vắng mặt nữa. Bảo tàng Tate Modern ở London mỗi năm có vài triệu lượt người xem. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Warszawa nằm trong phòng trưng bày cũ của hãng đồ gỗ Emilia và thường vắng teo.

MP: Thế anh thử đến gian trưng bày hội họa thế kỷ XVII và XVIII trong Bảo tàng Quốc gia đi. Ở đấy mới là vắng teo. Chuyện người Ba Lan thích nghệ thuật thời xưa còn nghệ thuật đương đại thì không, chỉ là ảo ảnh. Mọi loại nghệ thuật đối với chúng ta đều khá xa lạ. Ở đây sự khác biệt giữa Ba Lan và phương Tây rất rõ rệt, đáng tiếc.

GS: Từ đâu mà có sự khác biệt này?

MP: Từ lịch sử. Văn hóa Ba Lan cổ không phải là văn hóa tranh pháo, đó là văn hóa của những thứ xa xỉ, gấm vóc, xa hoa, vũ khí trang trí lộng lẫy. Người ta yêu những đồ ấy chứ không yêu tranh - thứ được xem là nghệ thuật hạng hai. Tình trạng này kéo dài rất lâu. Vào giữa thế kỷ XIX khi chúng ta có một bên là thi ca lãng mạn vĩ đại và âm nhạc Chopin, một bên là nền hội họa khiêm tốn, sự chênh lệch lớn đến nỗi Julian Klaczko đã đặt câu hỏi về „lý do tồn tại của nghệ thuật Ba Lan”. „Từ hàng thế kỷ Ba Lan đã chiến thắng bằng gươm và thập tự, chứ không phải bằng cây cọ và cái đục. - ông chứng minh, và khi đó cũng gây ra cuộc tranh cãi lớn. Ngày nay chúng ta vui mừng vì giai đoạn đó ta có Piotr Michałowski, nghệ sỹ tầm cỡ châu Âu. Nhưng ông chỉ là một nghệ sỹ không chuyên lớn. Stanisław Witkiewicz cha đã viết rằng nghệ thuật Ba Lan khoảng năm 1850 là „một con số không to tướng”.

GS: Và sau đó là cái ông Matejko khủng khiếp.

MP: Anh đừng nói thế. Nhờ Matejko mà người Ba Lan trân trọng hội họa. Chính ông là người đã chỉ ra rằng môn nghệ thuật này có thể nằm cao nhất trong thang giá trị dân tộc, thậm chí có thể lớn lên đến tầm cỡ nghệ thuật tiên tri. Các thể hệ họa sỹ tiếp theo đã được hưởng lợi từ điều đó, nhất là trong giai đoạn Ba Lan Trẻ(3), cho dù họ chẳng tri ân và còn đả kích Matejko là họa sỹ tồi.

GS: Thế Matejko của chúng ta có khá không?

MP: Nhưng từ góc nhìn nào?

GS: Từ góc nhìn đơn giản đó có phải là thứ hội họa khá không. Trên phông nền châu Âu.

MP: Đây không phải là một câu hỏi được đặt đúng cách.

GS: Sao lại không? Đơn giản là: họa sỹ khá hay tồi. Bà là phê bình gia nghệ thuật mà.

MP: Chính vì vậy mà tôi không đánh giá theo những tiêu chuẩn không phù hợp. Đó không phải là điều quan trọng trong hội họa này. Matejko không khéo tự lăng xê. Nhưng bá tước giáo sư Stanisław Tarnowski đã khắc sâu nhiều câu nói của ông, trong đó có cái câu hay bị trích dẫn này: „Tôi không vẽ như tôi hiểu các tiêu chuẩn nghệ thuật của bức tranh hoàn hảo. Tôi muốn nói đến những điều quan trọng hơn điều đó...”

GS: Chính thế đấy. Nghệ thuật xoàng, nhưng được cái đúng đắn, bởi nó „nói đến những điều quan trọng hơn”.

MP: Đó không phải là nghệ thuật xoàng. Những bức tranh ấy được vẽ rất tốt trong truyền thống mà Matejko tiếp nhận. Con ngựa là con ngựa. Khẩu súng là khẩu súng. Hiệp sỹ là hiệp sỹ. Có thể ông không thích Matejko, nhưng đó là một họa sỹ rất hay.

GS: Hay ở chỗ nào?

MP: Ở cách minh họa lịch sử. Đó là những trình diễn vĩ đại lớn lên trong trí tưởng tượng Ba Lan.

GS: Chúng không thật.

MP: Thì sao nào? Tôi dẫn thêm một câu của Matejko, nó vụng về và do đó chắc là đáng tin: „Quan trọng là bức tranh gây ấn tượng với mọi người”. Và chúng gây ấn tượng. Gần đây tôi vào blog của học sinh cấp 2 xem các em viết gì về Matejko sau khi tham quan bảo tàng. Các em viết: „Kính phục!” Nguyên văn thế đấy.

GS: Do đâu mà có sự kính phục này?

MP: Thanh niên ngày nay được giáo dục trong văn hóa hình ảnh, lóng lánh và chuyển động. Mà trong tranh Matejko có chuyển động, có sự thống thiết và hành động. Có cả sự tàn bạo và máu me. Tức là những gì nuôi dưỡng văn hóa đại chúng. Hội họa về bản chất là bất động và câm, nhưng nó lại phải thuyết phục, truyền đạt các ý tưởng, kể chuyện. Có thể viết về lịch sử hội họa châu Âu – từ thời Phục hưng – như về sự gắng sức để chiến thắng những điều bất khả ấy. Matejko với sự biểu hiện cực đoan của mình là ví dụ cho cố gắng này: phá vỡ sự bất động, bất ngôn và tĩnh lặng. Cử chỉ kia, nét mặt nọ – tất cả đều với cường độ cao nhất! Đôi khi người ta đạt được hiệu quả mạnh mẽ bằng sự trống rỗng, yên lặng và vô ngôn. Nhưng đó không phải là Matejko.

GS: Và có lẽ nói chung không phải là người Ba Lan.

MP: Chính thế.

GS: Matejko có một ưu điểm – ít ra là người ta cũng biết tranh ông vẽ cái gì. Bây giờ Phòng trưng bày Zachęta trưng bày các sản phẩm đương đại và phải tích cực giải thích chúng. Thậm chí họ phát hành cả những cuốn hướng dẫn nhỏ cho người xem với các câu hỏi thế này: „Tác phẩm có kể câu chuyện nào không?” „Trong tác phẩm này có sử dụng những dấu hiệu biểu tượng điều gì không?”, „Vì sao tác phẩm không có nhan đề?”

MP: Tốt chứ sao. Bằng cách này Zachęta mời những người xem chưa được giáo dục vào cuộc đối thoại. Đó là những câu hỏi khích động, tấn công vào thói quen tiếp thu. Bởi vì có thể người xem vẫn luôn chờ đợi „Trận chiến ở Grunwald”(4).

GS: Người xem chờ đợi rằng ít nhất cũng biết được „tất cả là về cái gì”.

MP: Thì các phê bình gia là để làm việc đó. Những người trung gian giữa nghệ sỹ và công chúng. Chúng ta phải giải thích „tất cả là về cái gì” một cách kiên nhẫn, dễ hiểu và hấp dẫn, chứ không phải cứ khinh khỉnh ngạo mạn cố thủ trong pháo đài của mình.

GS: Bởi vì nghệ thuật đương đại phải được giải thích cho những người bé mọn à?

MP: Không phải bé mọn, mà đơn giản là công chúng. Rất khó nói người Ba Lan có hiểu nghệ thuật đương đại hay không, vì họ chưa có cơ hội làm quen với nó. Mấy năm trước nước ta còn chưa có bảo tàng nghệ thuật hiện đại. Chúng ta có cả núi việc khổng lồ trong việc giáo dục và các bảo tàng cần chú trọng vào điều này. Tập hướng dẫn nhỏ của Zachęta mà anh thấy buồn cười chính là một thử nghiệm giáo dục sáng suốt. Nếu người Ba Lan đã chỉ được xem nền nghệ thuật bị cắt khúc từ năm 1914 đến năm 1945 thì khó lòng ngạc nhiên khi bây giờ họ thấy sốc khi xem Julita Wójcik gọt khoai tây trong phòng trưng bày quốc gia.

GS: Nhưng cô ấy gọt khoai tây để làm gì?

MP: Để tôn vinh cái điều vốn là thường nhật, nhất là đối với phụ nữ. Không ít người nội trợ sẽ cảm thấy vui sướng rằng việc cô ta làm hàng ngày lại có thể được đưa vào một định chế văn hóa quốc gia.

GS: Tôi e rằng Julita Wójcik chả đến được với bà nội trợ thực thụ nào. Bởi vì chỉ có Maria Poprzęcka và các bà các cô Warszawa khác mới đến phòng trưng bày để khám phá cái công việc kỳ lạ này. Lần cuối bà gọt khoai tây là khi nào?

MP: Ba ngày trước, vì sau đó tôi ăn cơm. Tôi tự nấu ăn, tôi thích đồ nấu ở nhà.
Tôi đồng ý là thiếu sự liên kết giữa „những người bình thường” với nhóm ước lệ các bà các cô Warszawa thường hay lui tới các cuộc khai mạc triển lãm kia. Tôi đấu tranh với điều này trong khả năng của mình.
(…)

GS: Thế phải xem một bức tranh trong bảo tàng như thế nào?

MP: Ai thích thế nào thì xem như thế. Tôi có thể đi hết cả phòng trưng bày và nhìn lên trần. Phải biết tự bảo vệ trước lạm phát nghệ thuật. Có lần ở khoa tôi đã dám nói rằng trong các bảo tàng, tôi thích nhất là xem bức tranh ngoài cửa sổ. Tụi sinh viên nhắc lại điều này với tôi suốt nhiều năm sau.

GS: Vì sao lại là bức tranh ngoài cửa sổ?

MP: Vì ở đó là cuộc sống. Tôi quan tâm đến con người hơn quan tâm đến nghệ thuật rất nhiều – lời thú nhận đầy thỏa hiệp của một sử gia nghê thuật.
Tôi đã nghiên cứu hội họa thế kỷ XIX trong một thời gian khá dài. Nghệ thuật hiện đại khiến tôi thấy thú vị vì trong đó có đời sống: cơ thể, con người và hoạt động. Nhiều khi là chính nghệ sỹ biến cơ thể của mình thành vật thể nghệ thuật.

GS: Bauman viết về sự bất khả của tiền vệ trong nghệ thuật hiện đại: „Không có cái mới khi không có chuẩn tắc. Không có dị giáo khi không có chính thống giáo.”

MP: Chuẩn tắc vẫn đang hiện hành, vẫn có thể phân biệt những thứ nổi bật với những thứ xoàng xĩnh mà. Trong nghệ thuật đương đại Ba Lan có một thứ mà tôi gọi là „nhóm đại diện”. Đó là các nghệ sỹ gửi tác phẩm ra nước ngoài, được trao giải thưởng, có các cuộc trưng bày dấu ấn. Đó chính là bộ chuẩn tắc này.

GS: Nó có tốt không?

MP: Không tệ.

GS: Có gì trong đó?

MP: „Kim tự tháp súc vật” của Kozyra mở ra bộ chuẩn tắc này.

GS: Đó mà là nghệ thuật lớn à? Cái con ngựa với con chó, con mèo và con gà ấy?

MP: Không phải là chuyện đó.

GS: Chính thế, lại không phải chuyện đó. Gống như Matejko.

MP: Kozyra rất tuyệt.

GS: Cũng với những nguyên tắc y như Matejko: „Bởi vì tôi nói đến điều quan trọng hơn”.

MP: Không, khác chứ. Nhưng ta hãy cho qua „Kim tự tháp súc vật” đi, nó đã được nói quá nhiều rồi. Hãy nói về tác phẩm tuyệt nhất của Kozyra - „Nghi lễ mùa Xuân”.

GS: Nhưng cơ thể già nua thực hiện các chuyển động giật cục.

MP: Một tác phẩm đầy xúc động. Nó kết nối đến nhiều truyền thống khác nhau: vở ba lê „Nghi lễ mùa Xuân” của Stravinsky, tức là tới tác phẩm khai mở âm nhạc thế kỷ XX, và sâu hơn, là truyền thống tế lễ tà giáo – cô gái được chọn làm vật hiến tế sẽ phải nhảy múa tới chết để cuộc sống mới hồi sinh. Trên các màn hình được xếp vòng tròn, ta thấy điệu múa và nghe các motiv của Stravinsky. Kozyra trung thành với biên đạo ban đầu của vở ba lê, nhưng để những người già trong viện dường lão làm vũ công, họ được chụp ảnh khỏa thân trên nền trắng, hết tấm này tới tấm khác tiếp theo nhau. Phương pháp làm phim hoạt hình cho phép những người già có thể thực hiện được các động tác cực khó ngay cả đối với những vũ công trẻ chuyên nghiệp. Giao vai này cho những người già thật là việc khó có thể chịu đựng, nhưng gây rúng động và chân thật. Họ là những người bị hiến tế trong cuộc sống của chúng ta.

GS: Theo bà tác phẩm này nói về điều gì?

MP: Nói một cách lâm li: về số phận con người. Tất cả chúng ta đều chết.

GS: Quá hiển nhiên.

MP: Không hề, thế mới nói! Ngày nay điều này hoàn toàn không hiển nhiên! Anh thử nhìn quanh mà xem. Chúng ta sống trong thế giới bị tước mất cái chết. Nó đã bị y học hóa, chúng ta chết trong các bệnh viện, giấm giúi và đầy xấu hổ. Chúng ta sống như thể không có tuổi già. Tôi không nhớ nổi một tác phẩm nghệ thuật nào đề cập đến đề tài này một cách bi kịch có thể sánh được với tác phẩm của Kozyra. Những thứ kinh dị, Zombie, những xác chết sống được văn hóa đại chúng ưa thích đến thế so với nó chỉ là trò trẻ con.

GS: Đó thật sự là tác phẩm tầm cỡ quốc tế à?

MP: Đúng. Đó là một tác phẩm hoàn hảo.

GS: Làm sao bà nhận biết được một tác phẩm hay?

MP: Như mọi người thôi: nó làm tôi xúc động hay không. Thế anh nghĩ tôi đi khắp bảo tàng và hành xác à? Ngược lại. Là trực giác vô tư thuần khiết. Một tác phẩm nghệ thuật hay khi tôi khó nói thành lời. Không thể dùng lý trí phân tích được. Không thể kể về nó được. Bởi vì cảm xúc xuất hiện xâm chiếm tôi mạnh mẽ tới mức trong khoảnh khắc tôi xóa bỏ hết toàn bộ học thức và sự tiếp thu mang tính phê bình. Khi tôi nhìn ngắm thứ gì đó và không còn là phê bình gia nghệ thuật nữa, khi đó tôi thấy rằng mình đang tiếp xúc với nghệ thuật thực thụ.

GS: Nếu đã nhìn thấy mọi thứ rồi thì khó có được niềm thích thú ấy

MP: Khó.

GS: Bà có hay thấy thích không?

MP: Ít. Tôi là người lạc quan, nhưng không phải là người nhiệt tình.

GS: Trong vòng 23 năm của nước Ba Lan độc lập thì được mấy lần?

MP: Vài lần. „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. Tranh của Tarasewicz, nhất là những bức được trưng bày chòi ra khỏi khung, bê tông màu đổ ra cầu thang và tường phòng trưng bày. Tranh của Jarosław Modzelewski.

GS: Bức nào?

MP: Ví dụ con thuyền không người neo bên bờ. Con thuyền của Charon đang chờ. Chờ tôi.

GS: Lại là về cái chết.

MP: Không có gì khác đáng nói, thật đấy.
Nếu đã là nói chuyện nghiêm túc thế này, thì tôi tin rằng nghệ thuật là hành động của con người cho phép thoát khỏi thế tục để hướng đến siêu hình. Tôi đứng trước bức tranh của Modzelewski và cứ muốn ngắm mãi. Ngắm mãi và ngắm mãi. Chỉ cần được yên tĩnh thôi.

GS: Cảm xúc thế nào?

MP: Cam chịu số phận. Khác với trường hợp „Nghi lễ mùa Xuân” - đó là một kiểu sốc.

(Con thuyền bên bờ, tranh Jarosław Modzelewski)

GS: Các nghệ sỹ đương đại Ba Lan muốn cho chúng ta xem gì?

MP: Cơ thể và sự mục ruỗng của nó. Các cơ thể già nua, tàn tật, ốm yếu, bệnh hoạn, thương tích trước đây chưa được nghệ thuật mở cửa. „Nhà tắm nữ” của Kozyra, „Cuộc đi dạo” của Żmijewski. „Những nghi lễ thầm kín” của Libera.

GS: Trong phim này Libera chăm sóc người bà của mình, thay tã, rửa ráy, lau dọn. Các nghệ sỹ Ba Lan cho chúng ta xem những thứ ấy để làm gì?

MP: Bởi đó là sự thật về thân phận con người.

GS: Cái đẹp của nghệ thuật là thế à?

MP: Nghệ thuật không ngừng hướng tới ba lý tưởng của Platon: chân, thiện, mỹ. Điều cốt yếu của tam giác này là các giá trị này liên kết chặt chẽ với nhau. Nếu điều gì đó chân thực thì nó cũng đẹp và thiện.

GS: Bà tin điều đó chứ?

MP: Tôi tin. Cơ thể già nua là chân thực, và do đó đẹp. Chỉ có điều chúng ta sống trong áp lực khủng khiếp của những cơ thể không tồn tại và không hiện thực. Không ai trông như trong Photoshop cả. Điều này quá rõ ràng, nhưng nhắc lại mãi vẫn không đủ – chúng ta trưng ra bệnh tật, sự già nua, cái chết, những thứ không nằm trong tinh thần của các pa-nô, quảng cáo và văn hóa đám đông. Nghệ thuật nhắc chúng ta nhớ đến những điều tàn bạo này.

GS: Vậy là cuối cùng chúng ta cũng biết được tại sao mọi người không đi xem nhũng thứ đó: họ xem những thứ đau xót ấy làm gì?

MP: Nếu người ta chỉ trông đợi ở nghệ thuật sự vui thích và an ủi – họ có quyền làm vậy. Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là consolatio – an ủi.

GS: Thế thứ nghệ thuật kia có an ủi bà không?

MP: Có. Bởi vì chính những cô xinh đẹp trên pa-nô mới hành hạ tôi. Đó không phải là cuộc sống thật. Đó là ảo giác, thứ ảo giác gây hại, lừa dối và hạ thấp người khác.

GS: Chúng ta sống trong một thế giới kỳ cục. Ta nhìn ngắm sự thật đáng tiếc trong các phòng trưng bày, sau đó bước ra ngoài và cần mẫn cười bằng những đôi môi tô son. Ngược lại với trước đây.

MP: Định nghĩa cổ của Aristoteles về nghệ thuật nói đến ba cách mô phỏng hiện thực. Thứ nhất, có thể mổ phỏng như nó vốn thế. Đó là lãnh địa của các nghệ sỹ duy thực. Thứ hai, có thể mô phỏng hiện thực tốt hơn là nó vốn thế, đó là nhiệm vụ quan trọng của nghệ thuật châu Âu từ thời Phục hưng. Cách mô phỏng thứ ba là thể hiện hiện thực tệ hơn là nó vốn thế. Mọi sự bóp méo, làm biến dạng, xuyên tạc nằm ở đây. Định nghĩa kinh điển không có tình huống thứ tư – cuộc sống trong hiện thực đã được tô hồng, mà nghệ thuật phải lột đi lớp son.

GS: Những gì của nền nghệ thuật chúng ta sẽ còn lưu lại?

MP: Không nhiều. Như mọi khi.

GS: Không nhiều là những gì?

MP: Tôi đã nói đến vài thứ rồi đấy: „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. „Mắt trả mắt” của Żmijewski. „Bài hát Ba Lan” của ông chắc chắn cũng vậy.(...)

GS: Còn gì nữa?

MP: Pawlak. Ví dụ bức tranh „Người Ba Lan làm quốc kỳ” của ông.

GS: Sasnal?

MP: Tôi không phải là người hâm mộ ông ấy.

GS: Ông ấy rất tuyệt.

MP: Chắc chắn là lương thiện. Mặc dù thành công về mặt thương mại – dù sao thì ông cũng là nghệ sỹ Ba Lan đắt giá nhất – ông vẫn thực hành nghệ thuật của mình một cách lương thiện, không biến thành nhà sản xuất. Tôi nghĩ ông cảm thấy rất khó khăn trong vai trò nghệ sỹ nổi danh.

GS: Có gì nữa không?

MP: „Dương bản” của Libera. Nghệ sỹ chọn một số bức ảnh gốc – các hình tượng của truyền thông thế kỷ XX đã đi vào tâm thức đại chúng. Em bé Việt Nam bị bỏng bom napal đang chạy trốn, Che Guevara bị bắn nằm trên cáng, các tù nhân trại tập trung sau hàng rào dây thép gai. Libera chụp các người mẫu y hệt như thế và làm các „dương bản” mới cho những bức ảnh đó. Thật rúng động.

GS: Bức ảnh nào gây rúng động nhất?

MP: Ảnh trại tập trung.

GS: Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi đã đứng chết lặng.

MP: Tôi cũng thế.

GS: Nhưng tôi không biết tại sao.

MP: Tôi cũng không biết. Nghệ thuật là thế, người ta không biết.

( bức ảnh trong tác phẩm Dương bản của Zbigniew Libera)

GS: Bà nói chút gì đó về bức ảnh này đi.

MP: Chúng ta nhìn thấy bức ảnh quen thuộc trong sách giáo khoa chụp các tù nhân trại tập trung, chỉ là đột nhiên có gì đó không ổn ở đây. Những người này trông như khách trọ vui vẻ của các viện an dưỡng, áo tù được thay bằng sọc áo pijama, thay vì thép gai thì chúng ta nhìn thấy những sợi dây được gắn lên đó thứ trang trí rẻ tiền nhất – dây thường xuân nhựa.

GS: Theo bà thì nó nói về cái gì?

MP: Về thế giới vui vẻ dối lừa, hồng hào như một lò sát sinh vào buổi sáng. Những người đứng sau các sợi dây cười cần mẫn vào ống kính. Đây không còn là những bộ xương bọc da sống mà chúng ta biết đến trong bức ảnh gốc. Nhưng vẫn có một thứ còn lại, đó là họ luôn đứng ở sau một cái hàng rào.

GS: Hàng rào với những dây thường xuân bằng nhựa.

MP: Phải. Chính là chúng ta đang đứng đó.

----------

Chú thích:
1. Họa sỹ Ba Lan thế kỷ XIX nổi tiếng với các bức tranh lịch sử

2. Tên một làng ở miền Trung Ba Lan, có Thánh đường Đức Mẹ – một trong những nhà thở tráng lệ nhất thế giới

3.Thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, âm nhạc và nghệ thuật Ba Lan, kéo dài từ 1891 đến 1918, chủ trương phản kháng lại chủ nghĩa thực chứng, không tin tưởng vào trật tự thế giới cũ, đề cao sự vượt trội của nghệ sỹ tới tầm vóc tiên tri, đòi tự do và tách nghệ thuật khỏi di sản văn hóa, ảnh hưởng triết học Schopenhauer, Nietzch và Bergson.

4.Tên bức tranh nổi tiếng nhất của Matejko