Showing posts with label văn. Show all posts
Showing posts with label văn. Show all posts

Friday, 24 April 2009

Nàng Ophelia đã chết



„Hãy để tôi ra đi lúc này
Tôi chả nặng là bao trên những dòng nước
Tôi sẽ đem theo chả mấy tí
Một vài khuôn mặt bầu trời mùa hè
Một bông hồng mở."
(Le livre d’Ophélie, Anne Perrier, Diễm Châu dịch)


Nàng Ophelia đã chết rồi. Bập bềnh trong nước, giữa hương thơm của những bông hoa mà nàng vẫn yêu... Êm đềm và dịu dàng. Nàng đã đau biết bao nhiêu, đã khổ biết bao nhiêu! Nàng đã đi qua bao nhiêu vực thẳm... Những vết thương vẫn nóng bỏng như hơi ấm còn chưa rời thân thể nàng. Nước giải thoát cho nàng. Nước ôm ấp lấy nàng, vuốt ve nàng, nâng đỡ nàng, ru nàng bằng lời ru ấm áp của những tia nắng lấp lánh trên mặt sông. Những nỗi buồn sẽ chìm sâu xuống đáy. Ophelia, nàng là nước, là hoa. Bây giờ nàng trở về với nước và hoa…

Nàng có đòi hỏi gì nhiều đâu, nàng hiền lành quá. Thế giới này không có chỗ cho nàng, thế giới này đã phản bội nàng.

Nàng trong suốt và thơm hương. Ngày tinh khiết như tấm tình trong trắng của nàng. Trong một thế giới đầy buồn đau, sự điên dại là một gương mặt khác của hạnh phúc, cũng là một sự giải thoát.

Nàng đã được giải thoát hai lần. Ophelia, nàng đã chết. Một cái chết từ bi, thơm ngát và đẹp xiết bao...!

Wednesday, 25 March 2009

Hoa táo nở trên đồi Belgrad

Belgrad xinh đẹp. Belgrad dễ thương. Belgrad hiền lành và trong trẻo…

Belgrad trong tâm tưởng tôi là như thế.

Tôi đến Belgrad cùng với mẹ vào mùa xuân năm 1991. Chúng tôi ngụ tại thương vụ Việt Nam tại Nam Tư. Thương vụ chỉ có hai người: bác T. và chú D. Toà nhà của thương vụ là một căn nhà hai tầng xinh xinh, tổng cộng có khoảng 5-6 phòng gì đấy, bác T. và chú D. mỗi người ở một phòng, còn lại là phòng làm việc, phòng tiếp khách, và phòng cho khách các nước khác sang trú chân, như mẹ con tôi lần này chẳng hạn.

Khi đó là đầu mùa xuân. Trong mảnh vườn của thương vụ mọc đầy hoa bồ công anh và rau muối. Tôi nhớ bác T. bữa nào cũng hái rau muối về ăn để khỏi phải mua rau ngoài chợ. Thời đó ở đâu cũng kham khổ cả, ở Nam Tư mọi thứ lại đắt đỏ hơn so với các nước XHCN như Nga, Ba Lan, Bulgaria, Romania v.v… Thương vụ và sứ quán Việt Nam tại Nam Tư cứ 2-3 tháng lại cử một chuyến xe sang Bulgaria mua thịt, vì ở bên đó rẻ hơn nhiều. Khi bác T. mời chúng tôi sang nấu ăn cùng một bữa cơm tối, tôi vẫn nhớ cái cảm giác nổi gai ốc lúc mẹ mở tủ lạnh lấy thịt ra để chuẩn bị nấu ăn. Những tảng thịt đã đổi màu đen thui, cứng ngắc, khi xả đá ra thì lại bốc lên một thứ mùi rất khó chịu… vì chúng đã bị để trong tủ quá lâu. Nhưng bác T. vẫn rất hồn nhiên. Bữa tối đó, lần đầu tiên và có lẽ là duy nhất, mẹ con tôi không dám ăn một miếng thịt nào do chính tay mình xào nấu.

Nhưng ấn tượng về sự kham khổ của bác T. không thể làm lu mờ trong tôi vẻ đẹp non tơ đầy sức sống của Belgrad trong những ngày xuân ấy. Chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ thôi đã là một thế giới khác…

Thương vụ nằm trên một con dốc rất duyên dáng, với những căn nhà nhỏ thấp thoáng trong hoa táo. Phải rồi, hoa táo. Hoa táo nở trắng xoá hai bên đường, rộn ràng mà thanh khiết, làm sáng bừng cả không gian. Như những mảng tinh khôi được ai đó rắc lên không trung. Như là kết tinh của sương mai và ánh sáng. Để nắng như trong hơn. Để lòng người như dịu dàng và bình yên hơn…

Và tôi đã gặp thêm nhiều những con đường chìm trong hoa táo như thế ở Belgrad. Thành phố nằm trên những quả đồi với rất nhiều những con dốc nho nhỏ xinh xinh, hiền lành, yên tĩnh. Thanh bình. Thật thanh bình. Ngay cả trong khuôn viên của viện bảo tàng chiến tranh, tôi cũng có cái cảm giác ấy. Những khẩu đại bác nằm im lìm trên thảm cỏ xanh mướt, nắng rất vàng và vẫn lại là hoa táo nở trên đầu…

Tôi không ngờ rằng đó là những ngày bình yên cuối cùng của Belgrad. Và tại sao lại bình yên đến thế, trong lành đến thế, đẹp và nên thơ đến thế? Mỗi khi nghĩ đến điều này tôi lại thấy xót lòng…

Trong lớp tôi hồi đó có mấy người bạn người Nam Tư. Đối với tôi, họ mãi mãi là những người bạn Nam Tư, chứ không phải là người Serbia, Slovenia hay Croatia… Cô bạn Milena gầy gò tóc đen mắt đen. Elena cao to tóc vàng mắt xanh nhút nhát. Cậu bạn Nebojsa dài lêu khêu nhắng nhít vui tính, lúc nào cũng làm cả lớp phải cười bò, ví dụ như mỗi lần muốn chép bài của tôi là câu ta lại quỳ xuống xin như đang muốn cầu hôn. Một cậu bạn nữa tên là Savic thấp đậm, ít nói, lúc nào cũng như đang suy tư điều gì… Tôi không biết rồi đây ai trong số họ sẽ ở bên phía nào chiến tuyến. Khi đó, họ đã bắt đầu kể về những vụ đụng độ trên đường phố, nhưng chiến tranh vẫn chưa chính thức nổ ra.

Khi mẹ và tôi trở lại Ba Lan, chúng tôi bị kẹt lại Belgrad một tuần vì sân bay đình công. Lúc đó, cảm giác bất ổn đã bắt đầu lớn dần.

Chỉ ngay sau khi chúng tôi về Ba Lan thì nội chiến Nam Tư nổ ra. Nam Tư tan rã và hàng chục ngàn người chết…

Belgrad xinh đẹp và hiền lành, Belgrad tuổi mười sáu của tôi, bây giờ ra sao nhỉ? Tôi có bao giờ còn có thể quay lại đó nữa không? Hay đúng hơn, tôi có muốn quay lại đó nữa không? Những người quen của tôi gần đây cũng hay sang đó làm ăn, việc trở lại Belgrad thực ra là nằm trong tầm tay. Nhưng tôi có còn gặp lại được Belgrad của tôi ngày nào?

Thôi thì cứ để cho Belgrad mãi mãi lung linh, trong lành và êm dịu trong tâm tưởng, một Belgrad với những triền đồi trắng màu hoa táo bên dòng sông Đa Nuýp hiền hòa…

Saturday, 14 March 2009

Bận, căn bệnh của thời đại

Hôm nay tôi là một người bất hạnh nhất trên trần gian này, vì tôi đang nhàn rỗi, trong khi tất cả thế giới quanh tôi đều bận quay cuồng.

Hãy nhìn xung quanh mà xem. Những gương mặt đăm chiêu đang mải mê suy nghĩ. Những bước chân hối hả. Sinh viên khoa Luật lúc nào cũng vội vã đi đâu đó. Vội vã vào lớp, vội vã cắm cúi ghi chép, vội vã ăn qua loa quả táo hay kẹp bánh mì, vội vã vào thư viện mượn tài liệu đem đi photocopy để tối về nhà đọc, vội vã đem trả, rồi thế là vội vã chạy hộc tốc đến một văn phòng luật sư nào đó, một công ty nào đó, một tòa án nào đó, hay vội vã giải quyết những công việc riêng nào đó có trời mới biết được. Các giáo sư, trợ giảng thì trông còn khổ sở hơn. Họ tất bật với nghĩa vụ làm thầy của mình, lúc nào cũng bị một lũ sinh viên dai như đỉa đói với hàng mớ yêu sách bám riết. Trong khi miệng giải đáp vô số thắc mắc của học trò, đầu họ nghĩ tới một vụ kiện, một chuyến đi hội thảo ở nước ngoài, một bài báo họ vừa viết, một đạo luật mới ban hành với những điểm họ không vừa ý, hay một cuộc hẹn với bác sĩ mà họ không thể hủy bỏ...

Ông giáo sư đỡ đầu của tôi, prof.dr.hab. T. Dybowski, năm nay gần 70 tuổi. Một năm phải mổ xẻ tới hai lần, nằm viện hơn bốn tháng, vậy mà vẫn vừa làm thẩm phán Tòa án Hiến pháp, vừa đến trường giảng dạy, nhận vài luận án, hàng chục luận văn tốt nghiệp, và hỏi thi hàng trăm sinh viên để thỉnh thoảng phải tống cổ một vài đứa ra khỏi phòng thi trong cơn đau tim vì tức giận (ví dụ như khi một anh chàng sinh viên tội nghiệp, thay vì "hợp đồng bán" [umowa sprzedazy], lại cứ lặp đi lặp lại từ "hợp đồng mua bán"[umowa kupno-sprzedazy] y như một gã lái buôn chưa từng giở qua bộ luật dân sự). Có những lần tôi gửi hoa và thiệp tới bệnh viện thăm ông mà lòng nghẹn ngào\. Cùng với tuổi già, sức khỏe của ông mỗi ngày một kém, vậy mà ông vẫn làm việc không mệt mỏi, và đằng sau vẻ khó tính bề ngoài là cả trách nhiệm và tình thương yêu dành cho sinh viên.

Nhưng ta hãy trở lại với hiện tại, khi tôi đang nhởn nhơ ngồi gõ keyboard còn mọi người thì bận bịu.

Sự thể chẳng lấy gì làm lạc quan hơn khi người ta nhận được thư bạn bè. Trong mười lá thư thì có tới chín lá bắt đầu bằng câu "xin lỗi nhé, dạo này bận quá...", "hồi này công việc ngập đầu ngập cổ", "mình bận túi bụi" hay những câu đại loại như vậy. Ai ai cũng hối hả đến không có thời gian mà thở nữa, từ đứa em bé mới học cấp I, cấp II hay đứa bạn đã đi làm. Một bức thư Việt Nam tôi mới nhận: " Sáng em đi học Kinh tế, chiều học Tin, tối học Đại học Ngoại ngữ. Em vẫn đi học đàn guitar..." "Em tới lớp ngồi chép bài, giờ nghỉ chỉ là 5' or 10' không đủ để mà làm gì. Chỉ kịp ngoái sang người bên cạnh nói vài câu". Và rồi kết luận "Mọi thứ cứ diễn ra đều đều, rất chán".

Những bức e-mail cũng chẳng khá hơn. Mặc dù viết e-mail tốn ítthời gian hơn viết một lá thư nhiều, những e-mail mà tôi chờ đợi cũng chỉ vỏn vẹn vài dòng với những chữ "bận", "bận" và lại "bận" tiêu biểu của thời đại.

"Đối với mọi người, chỉ cần bạn có một cái tên là đủ
Thay cho bạn, người ta chỉ nhìn thấy một gương mặt"
(lời một ca khúc trong vở musical Metro của Ba Lan)

Gặp một người bạn ngoài đường. "Dạo này thế nào?". "Cũng bình thường, nhưng bận lắm". Và thế là vội vàng chia tay. Có bao giờ bạn gặp một người quen và cùng với câu chào "Dạo này thế nào?", bạn thực sự quan tâm đến những gì đang xảy đến với người đó? Có thể đằng sau gương mặt bình thản kia là biết bao nhiêu khó khăn chồng chất. Có thể người đó thực sự muốn nói với bạn một điều gì đó, muốn trút một chút nỗi lòng, hay đơn giản chỉ là muốn chuyện trò với bạn 15-20 phút..., thế nhưng khi nhìn thấy dáng dấp tất bật của bạn thì tất cả những gì đang chất chứa trong lòng họ bỗng nhiên tự động - không hiểu bằng phép thần thông nào - biến thành mấy chữ "mọi sự đều bình thường" muôn thuở.

Tôi mới gặp lại Lukasz Filipiak, một người bạn trước khá thân ra trường cách đây ba năm. Lâu lắm rồi, có lẽ gần một năm, chúng tôi không gặp và cũng không liên lạc qua điện thoại, mặc dù cả hai người cùng ở Warszawa. Đơn giản chỉ là do bận quá. Bạn tôi làm ở Văn phòng Pháp lý của Quốc hội, đồng thời thực tập tại Tòa án Thành phố. Hàng ngày đi làm tới 9-10 giờ tối mới về, nhiều hôm đến quá nửa đêm. Không được nghỉ ngơi kể cả thứ bảy. Ngày chủ nhật dành cho việc ngủ bù. Vốn là con chiên rất ngoan đạo, vậy mà bây giờ hiếm hoi lắm mới sắp xếp được một buổi đi nhà thờ. Đằng sau bộ quần aó được chuẩn bị chu đáo, gương mặt vui vẻ và tác phong nhanh nhẹn lịch thiệp kia là những đêm thiếu ngủ, những núi công việc và những mệt mỏi triền miên. Người Warszawa chính gốc, 27 tuổi, đẹp trai và giỏi giang, con nhà gia giáo, tính tình vui vẻ dễ chịu, vậy mà vẫn chưa có người yêu. "Lilia thấy đấy, chẳng cô nào chịu nổi cảnh này. Một anh bạn cùng làm với mình đang lục đục thường xuyên với vợ cũng chỉ vì luôn phải đi làm về muộn, nghĩ thấy sợ quá!"

Nhưng hình như chúng ta lại cảm thấy có chút gì đó tự hào khi mình bận rộn, và nếu như ai đó nói là bạn nhàn rỗi, bạn sẽ phản đối ngay. Một người bạn tới Ba Lan chơi, kể cho tôi nghe chuyến chu du "vòng quanh châu Âu" của anh. Tôi thán phục : "Cũng tung tẩy quá nhỉ!" Thế là anh bạn vội vàng đính chính: "Không, bình thường anh cũng bận lắm, đây là vì hứa hẹn với bạn bè từ lâu rồi..." Dường như thảnh thơi để có thời gian cho riêng mình là tội lỗi, là một cái gì đó đáng sợ, đáng tránh né!

Nhưng tôi có thể nói gì đây khi chính tôi bình thường cũng chẳng mấy rảnh rỗi, cũng hay kêu ca một cách vô ý thức rằng tôi rất bận, cũng viết những bức thư ngắn ngủi, cũng chào "dạo này thế nào?" với một ngữ điệu vô tâm, và nếu như đôi khi có được một chút thời gian nhàn hạ hằng mơ ước thì bỗng lại cảm thấy mình như có lỗi, như thừa thãi, như bất hạnh...

"Bạn muốn đập vỡ tấm kính
Nhưng nó cong lại
Và đằng kia là tất cả mọi người
Còn phía đối diện là bạn"

(30-10-1997)

Saturday, 7 March 2009

Buổi sáng bên hồ


Tôi đẩy xe nôi đưa con trai nhỏ đi dạo bên hồ, trong công viên cạnh nhà. Trên hồ, đám hải âu từ đâu lại bay đến, bơi rợp mặt nước. Thỉnh thoảng, một con hải âu nào đấy cắm thẳng đầu xuống hồ, rồi bay lên, mỏ ngậm một chú cá con. Những con khác thì đậu thành hàng trên thành cầu. Mặt nước lấp lánh bàng bạc, những cây cầu thép bàng bạc, đám hải âu trắng bàng bạc. Nếu như tôi chụp bức ảnh này, người ta sẽ thấy trên cái nền bàng bạc ấy nổi lên những đốm lấm chấm đỏ tươi là chân và mỏ của đàn hải âu. Những chấm đỏ nhảy nhót, chuyển động liên hồi như những đốm lửa nhỏ.

Bên hồ, một bé gái cùng cha cho đám vịt ăn vụn bánh mì. Mỗi khi bé gái ném vụn bánh xuống, lũ vịt lại nhao đến, chen chúc, tranh cướp nhau. Chúng mổ nhau chí chóe. Mấy con vịt ở xa xé gió lao đến như tên lửa. Những con hung hãn hơn kêu lên quàng quạc, đuổi các con khác tránh xa. Nhưng thật lạ lùng, ngay cả những con vịt hung hãn nhất cũng sợ đám vịt con. Chỉ cần một chú vịt con dẩu mỏ ngỏng đầu dọa dẫm hướng về phía chúng, chúng lập tức im bặt, sợ hãi né ra. Không phải là chúng nhường nhịn, mà chúng sợ thật sự. Cứ như đám vịt con có một năng lực đặc biệt nào đấy, chúng bé bỏng và yếu đuối đến thế cơ mà? Vì đám vịt con quá bé để biết sợ, cho nên những con vịt vốn quen với việc kẻ khác sợ mình phải chùn bước? Vì đó là một quy luật tự nhiên bí ẩn nào đó: người lớn phải nể sợ trẻ con? Nếu đúng là có một quy luật như thế, thì con người nhiều khi đã quên mất nó.

Một con quạ mon men gần cô bé. Cô bé ném cho nó một mẩu bánh mì, nó sung sướng cắp lấy, bay sang bờ bên kia. Bánh mì cứng, nó bèn nhúng nhúng xuống nước rồi mới tha lên bờ, từ từ đánh chén, bộ dạng vẫn hết sức cảnh giác với đám vịt giời có thể đến cướp mẩu bánh của nó bất cứ lúc nào.

Đằng kia, một cô gái ngồi trên ghế băng đọc sách, tay đu đưa nhè nhẹ chiếc xe nôi. Cô mặc váy màu sô cô la với các họa tiết hoa màu hồng, áo len mỏng hồng nhạt, áo choàng nhẹ và đôi giày màu cánh sen tươi. Chiếc xe nôi thân màu sô cô la, mui cũng màu cánh sen. Nắng xuyên qua mui xe làm nó trở nên trong suốt. Trong nắng sớm, mái tóc cô gái và những trang sách như phát sáng. Cô gái, quyển sách, chiếc xe nôi, băng ghế gỗ, thậm chí cả cái thùng rác cạnh đó, tất cả tạo nên một tổng thể vô cùng hài hòa. Cả động tác đu đưa xe nôi nhè nhẹ của cô cũng hài hòa với những bông hoa đang rung rinh trên váy và tiếng giở sách sột soạt. Cả ánh nắng và tiếng trẻ con lao xao từ xa vọng đến...

Bây giờ là mùa thu. Mấy bác thợ làm vườn đang chuẩn bị cho mùa đông sắp tới. Đám lau sậy trồng làm cảnh bị phạt ngang gốc, ngổn ngang đầy mặt đất. Các bụi găng bị lưỡi cưa máy len vào, tuốt hết lá, chỉ còn cành trơ trụi, rồi bị tỉa gọn lại thành những cụm tròn tròn. Những vườn tầm xuân còn đầy hoa cũng bị chặt xuống, hoa chất thành từng đống trên bãi cỏ. Thì ra, để có mùa xuân đẹp tươi, cây cối phải đau đớn đến thế. Nhưng có lẽ không nỗi đau nào là vô nghĩa.

Tôi và vài phụ nữ khác tìm nhặt những nhành tầm xuân còn tươi mang về nhà cắm. Những chiếc xe nôi bây giờ chất đầy hoa, ngập trong hoa, tỏa ra trên các con đường nhỏ trong công viên.

Trên đường về, tôi thấy một tấm bảng quảng cáo. Bức ảnh chụp cái máy tính xách tay với hàng chữ to: “Hãy mang cả thế giới theo bạn” Cả thế giới giá chưa đến một nghìn năm trăm Euro. Cả thế giới nằm trong một cục kim loại lạnh lẽo. Thời đại của chúng ta mới tội nghiệp làm sao! Người ta biết rõ sinh hoạt từng ngày hay mùi nước hoa ưa thích của một người ở tận đầu kia thế giới, nhưng lại chẳng hiểu nổi người sống ngay bên cạnh mình. Thay vì năm giác quan, người ta chỉ cần dùng đến hai. Và người ta cho rằng như thế là đủ, rằng đó là cả thế giới.

Nhưng trong thế giới ấy không có những buổi sáng bên hồ.

Tôi nhìn gương mặt con trai đang say ngủ và những bông tầm xuân mịn màng tinh khôi. Con thân yêu, thế giới của chúng mình sẽ không ảm đạm và nhạt nhẽo như vậy. Thế giới của chúng mình sẽ luôn có chỗ cho những buổi sáng trong trẻo bên hồ.

Sunday, 22 February 2009

Tristesse

(Nhà Chopin, tranh sơn dầu của Nguyễn Thị Hòa)

*


Tôi xa Hà Nội vào một ngày đầu hè năm tôi mười bốn tuổi, và trở về sau đúng mười bốn năm. Thật kỳ lạ. Mười bốn năm thơ ấu đủ để tôi biết mình là người Việt Nam. Mười bốn năm xa Việt Nam đủ để tôi không biết mình là ai. Mười bốn năm trước để tôi nhớ Hà Nội, mười bốn năm sau để tôi nhớ Vác-sa-va.


Thế là trở về thật sao? Trở về hay là ra đi? Mùa này Vác-sa-va đang rực rỡ. Bồ công anh vàng rực ven đường và trên các triền đồi trong thành phố. Những con đường tím ngát tử đinh hương mà tôi vẫn say mê. Những đóa hoa trà sắc hồng sắc trắng nở bung thật hào phóng từ những cái nụ ngỡ là nhỏ bé. Hoa linh lan trắng như những chùm chuông bé xinh xinh, hoa lưu ly tím mong manh một lời nhắn nhủ “xin đừng quên tôi”, hoa chuông biêng biếc như “những giọt trời xanh trên mặt đất”. Hoa cúc áo, hoa păng xê, hoa mõm chó và vô vàn những loài hoa tôi chẳng biết tên nở tưng bừng trong các nhà vườn ven ô. Một chút nữa thôi, uất kim hương và huệ tây sẽ ào ạt phủ màu lên những vườn hoa và công viên. Hoa thuốc phiện sẽ đỏ thắm nồng nàn trên các cánh đồng. Rồi bao nhiêu loài hoa đồng nội khác.... Tôi yêu bản giao hưởng màu sắc xuân hè tưng bừng mà tinh khôi ấỵ Tôi yêu và tôi nhớ....


Tôi nhớ những buổi chiều muộn đi dạo trên Thành Cổ, lắng nghe tiếng giày mình lộp cộp gõ trên đá chân mèo, nhìn dòng người qua lại và nghe tiếng đàn quay của một ông lão vui tính. Tôi nhớ công viên Lazienki và các buổi trình tấu piano ngoài trời. Mùa hè, vào mỗi cuối tuần, mọi người đều có thể đến đây nghe các nghệ sỹ chơi nhạc Chopin, bên tượng đài của ông, giữa vườn hoa hồng mênh mông. Đám thanh niên thường nằm lăn ra cỏ, vừa nghe nhạc vừa ngó nghiêng trời mây, nhường chỗ cho các bậc lớn tuổi mũ áo chỉnh tề.

Nhớ căn nhà nhỏ ở Zelazowa Wola, nơi Chopin đã chào đời, cây cầu nho nhỏ, một dòng nước xinh, tiếng đàn piano réo rắt theo từng bước chân trong vườn. Và nhớ trường Tổng Hợp của tôi, nơi có căn nhà Chopin từng sống thời niên thiếu. Hóa ra những gì gắn với Chopin đã thân thiết với cuộc sống của tôi tự bao giờ. Tôi đã yêu bản Tristesse bằng mối tình đầu. Mà sao laị là Tristesse, tại sao lại là tiếc nuối nhỉ. Tôi chợt nghĩ đến một câu nói : “Bâ’t cứ sự thay đổi nào cũng mang trong nó chút tiếc nuối”. Đang có một thay đổi lớn trong cuộc sống của tôi. Và rồi cuộc đời sẽ còn đem đến cho ta bao nhiêu đổi thay dâu bể? Ôi, bản Tristesse định mệnh của tôi! Những thành phố tôi đã đi qua, những con người tôi đã gặp và yêu mến, những kỷ niệm trong trái tim tôi, bao âm hưởng, bao sắc màu và hình ảnh, tiếp nối theo nhau, cuốn theo nhau, quyện vào nhau, tan trong nhau, để vang lên tha thiết và nồng nàn như bản Tristesse tôi sẽ mang theo suốt cuộc hành trình dài trên mặt đất này. Trong cuộc hành trình ấy, giống như người phi công trên sa mạc trong truyện Hòang Tử Bé mà Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần đã nhắc, tôi sẽ không được phép nản chí và gục ngã, bởi vì những người thân yêu và bạn bè không tin là tôi sẽ gục ngã, và tôi không thể phụ lòng tin ấy, không thể phụ Tristesse của tôi. Tôi sẽ phải đứng dậy và bước tiếp như người phi công kia. Cuối cùng, tất cả những gì ta có được trong cuộc đời này đều bắt nguồn từ tình thương yêu và lòng tin của những người thân thiết quanh ta. Không có sự tin yêu của người thân, của bạn bè, có lẽ ta đã tan biến từ lâu trong cát bỏng sa mạc.

Cảm ơn Tristesse, cảm ơn Cuộc Đời, cảm ơn Tình Yêu và Tình Bạn....

Hà Nội, tháng 5/2003


Saturday, 7 February 2009

Rodos, viên ngọc trai của Địa Trung Hải


Biển xanh, nắng vàng, cát trắng, với cả bầu trời Địa Trung Hải trên đầu và niềm vui „xê dịch” – có lẽ chẳng còn gì hấp dẫn hơn thế trong những ngày mây mù ẩm ướt của Vác-sa-va này. Vậy là chúng tôi lên đường. Điểm đến là Rodos, hòn đảo xinh đẹp miền đông nam Hy Lạp vốn được du khách rất yêu chuộng.

Rodos nằm giữa ngã ba châu Âu, châu Á và châu Phi trên biển Địa Trung Hải. Cuối xuân đầu hạ, từ trên máy bay nhìn xuống, Rodos xanh mướt như một trái ô-liu non. Theo thần thọai Hy Lạp, đây là hòn đảo của thần mặt trời Helios, mang tên người vợ của thần. Phải chăng vì thế mà Rodos quanh năm chan hòa ánh nắng. Và Rodos đã đón chào chúng tôi bằng nụ cười thật rạng rỡ xinh đẹp mà cũng đầy bí ẩn...

Biển, nắng và ...gió

Với khoảng 100 ngàn dân và 220 km bờ biển, hàng năm Rodos đón gần 1,3 triệu lượt khách du lịch. Du khách từ khắp nơi trên thế giới đến đây để hưởng những ngày nghỉ ngơi thoải mái với biển, với nắng. Nắng không thể trong hơn và biển không thể xanh hơn. Hầu như ở bãi biển nào cũng có thể lướt sóng, lướt ván và chơi các môn thể thao dưới nước khác. Sôi động nhất là Lindos và Faliraki. Thế nhưng Rodos vẫn có những bãi biển hoang sơ, những khoảng lặng thật bất ngờ. Cách Faliraki không xa là vịnh Athony Quinn ở Ladiko, một vịnh nhỏ vắng lặng và rất yên tĩnh. Không nghe thấy cả tiếng sóng vỗ. Thời gian như ngưng lại nơi đây. Những tảng đá hiền lành, màu xanh thăm thẳm của trời, màu xanh biếc xanh của biển... Nước biển Rodos ở đâu cũng trong. Ngay cả ở bến cảng, nước vẫn trong veo và có những đàn cá con bơi tung tăng. Nhưng có lẽ nước trong hơn cả là ở Tsambika, bãi biển đẹp vào bậc nhất của Rodos với những con sóng nhỏ dịu dàng vỗ về và bờ cát mịn màng cong cong quyến rũ.

Nhưng ngoài biển và nắng, Rodos còn có... gió. Vừa mới ở ngoài nắng nóng là thế, vào bóng râm đã lại thấy se se lạnh. Gió lồng lộng bên bờ biển. Gió vi vút trên những sườn núi, triền đồi. Ở đâu cũng có gió. Phải chăng đây chính là những cơn gió thần thoại xa xưa từng làm bay tung mái tóc nàng Daphne xinh đẹp, nữ thần của cỏ cấy suối nước, khi nàng chạy trốn tình yêu của thần Apollo... Những tán cây nguyệt quế mà nàng hóa thân đang xào xạc bên đường. Gió vẫn vuốt ve mái tóc nàng tự ngàn năm, hay lời yêu đương của thần Apollo vẫn đang thì thầm?


Phố cổ Rodos và vệ thành Lindos

Với hơn 3000 năm lịch sử, Rodos có một nền mỹ thuật rất phát triển, nhất là nghệ thuật làm đồ gốm sứ và nghệ thuật điêu khắc. Vào năm 42 trước CN, người La Mã đã chiếm đảo Rodos và lấy đi hơn 3000 phẩm vật. Rodos là quê hương của tuyệt tác Laocoon nổi tiếng, bức tượng diễn tả cảnh thần Laocoon và hai người con trai đang đánh nhau với con trăn biển khổng lồ, hiện đang được trưng bày ở bảo tàng Vatican. Một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại là tượng thần Helios bằng đồng, cao 33 mét, nặng 70 tấn, được những người thợ Rodos làm ròng rã trong suốt 12 năm (từ năm 292 đến năm 280 trước CN). Tương truyền, bức tượng được dựng trên lối vào cảng của thành phố Rodos, nay là thủ phủ của đảo Rodos. Vào năm 226 trước công nguyên, bức tượng đã bị phá hủy trong một trận động đất.

Đến thành phố Rodos, chắc chắn không thể bỏ qua khu phố cổ, nơi mỗi viên đá đều mang một câu chuyện trong lòng. Có những viên đá kể về các đội quân thập tự chinh, có những viên đá vang vọng nỗi đau bị La Mã và Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng, có tảng đá ca ngợi vẻ đẹp của nàng Aphrodite, nữ thần Tình Yều và Sắc đẹp... Nhưng tôi lại nhớ nhất những viên đá cuội bình dị trên các vỉa hè phố cổ. Người ta chọn các viên đá cuội tròn trịa, cỡ gần bằng nhau, màu trắng hoặc màu xám đậm, xếp thành hoa văn lát kín vỉa hè, rất kỳ công. Những viên đá đã được sóng biển mài nhẵn, ngày càng bóng lên dưới bao bàn chân người qua lại. Những viên đá nhỏ bé và khiêm nhường, ngày ngày lặng lẽ dạy cho ta bài học của thời gian.

Thành phố Lindos nằm bên bờ đông, cách thủ đô Rodos khoảng 55 km. Theo Homer, Lindos được xây dựng vào thế kỷ XII trước CN. Vệ thành (acropolis) Lindos là nơi bất cứ du khách nào khi đến đảo Rodos cũng nhất thiết phải ghé thăm. Trên đỉnh vệ thành - điểm cao nhất của Lindos - là di tích đền thờ thần Athena (thế kỷ IV trước CN). Những bậc thang cuối cùng dẫn lên đền thờ còn được gọi là „thang lên trời” Từ đây nhìn xuống, một bên là biển xanh bao la, một bên là những mái nhà trắng xinh đẹp của Lindos, hít thở đầy lồng ngực bầu không khí trong lành, giữa không gian khoáng đạt lồng lộng, giữa vô hạn của thời gian và hữu hạn của cuộc sống, bạn sẽ cảm thấy như mình đang đứng trên đỉnh của thế giới.

Dolce Vita

Cuộc sống ở Rodos thật tươi đẹp. Những ngày cuối xuân, hoa phủ đầy trên các triền núi, sườn đồi. Hoa anh túc đỏ thắm, bồ công anh vàng rực, hoa cúc dại trắng hồn nhiên, và rất nhiều các loài hoa núi li ti, những thứ hoa đồng nội đầy màu sắc mà tôi chưa kịp biết tên. Rodos là thiên đường của các nhà thực vật học. Có tới 29 loài cây chỉ sống ở đây. Ở Petaloudes phía đông bắc Rodos có một thứ cây mà loài bướm rất yêu thích. Từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm trong thung lũng này có tới hàng trăm ngàn con bướm cư ngụ. Petalaudes còn có tên là Thung Lũng Bướm (Valley of Butterflies).

Rodos còn cho riêng tôi khoảnh khắc ngỡ ngàng cảm động khi nhìn thấy khu vườn đầy hoa loa kèn trong một biệt thự bên đường. Đúng thứ hoa loa kèn trắng thanh tinh khiết tôi yêu, thứ hoa e ấp dịu dàng vẫn tràn ngập phố phường Hà Nội vào mỗi tháng tư mà đã lâu lắm rồi tôi chưa được nhìn thấy. Cả một Hà Nội của tuổi thơ chợt ùa về rưng rưng trong mùi hương loa kèn bên bờ Địa Trung Hải. Chợt thấy Rodos như một người bạn đã quen từ lâu.

Nhưng có lẽ đối với du khách, hình ảnh Rodos luôn gắn liền với những ngôi nhà trắng xinh xắn bên giàn hoa giấy rực rỡ, hay bên bụi hoa râm bụt đỏ. Tôi đã gặp những ngôi nhà như thế ở Lindos và ở Pastida - một làng nhỏ cách thành phố Rodos chừng 14 km. Ở đây, chúng tôi đã được hưởng một buổi tối Hy Lạp tuyệt vời. Du khách từ khắp nơi đến nơi này, quây quần bên nhau, nghe những bản nhạc truyền thống Hy lạp, nhảy những điệu nhảy Hy Lạp, thưởng thức các món ăn dân dã, nhấm nháp chút ouzo - thứ rượu "quốc lủi" của Hy Lạp. Chỉ có niềm vui và tình thân ái, thế giới đại đồng. Không cần biết bạn là ai, bạn làm gì, bạn từ đâu tới, chỉ biết giờ này bạn ở Rodos, ở Pastida, bạn hít thở chung bầu không khí Hy Lạp này. Ông triệu phú người Nga tay trong tay, vai kề vai nhảy múa hò hét với bà cụ già hưu trí người Anh. Cô gái Hàn Quốc xinh tươi nồng nhiệt trong vũ điệu rộn ràng với chàng vũ công Hy Lạp có gương mặt đẹp như tượng thần... Đêm có thể kéo dài đến vô tận. Khi ra về, vẫn còn đọng lại mãi trong lòng du khách niềm vui chan chứa và ánh mắt nụ cười của các chủ nhân.

Không chỉ ở Pastida, đâu đâu trên đảo Rodos tôi cũng gặp những ánh mắt nụ cười thân thiện của người bản xứ. Người Rodos nồng nhiệt, hiếu khách và văn minh. Trước các tiệm ăn, nhân viên phục vụ ra tận cửa mời chào, nói chuyện vui vẻ với khách qua lại, nhưng rất lịch sự. Không có chuyện lôi kéo mời mọc mà như ép uổng giống ở Việt Nam, cũng không lạnh lùng cảnh vẻ như ở Pháp. Khi dùng bữa trong tiệm ăn, ngoài người phục vụ luôn túc trực, người quản lý thỉnh thoảng lại đến hỏi xem bạn có hài lòng không. Tại khách sạn chúng tôi ở, hàng ngày khi người quản lý phòng ăn xuất hiện, việc đầu tiên ông làm là đi một vòng chào tất cả các thực khách đang có mặt. Ngoài phố, lúc cần hỏi đường, du khách sẽ được chỉ dẫn rất tận tình. Các bến taxi đều có sẵn bảng niêm yết giá đến từng nơi. Các quầy hàng bày đầy hàng hóa ra hè phố, từ đồ lưu niệm, đồ trang sức vàng bạc đến thực phẩm hoa quả v.v. Khách thích gì nhặt nấy rồi đem vào bên trong trả tiền, hoàn toàn tự giác. Rodos là một trong những nơi an toàn nhất thế giới, hầu như không có trộm cắp. La dolce vita.

Nhưng "Dolce Vita" còn là một bất ngờ khác của Rodos. Không chỉ nhãn hiệu nước hoa này của Christian Dior, mà hầu như tất cả các nhãn nước hoa khác của hãng này, cũng như của các hãng hàng hiệu khác từ Chanel, Guerlain, Givenchy đến Kenzo... đều được bày bán đầy trong các siêu thị, cửa hàng với giá khoảng 5-10 Euro. Kính mát Gucci, Ray Ban, quần áo Prada, D&C, Armani, Versace, Ralph Laurel v.v. cũng cùng chung số phận. Không ngờ ở một nơi giữa Liên Hiệp châu Âu mà hàng nhái lại được bày bán "thiên nhiên" như vậy. Tôi đành tự đoán mò, chắc vì Rodos ở ngay bên sườn Thổ Nhĩ Kỳ nên cũng bị ảnh hưởng không ít.

Tôi yêu Symi!

Những cô bé cậu bé học sinh người Hy Lạp đang đứng trên boong tàu đã kêu lên như thế, khi chúng tôi bắt đầu cập bến Symi - một đảo nhỏ cách Rodos khoảng 21 hải lí về phía tây bắc. Symi quả là đẹp như tranh. Bên bờ vịnh nhỏ, những ngôi nhà đầy màu sắc nằm san sát trên sườn đồi dốc đứng. Dưới bến, những chiếc du thuyền cắm cờ Hy Lạp, cờ Anh, Ý, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ... nằm kề bên nhau. Những người dân Rodos cũng thích đến đây chơi cuối tuần. Họ đi 2 giờ tàu thủy tới đây, ăn một bữa trưa, mua sắm chút đồ rồi lại đi tàu thủy về. Thỉnh thoảng họ cũng có thể đến nghỉ cả tuần. Không khí ở đây rất trong lành, phong cảnh thật dễ thương. Symi được xem là một trong những đảo đẹp nhất của Địa Trung Hải. Trước đây, Symi từng là thủ phủ của vùng Dodekanes, là nguồn cung cấp rong biển lớn nhất vùng. Tu viện Panormitis ở phía nam đảo Symi vô cùng đồ sộ, là tu viện lớn thứ 2 trong vùng.

Chúng tôi ghé vào một quán ăn bên bờ biển, các bàn ăn được kê trên vỉa hè xây cao, ngay sát mép nước. Màu nước xanh trong vắt. Mấy chú mèo ngồi bên chân bàn, lười nhác nhìn những đàn cá bơi lượn phía dưới. Gió biển thổi nhè nhẹ. Những con thuyền dong buồm trắng xa xa. Không thể ra về mà không luyến tiếc...

Tạm biệt nhé, viên ngọc trai của biển Địa Trung Hải! Nhất định chúng tôi sẽ trở lại Rodos, trở lại Symi, để khi tàu sắp cập bến, tôi cũng sẽ kêu lên thật to: "Tôi yêu Symi!"
(bài đã đăng trên Tạp chí Truyền hình, số ?/2008)

Tuesday, 3 February 2009

Sự tích hoa nhã thảo


Thủa ấy, đã lâu lắm rồi, ở phía cuối chân trời kia, trong ngôi làng nhỏ ven rừng có một đôi bạn rất thân cùng nhau lớn lên.

Ngày ngày, cậu bé và cô bé cùng nhau chơi đùa. Khi thì họ rủ nhau vào khoảng rừng thưa, cậu bé hái những thứ quả ăn được đem chia cho cô bé. Họ thích thú lắng nghe tiếng chim chóc ríu ran trong vòm lá, nhìn những chú sóc nâu thoăn thoắt chuyền cành, hay ngắm nghía mấy chú ốc sên đầy màu sắc. Khi thì họ chạy đuổi nhau trên trảng cỏ bên bìa rừng, tóc cô bé tung bay trong gió. Cô bé có mái tóc óng ả đẹp tuyệt trần. Họ cũng hay ra bờ suối chơi, khi đó cậu bé lội xuống suối tìm nhặt những viên đá cuội thật đẹp, còn cô bé thì tha thẩn ven bờ, hái những bông hoa dại để kết thành vòng hay cài lên tóc. Cậu bé rất yêu mái tóc cô bé, cậu thích nghịch ngợm tát nước suối lên tóc cô, để những giọt nước long lanh li ti đọng vào đó lấp lánh sáng lên dưới ánh sáng mặt trời... Cậu thích nhất khi cô bé tết tóc thành bím, thích ngắm hai bím tóc dài trên vai cô bé tinh nghịch nhún nhẩy mỗi khi cô chạy ào đến với cậu, má ửng hồng...


Bên bờ suối có một ngôi nhà gỗ bỏ hoang. Ngày trước, có một ông lão gác rừng sống ở đó, nhưng từ khi ông bỏ đi, không còn ai gác rừng nữa. Ngôi nhà rất nhỏ và đã xiêu vẹo, nhưng nó lại là một chỗ trú ẩn lí tưởng cho đôi bạn những khi trời bất chợt đổ mưa. Một lần, họ tìm thấy một chiếc hòm bí mật đặt trong cái hầm nhỏ dưới nền nhà. Trong hòm không có gì hết, có lẽ trước đây ông lão gác rừng dùng nó để cất đồ đạc của mình. Mặc dù vậy, đôi bạn vẫn ngất ngây sung sướng vì khám phá này. Kể từ đó, chiếc hòm trở thành „thùng thư bí mật” của họ. Nếu không gặp nhau, họ để lại đấy cho nhau những món quà nho nhỏ, khi là cái bánh mẹ mới nướng, khi là bức tranh nhỏ mới vẽ, khi thì đơn giản chỉ là một viên đá, một cành hoa...
 
Năm cậu bé lên mười, gia đình cậu chuyển ra thành phố. Cậu bé và cô bé khóc hết nước mắt. Trước khi lên đường cùng cha mẹ, cậu bé nói với cô bé: „Bạn hãy giữ mãi mái tóc này cho mình nhé, nó rất đẹp. Mình sẽ rất nhớ bạn!”.
 
Từ đó họ bặt tin nhau. Vài năm sau, nhà cô bé cũng chuyển đi nơi khác, đến một nơi ồn ào và đông đúc mà người lớn thích. Người lớn thật khó hiểu. 
Thời gian trôi qua, cậu bé và cô bé ngày xưa cũng trở thành người lớn. Họ cũng dần dần trở nên khó hiểu. Nhưng thỉnh thoảng, trong những lúc tĩnh lặng hiếm hoi, họ nhớ lại ngôi làng bên cánh rừng thưa của thời thơ ấu và người bạn nhỏ ngày nào. Khi ấy, họ cảm thấy những điều khó hiểu bỗng trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn đôi chút.
 
Một buổi sáng mùa xuân, cậu bé giờ đã là một chàng trai trở lại thăm làng xưa. Chàng trai lang thang khắp nơi, nhưng mọi thứ đã trở nên xa lạ. Buồn bã, chàng đi ra bờ suối. 

Ngôi nhà gỗ của người gác rừng vẫn còn đó, lút trong cỏ dại và càng xiêu vẹo hơn. Chợt nhớ đến hòm thư bí mật, chàng tìm lại nắp hầm và kéo lên. May sao, cái hòm vẫn nằm đó. Chàng trai mở cái hòm ra, và sững người.
 
Trong hòm, bím tóc xinh xắn của cô bé nằm ngay ngắn, bím tóc mà chàng từng yêu đến thế. Nó được tết thêm những sợi ruy băng hồng, tím, trắng. Không hiểu vì sao cô bé lại cắt bím tóc đi và để lại đây cho chàng. Đây là một bí mật, vì cô bé vốn thích những điều bí mật.

Nhìn món quà của cô bé dành tặng cho mình, hình ảnh cô bạn nhỏ và bao kỷ niệm ấu thơ chợt ùa về, chàng trai nghẹn ngào lặng đi. Từ khóe mắt trên gương mặt phong trần của chàng, hai giọt lệ ứa ra, nhỏ xuống bím tóc. Chúng đọng lại trên đó một thoáng, long lanh và tinh khôi, rồi tan ra và biến vào những sợi tóc.
Chàng trai cất bím tóc về chỗ cũ rồi trở về thành phố.
 
Từ bím tóc của cô bé, nơi hai giọt lệ của chàng trai nhỏ xuống, kỳ lạ thay, những mầm cây nhỏ mọc lên, dài ra và nảy những chiếc lá nhỏ mỏng mảnh, mỗi ngày một nhiều hơn. Rồi những bông hoa li ti màu hồng, tím, trắng nở ra, phủ khắp thân cành, trông tựa những dải ruy băng trên bím tóc cô bé. Đám hoa lan ra thật nhanh, trông mỏng manh yếu đuối như vậy nhưng chúng thật dẻo dai, dù trời gió mưa hay nắng gắt, chúng vẫn tràn đầy sức sống. Đó chính là hoa nhã thảo, loài hoa của tình bạn thủa ấu thơ trong sáng và tinh khôi.

Mùa xuân năm sau, cô bé giờ đã là một cô gái cũng lại trở về thăm làng cũ. Cô gái tìm đến ngôi nhà của người gác rừng. Căn nhà gỗ cũ kỹ giờ đây ngập trong hoa nhã thảo, như bừng sáng lên trong sắc hồng, trắng, tím. Cô gái bàng hoàng, ngây ngất trước vẻ đẹp dịu dàng tinh tế của hoa, nàng đem chúng về thành phố trồng trên ban công nhà mình. 

Hàng xóm láng giềng thấy loài hoa đẹp và dễ trồng, mỗi người xin một ít. Từ đó, hoa nhã thảo xuất hiện ở thành phố, dần dà trở nên quen thuộc ở khắp nơi.
Chàng trai cũng nhiều lần đem nhã thảo về trồng trước hiên nhà. Chàng thích ngắm những bụi nước li ti long lanh đọng trên cánh hoa mỗi sáng tinh mơ. Chúng gợi cho chàng một cảm giác thân thương thuần khiết rất dịu dàng mà chàng không sao lý giải được. 

Nhưng cả chàng trai và cô gái đều không biết rằng loài hoa ấy mọc lên từ bím tóc kỷ niệm ngày xưa.

Bởi vì đó mãi mãi là một bí mật.

( Viết tặng con trai ngày đầy tháng, 9.7.2008)

Wednesday, 22 October 2008

Tunisie những ngày hè rực nắng


Tunisie là một đất nước nhỏ bé với chưa đầy 10 triệu dân, nằm khép nép giữa Algeria và Libia, ở Bắc Phi, bên bờ Địa Trung Hải. Cả „Tunisie” và „châu Phi” đều là những từ rất xa lạ đối với tôi, nhưng chính vì thế lại rất hấp dẫn và hứa hẹn đầy niềm vui khám phá.


Chúng tôi đến Tunisie vào những ngày cuối tháng 8. Châu Phi nghe thì thật là xa, nhưng thực ra Tunisie chỉ cách Ba Lan gần 3 giờ bay. Điều bất ngờ đầu tiên mà Tunisie dành cho chúng tôi là hoa. Những giàn hoa giấy, rồi hoa dâm bụt, hoa ngũ sắc, hoa đồng hồ ... nở tưng bừng rực rỡ trong nắng hè, khiến chúng tôi có cảm giác như mình đang ở Việt Nam. Tunisie đã chào đón chúng tôi như thế, bằng nụ cười tươi tắn của những loài hoa dân dã nước mình. Và Tunisie là vậy – vừa mới lạ vừa thân quen, tưởng xa mà lại rất gần...


Chúng tôi nghỉ ở Hammamet Yasmine, một thành phố du lịch sạch vào bậc nhất Tunisie, cũng là nơi có bờ biển đẹp nhất. Nằm trên bán đảo Cap Bon, rất gần đảo Sicily của Ý, Hammamet Yasmine còn được gọi là „Vườn Địa Đàng” hay „Thành phố hoa nhài”. Và hoa nhài chính là điều bất ngờ thú vị tiếp theo của Tunisie. Buổi sáng đầu tiên ở Hammamet Yasmine, tôi ngỡ ngàng tận hưởng mùi hương hoa nhài thanh khiết, dịu dàng lan tỏa trong khuôn viên khách sạn. Không gian trong veo như những buổi sớm tinh khôi của một thời thơ ấu, trong mảnh vườn nhà ông bà ngọai ngày nào...


Một ngày mới bắt đầu. Sau bữa sáng, mọi người đi tắm biển hoặc giải trí bên bể bơi. Trời xanh. Nước xanh. Nắng vàng rực rỡ mà không gay gắt. Dưới tán rợp của những chiếc ô lá cọ, người ta có thể nằm dài hong nắng sau khi đã bơi lội thỏa thích, thư giãn trong tiếng nhạc khi êm dịu lúc rộn ràng và quên hết những ưu tư lo lắng thường ngày. Các nhân viên khách sạn nhiệt tình, dễ mến, hướng dẫn mọi người tập aerobic và thể dục dưới nước theo nhạc, hoặc bày những trò chơi vui nhộn quanh bể bơi. Cuộc đời trở nên thật đáng yêu và chan hòa niềm vui sống.


Sau một ngày nghỉ ngơi lười biếng, chúng tôi bắt đầu cuộc khám phá Tunisie bằng chuyến thăm quan Tunis-Carthage-Sidi Bou Said. Tunis, thủ đô của Tunisie, nằm ở phía Bắc, cách Hammamet Yasmine chừng 60 cây số. Càng đi về phía bắc, cây cối càng xanh tươi. Miền bắc là vùng có nhiều mưa nhất, với lượng mưa khoảng 1500 mm một năm. Ở đây có rừng, có các loại nấm và rau củ quả như ở châu Âu. Miền Trung có lượng mưa bằng một nửa miền Bắc, cây cối thưa thớt, chủ yếu là ô-liu. Miền Nam khô cằn nhất, chỉ có sa mạc và bán sa mạc, có những nơi 2-3 năm mới có mưa một lần. Do đó, cư dân tập trung chủ yếu ở miền Bắc. Hơn một phần ba người dân Tunisie sống bằng nghề du lịch.


Ngôn ngữ chính ở Tunisie là tiếng Ả rập và tiếng Pháp. Tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc trong các trường trung học. Vì thế, đến Tunisie bạn có thể giao tiếp rất thoải mái. Trong khách sạn, các nhân viên tiếp tân còn có thể nói trôi chảy tiếng Ý và tiếng Đức. Người Đức sang Tunisie du lịch rất đông, chỉ riêng năm 2003 đã có tới 600 ngàn người Đức đến đây nghỉ hè.


Thủ đô Tunis ồn ào, bụi bặm và kẹt xe giống như Sài Gòn vậy. Thành phố này có tới hơn 10 ngàn chiếc xe taxi, tất cả đều được sơn màu vàng. Hơn một phần ba lái xe taxi là phụ nữ. Tuy là một nước theo đạo Hồi, nhưng phụ nữ ở Tunisie có địa vị khá tốt. Tổng thống đầu tiên của Tunisie đã bỏ chế độ đa thê từ năm 1958 và mang đến cho phụ nữ nhiều quyền lợi, trong đó có quyền được đi làm như nam giới. Hiện nay Tunisie có 2 nữ bộ trưởng.


Người Tunisie treo ảnh tổng thống ở khắp nơi, kể cả trong tiệm ăn và khách sạn, thậm chí trước cửa ... nhà vệ sinh! Tổng thống hiện nay của Tunisie là người có tư tưởng tiến bộ và rất chú trọng đến giáo dục, ông đã từng tốt nghiệp đại học quân sự ở Mỹ và từng làm đại sứ Tunisie tại Ba Lan.


Trước các cơ quan của chính phủ đều có treo cờ và nghiêm cấm quay phim chụp ảnh. Tôi và cô bạn vì không biết điều này nên đã bị cảnh sát huýt còi nhắc nhở ầm ĩ khi chúng tôi đang quay phim chụp ảnh tháp đồng hồ trên đại lộ chính của Tunis. Nghe nói trong giải bóng đá Châu Phi vừa rồi, sau khi các cầu thủ Tunisie giành cúp vô địch, một cổ động viên nồng nhiệt đã leo lên tháp đồng hồ này và ...nhảy xuống đài phun nước bên dưới. Rất may là anh ta không hề hấn gì.


Đến Tunis cũng như các thành phố khác của Tunisie, bạn có thể sẽ nhìn thấy một cảnh tượng lạ mắt: trong các quán cà phê hai bên hè đường, các quí ông ngồi rất đông. Họ không nói chuyện với nhau mà tất cả đều ngồi quay mặt hướng ra đường phố, suốt cả ngày như vậy. Hầu như không thấy bóng dàng phụ nữ, nếu có thì cũng chỉ là khách du lịch. Hỏi ra mới biết, những người đàn ông trong quán cà phê là những người thợ lao động chân tay, thợ mộc, thợ nề, họ đang ngồi chờ việc. Nếu ở Tunisie bạn muốn thuê thợ thì ra quán cà phê, chủ quán sẽ chỉ cho bạn đúng bàn có người thợ mà bạn cần tìm. Thất nghiệp ở Tunisie khá cao, con số chính thức là 12%, nhưng trên thực tế, con số này có thể lên đến hơn 20%.


Khu phố cổ của Tunis nằm cuối đại lộ chính, rất giống Hàng Ngang – Hàng Đào ở Hà Nội, nhưng chật chội hơn nhiều. Mọi người chen chúc đi, chen chúc bán bán mua mua những mặt hàng thủ công mỹ nghệ đầy màu sắc bày đầy hai bên đường phố. Dù muốn dù không, bạn nhất định phải ...mặc cả. Những người bán hàng ở Tunisie nói thách không kém gì chợ Bến Thành, thậm chí còn khủng khiếp hơn. Họ thường „trông mặt mà bắt hình dong”, hỏi xem bạn là người nước nào trước khi „hét” giá. Sau vài lần mua bán, chúng tôi đã rút ra được kinh nghiệm: tốt nhất nên nhận mình là người Cam-pu-chia, cùng lắm là Philippines hay Malaysia, bởi vì họ chẳng biết Việt Nam là nước nào cả. Nếu dại dột mà nhận là người Nhật hay Hồng Kông, bạn sẽ được nghe một cái giá trên mây và lập tức trở thành nạn nhân của những người bàn hàng. Họ sẽ „chăm sóc” bạn tận tình bằng đủ mọi phương cách, thậm chí dồn bạn vào một góc, bắt bạn phải nói chuyện với họ, lúc đó bạn chỉ còn một cách tốt nhất để thoát thân là ... mua đại một món gì đó! „Chiến tích” mặc cả oanh liệt nhất của tôi là trả giá cho một món đồ lưu niệm từ 285 dinar xuống còn ...21 dinar! Anh bán hàng vừa hỏi đi hỏi lại xem tôi có bị điên không, vừa nhận tiền và ấn món đồ vào tay tôi, sau đó còn than thở rằng mình sắp sạt nghiệp. Mua bán ở Tunisie là như thế, vừa kinh hoàng vừa buồn cười. Là người Việt Nam mà tôi còn thấy rờn rợn, không hiểu những du khách Tây Âu thì sẽ xoay xở chống đỡ ra sao.


Tunis có bảo tàng Bardo, nơi lưu giữ các bức tranh ghép mảnh (mosaic) nhiều và quý nhất thế giới. Những bức tranh ghép mảnh mang trong mình các sự tích khác nhau, có những bức rộng tới vài chục mét vuông, khiến du khách trầm trồ thán phục bàn tay tài hoa của những nghệ nhân xưa. Bảo tàng Bardo là đã được UNESCO xếp hạng là di sản văn hóa thế giới.


Nằm bên bờ biển ngoại ô Tunis là khu di tích Carthage. Thành phố Carthage được hình thành từ năm 814 trước công nguyên. Nơi đây từng là một trung tâm thương mại sầm uất, người Carthage nổi tiếng giỏi buôn bán và sản xuất rượu nho, dầu ô-liu, lúa mạch... Họ cũng nổi tiếng vì sự lạnh lùng tàn bạo đối với những người dân bị họ đô hộ. Carthage đã có giai đoạn vô cùng hưng thịnh, từng thống trị cả bờ biển Sicily, bán đảo Iberia, Malta, Baleary ..., cuối cùng tàn lụi sau ba cuộc chiến tranh với người La Mã. Carthage bị người La Mã san bằng, một đế quốc cuối cùng bị chôn vùi trong đất đá. Dấu tích của một Carthage lừng lẫy thủa nào giờ chỉ còn sót lại chút đổ nát của một khu nhà tắm dành cho vua chúa thời xưa. Biển vẫn xanh màu xanh tuyệt đẹp ngoài kia, những chiếc tàu trắng nhẹ nhàng rẽ sóng trong làn gió nhẹ. Biển từng là chứng nhân cho những thăng trầm dâu bể của Carthage, biển giấu trong lòng mình biết bao điều bí mật, giờ đây như đang âu yếm vỗ về và xoa dịu những vết thương xưa...


Không xa Carthage là Sidi Bou Said, khu phố xinh đẹp nằm trên một ngọn đồi cao bên bờ biển. Mọi căn nhà ở đây đều được quét vôi trắng, tất cả các cánh cửa đều được sơn màu xanh lam. Theo quan niệm của người Ả Rập, màu trắng tượng trưng cho đất, màu xanh lục tượng trưng cho thiên đường và màu xanh lam là màu đem đến may mắn hạnh phúc. Sidi Bou Said mê hoặc tôi bởi những con hẻm nhỏ và bất ngờ, với những cầu thang dốc dẫn ra biển. Đột nhiên biển hiện ra cùng với một con hẻm, xanh như thơ và bình yên đến không ngờ. Cứ thế, biển ẩn nấp và tặng cho du khách những thoáng xanh bình yên. Cho đến cuối con đường đá dốc, biển bỗng hiện ra mênh mông và thăm thẳm dưới chân mình. Còn gì tuyệt vời hơn khi được tay trong tay cùng người yêu dấu tản bộ trên con đường thơ mộng của Sidi Bou Said, hay ghé vào một quán cà phê đâu đó trên triền dốc, ngồi bên nhau đón làn gió biển nồng nàn... Sidi Bou Said vốn được mệnh danh là „con đường dạo chơi của những người tình”.


Nhưng còn một Tunisie hoàn toàn khác đang chờ chúng tôi khám phá – Tunisie của sa mạc Sahara huyền bí, của lạc đà, các ốc đảo và những cây chà là. Tunisie của châu Phi. Chuyến thám hiểm 2 ngày đến miền Trung-Nam Tunisie đã để lại trong chúng tôi những ấn tượng khó phai mờ, và có lẽ, đó là 2 ngày đáng nhớ nhất trong năm của chúng tôi.


Điểm đầu tiên của cuộc hành trình là El Jem, nổi tiếng với đấu trường La Mã được xây từ những năm 214-218 sau công nguyên. Tuy không lớn bằng đấu trường ở Rome, nhưng colosseum El Jem được giữ gìn nguyên vẹn nhất thế giới. Giờ đây, colosseum này là nơi trình tấu nhạc cổ điển quốc tế. Hàng năm giàn nhạc giao hưởng Vienne đều tới đây biểu diễn. Đây cũng là nơi thực hiện các cảnh quay trong bộ phim Ba Lan „Quo Vadis”.


Rời El Jem, chúng tôi đi qua vùng trồng ô-liu lớn nhất Tunisie (với hơn 60 triệu gốc ô-liu) để đến Matmata. Đây là vùng đồi núi bán sa mạc. Người dân Matmata ở trong các ngôi nhà đục ngay vào lòng núi để tránh nóng. Họ sống rất đơn sơ, nằm ngủ dưới đất trên tấm nệm lông cừu. Họ sống trong một thế giới khác, yên tĩnh gần như tuyệt đối và hoàn toàn xa lạ với thế giới hiện đại ngoài kia.


Chúng tôi tới Douz, nơi có tới mấy chục ốc đảo san sát nhau. Chỉ thấy chà là và chà là. Chúng tôi thỏa thích ngắm nhìn những cây chà là chi chít trái chín vàng ươm, nguồn sồng ngọt ngào của sa mạc. Tôi bỗng nhớ đến một câu của Paulo Coelho „Có thể Thượng đế tạo ra sa mạc chỉ để cho con người biết quí trọng cây chà là”. Món quà quí báu của Thượng đế giờ đây đang hiện diện đầy quanh tôi, thật hào phóng và xanh tươi.


Douz cũng là nơi tổ chức các cuộc đua lạc đà hàng năm. Các chú lạc đà đua được xếp vào loại đắt giá nhất. Tiếp theo là lạc đà để phối giống. Lạc đà chuyên chở thuộc loại rẻ tiền nhất. Lạc đà đối với người dân Tunisie cũng là một lọai tài sản, như trâu bò đối với người nông dân Việt Nam vậy.


Và đây, sa mạc Sahara đã hiện ra trước mắt chúng tôi. Sa mạc huyền bí mà tôi từng say mê qua những trang sách Paulo Coelho! Chúng tôi mặc trang phục Ả rập được phát, leo lên lưng lạc đà và đi sâu vào lòng sa mạc. Những chú lạc đà hiền lành bước thong dong trên cát. Cát sa mạc mịn như bột mì và không hề nóng bỏng như tôi tưởng tượng mà chỉ hơi âm ấm. Màu xanh của các ốc đảo hiện lên xa xa cuối chân trời. Tôi đã từng ước mơ được nhìn thấy sa mạc. Giờ đây sa mạc ở ngay dưới chân tôi. Gió sa mạc thổi nhè nhẹ. Không biết có phải là những ngọn gió Levante không nhỉ? Tôi đang vừa lắc lư mơ màng trên lưng lạc đà vừa tận hưởng cảm giác say sưa khi giấc mơ trở thành hiện thực thì chợt nghe tiếng nhạc điện thoại di động của cô bạn kêu réo rắt. Mấy người trong đoàn cười ồ. Thì ra có người ở Warszawa muốn rủ bạn tôi đi ăn cưới. Bạn tôi phải xin lỗi không đi được với lý do hiếm thấy: vì đang bận cưỡi lạc đà trên sa mạc Sahara!


Sáng hôm sau, chúng tôi đến Chott El Djerid, hồ nước mặn lớn nhất châu Phi. Tùy theo nồng độ muối, nước sẽ có các màu khách nhau. Với độ mặn 30-40% nước có màu hồng; 50-60% - màu đỏ và 80-90% thì là màu tím. Muối kết tinh trong lòng đất thành những hình thù đẹp mắt, trông như những bông hoa. Người dân đắp muối thành hình những chú lạc đà, hình người, hình ngôi nhà rất sinh động. Ánh nắng sớm trải dài trên mặt hồ, không gian bao la thoáng đãng khiến lòng người cũng như khóang đạt hơn.
Những người ưa thám hiểm chắc chắn sẽ rất vui thích với phần sau của hành trình: đi xe Jeep lên ốc đảo trên núi ở Chebika. Ở đây có thác nước, như phép thần giữa cả một vùng sỏi đá khô cằn. Thác nước không lớn lắm, nhưng giữa sa mạc thì lại là cả một kỳ quan.


Giờ đây, Warszawa đang chớm vào thu. Mùa hè đã khép lại sau lưng với những kỷ niệm rực rỡ sắc màu, nhưng dư âm của Tunisie vẫn còn ấm áp trong tôi. Bất giác, tôi thấy mình đang lẩm nhẩm những câu hát quen thuộc „Em muốn được cùng anh về vùng biển vắng, mình sẽ sống những ngày hè rực nắng...Dưới bóng dừa lả lơi, sẽ nói yêu anh mãi, nói những lời yêu thương đã từ lâu ôm ấp trong lòng hoài...”


Vác-sa-va, tháng 9.2004


(Bài đã đăng trên các báo "Nối vòng tay lớn" (Ba Lan), Quốc Tế (Việt Nam), Thương Mại (Việt Nam)).

Cổ cồn trắng


Tôi ngồi trong quán cà phê sân bay, có mười lăm phút cho riêng mình. Mười lăm phút vào lúc hơn 6 giờ sáng là một khoảng thời gian khá vô duyên, nhất là khi người ta đã đọc xong tờ nhật báo. Còn quá sớm để thực hiện những cú điện thọai cần gọi. Mười lăm phút không đủ để mở laptop ra làm một việc gì đó, cũng quá ngắn để mơ màng về Nam Phi. Ở Cape Town sắp có liên hoan nhạc jazz quốc tế lần thứ 6, Cape Town nhớp nhúa và khốc liệt của „Tuổi sắt đá” thế là đã 6 lần hân hoan đàn hát. Rõ ràng, đây không phải là chuyện để có thể suy nghĩ trong mười lăm phút.

Tôi nhìn lên bàn và quyết định: trong mười lăm phút tới của cuộc đời, tôi sẽ toàn tâm toàn ý với nó. Tôi sẽ tận dụng mọi giác quan để thưởng thức nó, mặc dù, có thể nó không xứng đáng với một sự toàn tâm toàn ý cao độ như vậy. Nó – tách chocolate bình thường của một quán cà phê bình thường trong sân bay – không cần đếm xỉa đến cam kết của tôi, chẳng quan tâm đến nỗi băn khoăn của tôi, vô tư hiện hữu trên mặt bàn và tỏa hơi thật hồn nhiên. Làn hơi mỏng làm hình ảnh chiếc ghế phía bên kia bàn nhòe đi một chút. Trong khung hình mờ ảo này, bất ngờ một gương mặt hiện ra, chói lòa như ánh sáng của một đường kiếm. Tôi thấy lồng ngực mình như bị nén chặt lại. Trước giây choáng váng tôi vẫn còn kịp nhớ ra, trong những trườnng hợp như thế này ông đạo diễn bạn tôi thường nói „Tim anh bị hụt mất một nhịp”.

Tôi chưa bao giờ nhìn thấy gương mặt nào đẹp sáng ngời và đầy nam tính đến như thế.

Người đàn ông xin phép và ngồi xuống trước mặt tôi. Phút choáng váng đã qua. Công việc đã dạy cho tôi cách trải qua những cơn chóang váng thật nhanh và không biểu lộ chúng ra ngoài. Chỉ cần một cái liếc mắt, tôi đã biết lý do tại sao tia sáng này lại xuất hiện trước mặt tôi: trong quán, chỉ có chiếc ghế này là còn trống.

Sự xuất hiện này đã làm thay đổi cam kết của tôi với tách chocolate. Tôi bắt đầu dồn tâm trí vào người đàn ông mà số phận bỗng nhiên đặt phịch xuống trước mặt mình, ít ra là trong mười lăm phút kém vài chục giây.

Anh ta là ai nhỉ? Rất có thể là một diễn viên. Vầng trán rộng và phẳng, mũi cao thanh tú, đôi môi gợi cảm hơi mím lại. Nếu mái tóc này chải ngược ra phía sau và khóe miệng hơi nhếch lên, anh ta sẽ vào vai Howard Hughes thích hợp hơn Leonardo diCaprio rất nhiều. Thành thực mà nói thì tôi có thành kiến với khuôn mặt hình tam giác, cái cằm nhọn và đôi mắt khôn vặt của anh chàng Leo, không hào hoa và kiêu hùng chút nào.

Nhưng cũng có thể anh ta là một doanh nhân, đang đợi máy bay sang Hồng Kông hay Singapore gì đấy, ký hợp đồng chớp nhoáng một cái, rồi mai lại quay về Vác-sa-va. Đôi mắt sáng vừa có uy vừa như tinh quái, vừa lấp lánh hài hước vừa như sắc lạnh. Đôi mắt như thế này tôi hay gặp trên gương mặt của những doanh nhân trẻ thành đạt. Giày đen bóng, toàn bộ trang phục đều màu đen, anh ta có vẻ là một người lịch thiệp.

Nhưng ánh sắc trong đôi mắt làm tôi băn khoăn một chút. Có thể anh ta không đi ký hợp đồng và làm ăn một cách nghiêm chỉnh, mà đang trên đường đi sang Curacao, Panama, Mauritius hay một thiên đường thuế khóa nào đó, để lập vài ba cái công ty ma, làm vài phi vụ mờ ám. Biết đâu những phi vụ đó đã xong rồi, bây giờ anh ta đang chuẩn bị giải thể cái mớ công ty đã hết giá trị sử dụng. Thêm một cặp kính đen vào, gương mặt này rất có thể là của một tay ma-phia có hạng.

Hơi áy náy vì đã để trí tưởng tượng đi quá xa và không biết chừng sẽ làm tổn hại đến danh dự của người (có thể) tốt, tôi xoay suy nghĩ sang hướng khác. Dáng dấp thể thao và thân hình cân đối mạnh mẽ này sẽ làm cho khồi cô gái mê mẩn. Tôi lập tức tưởng tượng ra cảnh một bãi biển tràn nắng của Ần Độ Dương, Maldives hay Seychelles đều được, miễn là đừng có sóng thần. Anh ta với áo sơ mi phanh ngực (mà có lẽ chẳng cần đến cái áo sơ mi), dù là đi thả bộ trên bãi cát trắng mịn, hay nằm dài nhấm nháp ly cocktail dưới tán lá dừa, hoặc phóng mô tô nước hết tốc lực ... đều rất thích hợp. Tất nhiên khung cảnh đó không thể thiếu một (hoặc vài) cô gái xinh đẹp trang trí thêm. Sẽ giống một đọan phim quảng cáo du lịch, hoặc cảnh trong một bộ phim truyền hình nhiều tập nào đó của Mỹ dành cho các bà nội trợ giết thời gian. Dù sao, khung cảnh đó cũng vui tươi và nhiều sức sống hơn cảnh tuyết rơi mịt mù la.nh lẽo trong một ngày đầu tháng Ba ở Vác-sa-va này.

Lúc này, có lẽ bắt đầu cảm thấy hơi nóng, người đàn ông đưa tay nới cúc áo choàng. Khi những chiếc cúc đầu tiên vừa được mở, tôi sững sờ nhìn thấy miếng cổ cồn trắng hình chữ nhật nhỏ lộ ra nơi cổ áo. Thứ này, tiếng Ba Lan gọi là „koloratka”.

Anh là một cha xứ .

(3.2005)