Showing posts with label tâm lý. Show all posts
Showing posts with label tâm lý. Show all posts

Saturday, 21 April 2012

Linh hồn bé mọn (Zbigniew Herbert)




Tôi không thấy ở bất cứ đâu Freud vượt lên được tâm lý học của chính mình, và tôi chẳng rõ bằng cách nào ông muốn giải thoát những người bệnh khỏi sự đau đớn mà bản thân ông, như một bác sỹ, cũng đang phải chịu đựng. (Carl Gustav Jung)

Tôi không còn nhớ rõ mình đã bắt gặp văn bản ấy như thế nào. Có lẽ đó là vào thời gian tôi viết tiểu luận về Akrópolis, do công việc rất chật vật nên như thường lệ, tôi trốn vào thư sách, đọc các tiểu luận, các bài viết, bài báo rải rác trong các tạp chí khảo cổ học chuyên ngành và lập các ghi chép về chúng, dẫu lòng vẫn hồ nghi chẳng biết chúng có ích lợi gì không. Rõ ràng là tôi đã tự dối mình. Như thể tôi muốn biện minh rằng mình không vô công rồi nghề, rằng mình không rơi vào trạng thái tinh thần kiệt quệ, bởi vậy tôi làm một công việc thay thế, vô ích và chán ngán, với hy vọng từ sự vô ích và chán ngán đó tia sáng cảm hứng bất chợt lóe lên. Trong khi đó, mỗi ngăn kéo mục lục chuyên đề trong các thư viện tôi viếng thăm đều chứa hàng trăm tựa sách bằng các thứ tiếng khác nhau, hồ như muốn nói: „Anh vất vả mà làm gì, mọi thứ đều đã được viết ra, chẳng có gì để bổ sung trong lĩnh vực này. Vai trò duy nhất mà anh có thể làm là vai trò của người biên soạn”.

Chính trong thời gian bất an và lúng túng này, tôi bắt gặp bức thư Sigmund Freud gửi Romain Rolland nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông. Bức thư, theo như tính chất của nó, được dành để đưa vào cuốn sách lưu niệm mà bạn bè thân thiết xuất bản nhằm bày tỏ lòng trân trọng với nhà văn lớn.

Bỏ qua hình thức thư tín của phần mở đầu và kết thúc, có thể xem bức thư của Freud như một tiểu luận, và nó càng thú vị hơn khi người khởi thảo môn phân tâm học sử dụng phương pháp này với chính mình, hay nói chính xác hơn, với một tình tiết của trải nghiệm bản thân. Tình tiết này cách thời điểm viết thư hơn ba mươi năm và nhìn bề ngoài thì hoàn toàn nhàm chán, nó xuất hiện một cách dai dẳng và ngoan cố trong vùng ý thức – như Freud thú nhận - mà chẳng có nguyên nhân hay lý do nào rõ rệt.

Đó là năm 1904, như vào mỗi cuối tháng tám đầu tháng chín hàng năm, Freud và em trai quyết định nghỉ hè bên bờ Địa Trung Hải. Nhưng lần này kỳ nghỉ của họ ngắn hơn, nên họ thôi không du hành nước Ý như mọi khi, thay vào đó họ đến Trieste, rồi từ đó định ra đảo Corfu nghỉ vài ngày. Một người quen tình cờ gặp ở Trieste khuyên họ không nên thực hiện dự định ấy. Vào thời gian đó trên đảo rất nóng – anh ta nói – một chuyến tham quan Athens sẽ dễ chịu hơn nhiều. Đi bằng tàu thủy sẽ rất có lợi, vì còn dư ba ngày để thăm thú thành phố.

Đề nghị xem ra sáng suốt và hấp dẫn này – thật kỳ cục – lại khiến tâm trạng hai anh em trở nên khá u ám. Họ lang thang trong thành phố, không mấy dứt khoát, và thảo luận về dự định đi Athens chẳng lấy gì làm sôi nổi, họ chỉ nhìn thấy rặt những trở ngại. Nhưng tới giờ văn phòng Lloyd mở cửa, họ vẫn xuất hiện bên quầy và mua vé, như thể tạm quên đi trong chốc lát những khó chịu vừa qua.

Vào buổi chiều hôm chúng tôi đến, khi đang ở Akropolis và ngắm nhìn bao quát phong cảnh, đột nhiên một ý nghĩ kỳ cục này chợt đến với tôi: „Vậy là tất cả những điều này thực sự tồn tại, y như ta đã được học ở trường”. Nhận xét đó không mấy đặc biệt, nhưng thể hiện chính xác cảm nhận của tất cả những người lần đầu đứng trước Colosseum, trước tượng thần Vệ nữ thành Milo hay bức chân dung nàng Mona Lisa. Và Freud đưa ra một thăm dò mang tính phân tích vào sâu trong trải nghiệm và cảm nhận này, để chỉ ra rằng nó hoàn toàn không thông thường như người ta tưởng.

Theo người khởi thảo môn phân tâm học, ở đây xảy ra trường hợp đặc biệt đồng tồn tại trong cùng một tâm thức hai thái độ trái ngược và hai phản ứng hoàn toàn khác nhau đối với thực tại nảy sinh từ chúng. Dĩ nhiên đó không phải là một sự phân hóa bệnh lý của cái tôi, nhưng trong cá nhân hình thành một khe nứt bất an và mối quan hệ đơn giản giữa chủ thể và đối tượng trở nên bị xáo trộn. Ta hãy xem xét kỹ hơn hiện tượng này.

Phản ứng đặc trưng nảy sinh từ thái độ thứ nhất là sự ngạc nhiên, rằng Akropolis đang được nhìn thấy kia thật sự tồn tại, như thể trước đó sự hiện hữu thực sự của nó vốn bị nghi ngờ; ngược lại, phản ứng đặc thù của thái độ thứ hai là „ngạc nhiên vì sự ngạc nhiên đó”, bởi vì hiện thực Akropolis chưa bao giờ từng là đối tượng của hoài nghi.

Để minh họa cho thái độ thứ nhất, Freud nói rằng có thể so sánh nó, với đôi chút cường điệu, với phản ứng của một người đang lướt trên hồ Loch Ness ở Scotland thình lình nhìn thấy thân hình con quái vật nổi tiếng bị kéo lên bờ, khi ấy anh ta buộc phải công nhận: nó tồn tại thực sự, cái con quái vật biển mà ta chưa bao giờ tin ấy. Thái độ thứ hai, ngược lại, gần với chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, chấp nhận vô điều kiện chứng thực của các giác quan, hoàn toàn mở ngỏ và không bị xáo trộn bởi bất cứ phản chiếu nào của thích thú hay kinh sợ.

Diễn giải tự nhiên nhất của hai cảm giác „kình địch” này là khẳng định rằng có sự khác biệt cơ bản giữa điều ta trải nghiệm trực tiếp và điều ta được nghe hay biết qua sách vở, và rằng chính sự chồng lấp của kiến thức với sở thị dẫn đến những cảm giác mâu thuẫn đó cùng sự xáo trộn cảm nhận thực tại. Song Freud không chấp nhận diễn giải này bởi theo ông nó quá sáo mòn và chẳng giải thích được điều gì.

Freud cố gắng truy dấu tại sao ở Trieste ông lại chối bỏ viễn cảnh đi Athens hấp dẫn đến thế, và tại sao ở Akropolis niềm vui sướng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ trực tiếp với tuyệt tác kiến trúc lại bị bóng đen nặng nề của chủ nghĩa hoài nghi che phủ. „Theo chứng thực của các giác quan, giờ đây tôi đang ở Akropolis, chỉ là tôi không thể nào tin được điều đó”, hay chính cảm giác đó được thể hiện một cách rõ ràng hơn: „Điều bây giờ tôi đang nhìn thấy không phải là thực”.

Chủ nghĩa hoài nghi – chính xác là từ đó. Không chỉ là một từ – theo Freud – mà còn là điều gì đó lớn hơn nhiều, bởi đây là một cơ chế tâm lý ăn sâu trong con người. Chúng ta biết rõ hoạt động của cơ chế tâm lý này từ kinh nghiệm thông thường. Mỗi khi gặp bất hạnh, chúng ta cự tuyệt nó bằng tiếng kêu: „không, không thể thế được!”, như thể ta cố gắng loại trừ phần hiện thực này, chối bỏ nó khỏi phạm vi ý thức của chúng ta. Và tác giả dẫn ra một ví dụ văn học – trích đoạn trường ca „Ay de mi Alhama”, trong đó phản ứng phòng vệ này được biểu lộ rõ ràng. Vua Boabdil nhận được tin Alhama thất thủ. Ngài hiểu rõ rằng điều đó có nghĩa là vương triều của ngài chấm dứt. Song vì không muốn biết điều đó, ngài xử sự với tin chẳng lành như thể nó chưa đến được với mình, như thể việc chối bỏ nó có thể thay đổi được diễn biến tình hình.

Cartas le fueron venidas,
de que alhama era ganada
Las cartas echó en el fuego
y al mensagero mataba.

Có thể dễ dàng hiểu được hành xử và tâm trạng nhà vua. Đơn giản là ngài cố gắng chiến thắng sự bất lực của mình, chiến thắng cảm giác rằng quyền lực của ngài không còn vô biên như xưa nữa, bởi vậy ngài ném bức thư báo tin thất bại vào lửa và ra lệnh giết các sứ giả. Không thể thay đổi số mệnh, ngài hủy diệt phương tiện thông tin.

Phản ứng phòng vệ này không khó lý giải và có thể được minh họa bằng hàng loạt ví dụ ít cực đoan hơn, trong đời thường cũng như trong văn học, gần gũi hơn với kinh nghiệm thông thường. Freud chú ý đến mặt thứ hai của chính sự vận hành cơ chế tâm lý này, như ông khẳng định, cái mặt tối, phi lô gích và mâu thuẫn với bản năng sinh tồn. Và ông cố gắng chỉ ra rằng con người cũng phản ứng tương tự như trong trường hợp bất hạnh – nghĩa là chối bỏ hiện thực - khi đột nhiên gặp hạnh phúc bất ngờ, gặp vận may, phần thưởng lớn, được người con gái mình thầm yêu chấp nhận lời cầu hôn. Phản ứng này được biểu lộ rõ trong câu tục ngữ có mặt trong mọi ngôn ngữ châu Âu: „quá tốt đẹp nên không thể là thực”. Trong khi sự phòng vệ chống lại mệnh rủi là điều hiển nhiên, thì vì sao chúng ta lại có phản xạ hoài nghi và không tin vào điều mang lại niềm vui, là nụ cười của số phận – Freud hỏi. Ông gọi tình thế mâu thuẫn này là „tình thế thất bại bởi thành công” và cho rằng con người mắc bệnh không chỉ vì không đạt được những khao khát trong đời, mà cả khi những khao khát mãnh liệt được thỏa mãn.

Việc tự phân tích tâm lý này sẽ thiếu sót nếu cụ già tám mươi tuổi Sigmund Freud vào thời điểm viết bức-thư-tiểu-luận này không quay trở lại thời thơ ấu và thời hoa niên trong ký ức. Ông nhớ lại sự nghèo khổ của gia đình, không khí ngột ngạt, đầy cấm đoán, tuổi trẻ với các khả năng và chân trời bị hạn chế.

Không, Freud không bao giờ nghi ngờ sự tồn tại của Akropolis, nhưng ông chưa từng có chút hy vọng rằng khi nào đó mình sẽ được tận mắt nhìn thấy nó. Và trong cái ngày điều đó xảy ra, ông những muốn nói với em trai: „Em có nhớ thời trẻ của chúng mình không? Hàng ngày mình cứ mãi đi đến trường trên một con đường, còn chủ nhật thì đến Prater hoặc xó xỉnh nào mình biết rõ trong thành phố. Thế mà bây giờ mình đang ở Athens, trên đỉnh Akropolis! Mình đã trải qua chặng đường mới dài làm sao!” - „Và nếu có thể so sánh những điều nhỏ bé với những điều lớn lao – ông viết tiếp – liệu Napoleon I trong ngày lên ngôi ở Notre Dame có nói với em trai rằng: „Cha của chúng ta sẽ nói gì nếu bây giờ ông có thể có mặt ở đây nhỉ?”.”

Đó là biểu hiện của niềm vui sướng tự hào, nhưng nó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc và gần như ngay lập tức bị xáo trộn bởi ý thức về việc vượt qua điều cấm kỵ, việc hái trái cấm, cảm giác tội lỗi sâu thẳm. Cảm giác tội lỗi ư? Phải, Freud đáp.

Có lỗi với ai? Cha Freud là một tiểu thương không giàu có lắm, học vấn không nhiều, và Akropolis chẳng có mấy ý nghĩa đối với ông. Nhưng các con trai đã hơn cha. Họ thật quá vượt trội so với cuộc hiện sinh bình thường của ông, họ „truất ngôi” ông và chính trong sự xâm phạm vào thần tượng người cha này cần truy dấu cảm giác tội lỗi đó, cảm giác đã tước đoạt đi niềm vui lẽ ra phải là một phần của những người đang tiếp xúc với tuyệt tác nghệ thuật.

Tại đây xuất hiện những lời phê bình của Freud : „Phải chăng mặc cảm người cha đã ngấm hết hoàn toàn vào quan điểm của trường phái Freud và chứng minh rằng nó chẳng thực hiện được bất cứ sự giải phóng đáng kể nào cho con người khỏi thuyết định mệnh của „câu chuyện gia đình”? Mặc cảm này với tất cả sự cứng nhắc định mệnh của nó và tính dễ kích động thái quá là một chức năng tôn giáo bị hiểu sai...”.

Trong bức-thư-luận-văn được viết vào cuối đời này, có lẽ chủ nghĩa bi quan sâu sắc của tác giả thể hiện nhiều hơn ở các thư văn khác. Đây không chỉ là chủ nghĩa bi quan thuộc về nhận thức, mà còn liên quan đến ngay chính bản chất con người, đến sự bất lực căn bản của anh ta trong việc đạt được hạnh phúc.

*

Tôi cố gắng tóm tắt một cách khả dĩ trung thành dòng tư duy của người khởi thảo môn tâm lý học chuyên sâu trong thử nghiệm nhỏ qua thư của ông nhằm giải thích một hiện tượng tâm lý cụ thể. Bởi thử nghiệm này được viết ra tuyệt hay và đầy khơi gợi, tôi bắt đầu suy nghĩ xem mình đã từng gặp điều gì đó tương tự hay chưa. Giống như khi đọc những cuốn sách giáo khoa bệnh học tâm thần, ta nhận ra ở mình, qua thấu cảm, những căn bệnh khác nhau được mô tả trong đó.

Trước hết tôi tự hỏi cảm giác tội lỗi của tôi trước các tuyệt tác như thế nào. Câu trả lời không hề dễ dàng, sự thú nhận đánh thức con quỷ của chủ nghĩa chủ quan, bắt ta phải nghĩ về thời thơ ấu, về những thất bại trong cuộc sống hay những người yêu dấu đã vắng xa, những người thân đã khuất của chúng ta, những người không được chia sẻ niềm vui sướng tuôn trào khi ta được trải nghiệm những điều đẹp đẽ.

Và nó là thế này: khi đứng ở Akropolis, tôi tưởng đến linh hồn những người bạn thua thiệt của mình, thương tiếc cho số phận họ, không phải vì tử thần nghiệt ngã, mà thương cảm vì họ đã bị tước đoạt mất sự huy hoàng vô tận của thế giới. Tôi đã gieo một hạt anh túc lên nấm mồ bị lãng quên.

Sở dĩ tôi dẫu sao cũng đã không bị rơi vào chủ nghĩa hoài nghi mà Freud miêu tả, vào nỗi xáo trộn của niềm tin về sự tồn tại thực sự của những gì tôi nhìn thấy, thì đó là vì một số nguyên nhân chính. Một khi tôi đã được chọn – tôi nghĩ – và điều đó chẳng vì công lao gì sất, được chọn trong trò chơi số phận mù lòa, vậy thì tôi phải ban cho lựa chọn đó một ý nghĩa, tước đi tính ngẫu nhiên và tùy tiện của nó. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là đối đầu với sự lựa chọn và biến nó thành của tôi. Tưởng tượng rằng tôi là người đại diện hoặc đại biểu của tất cả những người đã không được toại nguyện. Và giống như khi là người đại diện hay đại biểu, phải quên chính mình đi, dốc ra tất cả sự nhạy cảm và năng lực hiểu của mình, để Akropolis, các giáo đường, Mona Lisa tái diễn trong tôi, dĩ nhiên trong chừng mực giới hạn của trí óc và trái tim tôi. Và để tôi có thể truyền đạt lại cho người khác những gì mình lĩnh hội được từ chúng.

Việc mình luôn cảm thấy không tự tin trước các tuyệt tác, tôi cho là chuyện tự nhiên. Các tuyệt tác có cái quyền tốt đẹp là phá vỡ lòng tự tin kiêu ngạo và truy vấn tầm quan trọng của chúng ta. Chúng lấy đi một phần hiện thực của tôi, bắt tôi phải im lặng và ngừng tất bật vì những chuyện linh tinh, ngu ngốc. Chúng cũng không cho phép „tôi – như thánh Thomas More nói - cứ lúng túng mãi quanh chuyện vượt lên một thứ được gọi là „cái tôi” „. Nếu chấp thuận gọi tất cả những điều này là cuộc giao dịch, thì đó là một giao dịch có lợi nhất có thể. Vì sự khiêm nhường và yên lặng, các tuyệt tác đổi cho tôi „mật ngọt và ánh sáng” mà tự tôi không thể tạo ra trong chính mình.

Một trong những tội lỗi chí tử của văn hóa đương đại là nó tránh đương đầu trực tiếp với các giá trị tối cao, cũng như lòng tin đầy ngạo mạn rằng chúng ta có thể tồn tại không cần các khuôn mẫu (thẩm mỹ cũng như đạo đức), bởi vị thế của chúng ta trong thế giới được cho là phi thường và không gì sánh được. Chính vì vậy ta chối bỏ sự trợ giúp của truyền thống, bì bõm trong nỗi cô đơn của mình, đào bới trong những ngóc ngách tăm tối của linh hồn bé mọn bơ vơ.

Một quan điểm sai lầm đang tồn tại là truyền thống giống như khối tài sản thừa kế và người ta thừa kế nó một cách máy móc, không cần gắng sức, bởi vậy những người phản đối việc thừa kế cùng những ưu tiên vô lý đứng ra phản đối truyền thống. Trong khi đó, mỗi tiếp xúc với quá khứ thực chất đòi hỏi nỗ lực, công sức, do đó nó khó khăn và không thú vị, bởi „cái tôi” nhỏ bé của chúng ta kêu lên và tự vệ trước điều đó.

Tôi luôn tha thiết muốn giữ niềm tin rằng các tác phẩm tinh thần vĩ đại khách quan hơn chúng ta. Và chúng sẽ phán xét chúng ta. Ai đó đã nói rất chí lý rằng không chỉ chúng ta đọc Homer, xem bích họa Giotto, nghe Mozart, mà Homer, Giotto và Mozart đang chăm chú nhìn, nghe chúng ta, khẳng định sự phù phiếm và ngu ngốc của chúng ta. Những kẻ không tưởng tội nghiệp, những kẻ đốt đền, những kẻ thanh lý quá khứ giống như những kẻ điên tàn phá các tác phẩm nghệ thuật, bởi họ không thể tha thứ cho sự bình yên, phẩm giá và hơi mát tỏa ra từ chúng.

(Thái Linh dịch từ tập tiểu luận "Mê cung bên bờ biển", Nhà xuất bản Tập san Văn học, Warszawa 2000)

Wednesday, 16 September 2009

Ý nghĩa cuộc đời


("Ta từ đâu tới? Ta là ai? Ta đi về đâu?" tranh sơn dầu của Gauguin, 1897)


Tôi còn nhớ năm tôi lên sáu, một lần tôi hỏi mẹ: „Mẹ ơi, con người ta sống để làm gì?”. Câu hỏi ấy xuất hiện và ám ảnh suốt một thời gian dài trong đầu óc non nớt của tôi. Khi ấy, đối với tôi, mọi thứ chắc chắn phải có một câu trả lời duy nhất đúng.

Tôi còn chưa biết rằng đó là một trong những câu hỏi lớn nhất từ bao đời nay của triết học, tôn giáo, nghệ thuật, tâm lý học..., và trên đời này có rất nhiều câu hỏi chẳng bao giờ có lời giải đáp, hay nói một cách khác, chúng có vô số câu trả lời.

Ý nghĩa sự tồn tại của chúng ta là gì? Ta phải sống ra sao? Trong một bài báo của Adam Szostkiewicz trên tạp chí Poliktyka tôi mới đọc gần đây, tác giả giới thiệu học thuyết của Viktor Frankl (1905-1997), bác sỹ tâm lý học người Áo nổi tiếng thế giới, người từng được đề cử cho giải thưởng Nobel về hòa bình.

Viktor Frankl cho rằng con người cần đến một ý nghĩa trong đời. Cuộc sống sẽ làm ta đau đớn nếu con người cảm thấy trống rỗng trong sự tồn tại. Cuộc đời ông là minh chứng tốt nhất cho điều này, tiểu sử phi thường của ông chính là điều bảo đảm độ tin cậy cho những gì ông viết, khiến sách của ông trở thành bestseller ở nhiều nước trên thế giới, từ Mỹ qua Nhật, từ Tây sang Đông.

Cũng như Sigmund Freud, bác sỹ Frank là người gốc Do Thái. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông mở phòng tư vấn tâm thần miễn phí cho thanh niên, công tác với các tên tuổi lẫy lừng như Freud và Alfred Adler. Năm 1938, những kẻ quốc xã lên nắm quyền ở Áo. Frank có thể bỏ trốn, ông có thị thực đi Mỹ, nhưng ông không muốn bỏ lại cha mẹ già. Ông được phép hành nghề bác sỹ tâm thần tới năm 1942, nhưng chỉ trong bệnh viện dành cho người Do Thái ở Vienna. Ông biết quân Hitler sẽ giết những người bệnh tâm thần nên đã đưa ra các bản chuẩn đoán giả cho bệnh nhân của mình để cứu họ.

Năm 1942, ông cùng cha mẹ, vợ và em trai bị bọn quốc xã bắt rồi đưa đến trại tập trung Auschwitz (Ba Lan) và sau đó là trại Dachau (Đức). Chúng tịch thu quyển sách về lập trường của một bác sỹ trước những đau đớn của sự tồn tại mà ông bắt đầu viết từ trước khi bị bắt. Ý nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ được đoàn tụ với gia đình và viết lại toàn bộ quyển sách đã giúp ông sống sót. Ông được người Mỹ giải phóng khỏi trại Dachau, trở về Vienna, được tin cha mẹ, em trai và người vợ đang mang thai đều đã chết trong các trại tập trung. Ông làm việc trong bệnh viện tâm thần, phục hồi lại cuốn sách đã bị tiêu hủy và viết cuốn tiếp theo: „Nhà tâm lý học trong trại tập trung”, cuốn sách đã mang tên tuổi của ông đến với thế giới. Hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, ông tái hôn. Viết lách, công việc và tình yêu – ông đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở đó sau những thảm kịch chiến tranh.

Viktor Frankl mở ra môn phái thứ ba của ngành tâm lý trị liệu Vienna mà ông gọi là môn liệu pháp ý nghĩa (logotherapy) – bên cạnh môn phân tâm học của Freud và tâm lý học cá nhân của Adler. Logos có nghĩa là ngôn từ, đạo, ý nghĩa. Theo Freud, con người hướng tới lạc thú. Theo Adler – con người hướng tới quyền lực, để cân bằng các mặc cảm thấp kém của mình (con người tìm kiếm sức mạnh trong cuộc sống, để tự giải phóng khỏi cảm xúc lệ thuộc mà mình trải qua trong thời thơ ấu). Còn Frankl thì khẳng định con người tìm kiếm trước hết là ý nghĩa trong cuộc đời. Ông muốn giúp những người sống đau đớn, những người khổ sở vì cảm giác trống rỗng trong sự tồn tại. Ông muốn ngành tâm lý trị liệu mang một gương mặt nhân bản.

Với tư cách là một bác sỹ và triết gia, Frankl đấu tranh với cái ông gọi là chủ nghĩa hư vô (nihilism). Ở đây, chủ nghĩa hư vô có nghĩa là sự hướng tới rút gọn hiện thực loài người về một hệ số nào đó – hệ số tâm lý, vật lý hay xã hội. Frankl cho rằng con người là một bản thể phong phú hơn, chúng ta không nên làm cho bản thể ấy nghèo nàn đi. Con người cũng là một bản thể tinh thần, chứ không phải chỉ là một sản phẩm và cơ cấu vật lý, tâm lý hay xã hội. Bởi vậy, con người không phải là con rối bị giật dây từ bên trong hay bên ngoài. Con người có khả năng làm được điều gì đó lớn hơn là chỉ đấu tranh sinh tồn. Con người tìm ra ý nghĩa trong đời và hướng tới các giá trị. Kinh nghiệm của Frankl và những người mà ông gặp trong những điều kiện khó khăn cùng cực đã cho phép ông có cái nhìn về con người khác Freud hay Adler.

Từ những trải nghiệm tinh thần ở trại tập trung được Frankl miêu tả, người ta tìm thấy cho mình bài học để vượt ra khỏi thế giới độc ác của cực quyền. Phải làm gì với cái lỗ đen của sự tồn tại? Điều gì là thực sự quan trọng trong cuộc sống? Điều gì giúp ta tìm thấy sức mạnh tinh thần và tâm lý cho mình và người khác? Sống thế nào và sống để làm gì?

Bài học của Frankl không phải là bài học dễ dàng trong nền văn hóa tiêu dùng hàng loạt và chớp nhoáng thời nay. Nhưng Frankl không muốn rao giảng đạo đức, ông chỉ muốn giúp những người qua đường đang bế tắc tinh thần. Ông cảnh báo hai thứ thái quá: một là nhớ quá nhiều, nhớ hết tất cả những gì từng xảy ra với ta; hai là quá muốn rằng cuộc sống phải diễn ra thế này mà không thế khác.

Ông khuyến khích một cuộc sống hướng tới các giá trị, hướng tới tương lai, bởi vì ông nhìn thấy trong trại tập trung những người có cơ hội sống sót nhiều hơn là những người tin vào một điều gì đó: những người theo đạo, các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị và xã hội, những người không chỉ nghĩ cho bản thân mình mà cố gắng giúp đỡ người khác, họ tin rằng họ có tương lai phía trước, họ sống vì ai đó hay vì cái gì đó, những người khi bị tước đoạt hết các điều kiện sống của một con người bình thường, vẫn luôn cố gắng hành xử một cách xứng đáng, không cho phép hủy hoại cảm giác tự do và phẩm giá của mình.

Không thể sản xuất, phát minh hay ban tặng ý nghĩa cuộc sống, chỉ có thể tìm thấy nó, bởi vì ý nghĩa cuộc sống tồn tại ngoài chúng ta, chúng tồn tại trong các giá trị nâng đỡ tinh thần con người, các giá trị mà những tù nhân của trại tập trung kia muốn phụng sự.

Tâm lý học và nền văn hóa hiện đại thường giảm thiểu tự do của con người, vén ra đủ mọi hình thức lệ thuộc của anh ta. Frankl đã lội ngược dòng: ông chỉ ra rằng con người luôn có thể lựa chọn giữa các hành xử xứng đáng và không xứng đáng, và bằng cách đó thực thi tự do của mình. Mặc dù có các hạn chế, con người vẫn tự do và điều quan trọng là anh ta hưởng lợi từ sự tự do đó.

Ngoài tình yêu, công việc và sự sáng tạo, Frankl xếp vào danh mục các giá trị cả sự đau khổ - khi nó không hủy hoại con người mà làm tinh thần họ lớn lên. Điều này xảy ra khi con người bắt đầu hiểu rằng mình không thể đạt được tất cả mọi thứ, và rằng việc bất toại ấy có thể phục vụ cho một điều gì đó tốt đẹp.

Văn hóa hiện đại dạy ta điều ngược lại: rằng chúng ta có quyền, thậm chí là nghĩa vụ, đặt ra các điều kiện và đòi hỏi trong cuộc sống. Nhưng nó không dạy ta phải làm sao nếu cuộc đời không cho ta đạt được những điều đó. Giá trị của sự đau khổ không có chỗ trong tủ thuốc cấp cứu của thời pop culture. Theo Frankl, ý nghĩa cuộc sống không phải là thứ hàng có thể mua, đặt, hoặc trực tiếp hướng tới. Ý nghĩa là kết quả của việc thực hiện các giá trị tồn tại ngoài con người, vượt quá các mục đích và nhu cầu đơn lẻ của anh ta. Những hành động mà anh ta thực hiện, những tác phẩm mà anh ta sáng tạo, tình yêu mà anh ta trải qua và sự đau khổ mà anh ta chịu đựng với lòng can đảm và phẩm giá – tất cả tạo thành giá trị của con người, vượt ra ngoài lợi ích và sự hữu hạn của loài người.

Theo các nhà tâm lý học thuộc trường phái Frankl, cảm giác mạnh mẽ về ý nghĩa cuộc sống là một trong các thành phần của tâm lý khỏe mạnh. Hạnh phúc chỉ là một hệ quả phụ của cảm giác rằng cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa. Bởi thế người không kiếm tìm hạnh phúc mà kiếm tìm và tạo ra các giá trị sẽ tìm thấy hạnh phúc nhanh hơn.

Dấu hiệu của sự trống rỗng trong tồn tại là sự buồn chán, khi người ta không biết phải làm gì với thời giờ rảnh rỗi và họ giết thời gian như giết kẻ thù, lao vào bất cứ một hoạt động hay cuộc vui nào. Có vẻ như đơn giản, nhưng nhiều khi rất khó dứt khỏi thế giới của chủ nghĩa tuân thủ (conformism) ấy. Theo dr Opoczyńska của Đại học Jagielloński, Frankl là một trong những bậc thầy lớn nhất của thế kỷ XX về giới hạn và khoảng cách. Không phải mọi thứ đều có thể, không phải mọi thứ đều cần thiết, không phải mọi thứ đều được phép.

Thay vì hỏi tại sao tôi bất hạnh – Frankl nói – hãy hỏi cuộc sống chờ đợi điều gì ở bạn và bắt tay vào việc đi.



Friday, 31 July 2009

Cẩn thận kẻo nghiện

(Tặng các friends ở Facebook :))

Thời nay, hơn bao giờ hết, chúng ta có thể bị nghiện một thứ gì đó. Nghiện rượu, nghiện ma túy, nghiện tình dục, cờ bạc ... đã là những căn bệnh xa xưa. Bây giờ, thê giới hiện đại làm chúng ta nghiện internet, nghiện chơi game, nghiện solarium, nghiện mua sắm, nghiện các thứ máy móc... Các bác sỹ tâm lý nói rằng một bệnh nhân nghiện thường nghiện vài thứ cùng một lúc, hiếm khi gặp trường hợp chỉ nghiện một thứ duy nhất.

Khi nào thì một người bị coi là mắc bệnh nghiện dưới góc nhìn của các bác sỹ? Theo định nghĩa, nghiện là khi nếu không chữa trị, tình trạng đó sẽ dẫn đến cái chết. Một người mắc bệnh nghiện, dù là nghiện ma túy hay nghiện internet cũng đều nguy hiểm như nhau. Thật khó tin, phải không? Người ta thường cho rằng nghiện rượu, nghiện ma túy hay các hóa chất mới là bệnh, còn nghiện internet, nghiện cờ bạc... chỉ là vấn đề ý chí không đủ mạnh. Nhưng một người nghiện internet sẽ ngồi lỳ bên máy tính cho đến khi các cơ bụng và xương sống của anh ta biến mất, anh ta sẽ không buồn ăn ngay cả miếng pizza đặt qua điện thoại, những người nghiện solarium sẽ chết vì ung thư da, người nghiện trò chơi cờ bạc sẽ tự tử vì phá sản hoặc thậm chí vì tình trạng mê sảng (delirium): anh ta nhìn thấy các ảo ảnh, ròi bọ, chuột bạch v.v nếu bị ngắt ra khỏi trò chơi, giống như tất cả các con nghiện khác khi bị ngắt ra khỏi thứ mình nghiện. Tất cả các loại bệnh nghiện đều có cùng một cơ chế như nhau.


Thời điểm khi người ta bắt đầu nghiện một thứ gì đó thường bị bỏ qua, người ta không nhận thấy nó. Khi ta bắt đầu sử dụng/chơi với một thứ gì đó (vật dụng, hóa chất, hành xử) lâu hơn cần thiết, ta luôn có rủi ro sẽ vĩnh viễn ở lại cùng nó. Người ta thường bỏ lỡ mất thời điểm khi có thể dừng lại được. Khi không thể dứng dậy rời khỏi internet, người ta tìm đủ mọi lý do để biện bạch cho mình và biện bạch với người xung quanh. Trong giai đoạn đầu tiên, người ta mất cảm giác về thời gian. Họ có cảm tưởng như mình chỉ làm việc đó một chút thôi, rất nhanh, nhưng người ngoài lại nói rằng họ đã làm việc đó hàng giờ đồng hồ. Họ bắt đầu sử dụng thời gian khác đi, đi muộn giờ, quên các cuộc gặp, giả vờ ốm để nghỉ việc ở nhà v.v...

Trong giai đoạn thứ hai, người ta bắt đầu vay mượn tứ tung, ăn cắp, ăn trộm. Người ta trở thành những kẻ dối trá, lừa đảo, trộm cắp. Các giới hạn đạo đức bị phá vỡ. Những người nghiện đánh mất bản ngã (identity) của mình, họ không còn biết gì về bản thân mình nữa. Việc chữa nghiện đồng thời cũng là việc xây dựng lại bản ngã của họ từ đầu.

Người ta thường cho rằng chỉ những người yếu đuối, kém ý chí mới bị nghiện một thứ gì đó. Không hẳn là như vậy. Chỉ cần bạn thường xuyên lặp đi lặp lại một hành động nào đó với liều lượng lớn, bạn sẽ nghiện nó, bất kể bạn có cá tính như thế nào. Vì vậy, cần tránh làm một việc gì đó vào giờ nhất định trong ngày, lặp đi lặp lại, với liều lượng lớn, nếu bạn không muốn nghiện nó.

Thời xưa, khi một nguời bị nghiện một thứ gì đó, anh ta không có nhiều điều kiện để truyền bá nó. Ngày nay, chúng ta có vô số cách để liên lạc với nhau dễ dàng. Chỉ cần một người nghiện làm quiz trên mạng xã hội Facebook chẳng hạn, anh ta sẽ dễ dàng rủ rê rất nhiều người khác cùng chơi trò đó với mình. Thêm vào đó, việc gây nghiện cho người khác đã trở thành một công nghệ tinh vi, đằng sau nó là những ngành công nghiệp, những món tiền lớn mà người ta không dễ dàng bỏ qua. Bà Luba Szawdyn, một chuyên gia chữa nghiện người Ba Lan kể rằng có lần bà đi dự một hội nghị quốc tế và vào nhầm phòng họp của một chương trình lớn nhằm sản xuất những vật dụng gây cám dỗ, bà gặp ở đó các nhà tâm lý học, xã hội học tên tuổi tầm cỡ quốc tế. Họ được nhận những khoản tiền lớn cho việc nghĩ ra phương pháp khiến người ta phải nghiện sản phẩm.

Đâu đâu cũng đầy cám dỗ và càng ngày các cám dỗ càng khó cưỡng lại, thế giới hiện đại là như vậy, vì thế chúng ta luôn phải thật cương quyết đặt ra cho mình các giới hạn, và luôn nhớ rằng có rất nhiều nguời muốn điều khiển chúng ta, đừng để họ làm được điều đó.

Và cuối cùng, ta cũng nên biết rằng: có thể bị nghiện cả.... bác sỹ chữa nghiện!

Friday, 1 May 2009

Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên


7 giây. Chúng ta cần từng đó thời gian để quyết định: tôi thích cái này, để phán xét: đúng hay sai, để phải lòng hay chán ghét ai đó. Vô cùng nhanh, bộ não gửi cho chúng ta câu trả lời cảm tính, tức thời và.... thường là KHÔNG chính xác đến đáng ngạc nhiên. Có nên tin vào cảm nhận đầu tiên hay không? Phải làm gì để chúng ta ít sai lầm hơn?

Không hiếm khi một người phỏng vấn tuyển nhân viên từ chối ai đó chỉ sau vài phút nói chuyện, chỉ vì người này có nụ cười giống cô bạn vô duyên hồi cấp 1, giọng nói giống anh chàng hàng xóm đáng ghét, mái tóc giống người đồng nghiệp hay kèn cựa v.v... Trong khi đó, có thể chính họ sẽ là những nhân viên lành nghề nhất, thích hợp với công việc đó nhất. Điều này không làm nhà tâm lý học David Myers ngạc nhiên. Ông đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện ra: dự đoán của phần lớn các chuyên gia tuyển dụng nhân sự thường sai lầm đến mức gây sốc. Kết quả của các dự đoán này thường tồi tệ hơn các bài kiểm tra đơn thuần để đánh giá ứng cử viên rất nhiều.

Có thật là các ý nghĩ đầu tiên thường đúng nhất không? Ngày nay chúng ta sẵn lòng tin vào điều này hơn bao giờ hết. Trong khi đó, các nghiên cứu cho thấy cảm nhận đầu tiên đánh lừa các quan tòa khi phán xét về mức độ đáng tin cậy trong lời khai của các các nhân chứng hay bị cáo, đánh lừa các bác sỹ khi dự đoán bệnh nhân có khuynh hướng tự tử hay không, đánh lừa các nhân viên bán hàng (nhân là các nhân viên bán xe hơi) và làm cho họ coi thường các khách hàng tiềm năng (mà sau đó chạy sang hãng của đối thủ cạnh tranh mua xe). Những cuộc hôn nhân từ tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không bền vững hơn những cuộc hôn nhân mà tình yên đến từ từ theo thời gian.

Tại sao cảm nhận đầu tiên của chúng ta lại sai? Có phải vì chúng ta thiếu trực giác (intuition)?

Trực giác phụ thuộc vào sự hiểu biết, kinh nghiệm, các trải nghiệm được ghi nhớ sẵn trong ký ức. Khi ta cảm thấy ai đó hay một nơi nào đó dễ mến, dễ thương, có nghĩa là ta cảm thấy người đó hay nơi đó có cái gì đó quen thuộc với ta. Khi không có thời gian để phân tích và suy nghĩ, chúng ta nghĩ tắt. Toàn bộ bí ẩn của trực giác là sự tìm kiếm chớp nhoáng trong kho ký ức, nhanh đến nỗi bản thân chúng ta cũng không ý thức được. Kết quả có trong vài giây: đó chính là cảm nhận. Tốt hoặc xấu. Nhưng trước hết là chính xác hay sai lầm.

Điều này phụ thuộc vào cái gì? Vào việc chúng ta có những gì trong kho ký ức. Chúng ta càng có nhiều hiểu biết, nhiều quan sát thì càng tốt. Nếu chúng ta là chuyên gia trong lĩnh vực nào đó, các cảm nhận của chúng ta phần lớn sẽ đúng. Nếu ta không thạo về vấn đề gì, cảm nhận sẽ đánh lừa chúng ta.

Một đứa bé hai tuổi thích nghịch các ổ điện. Trực giác của nó nói rằng cái đó tuyệt đối an toàn. Hàng nghìn năm, loài người bằng cảm nhận đã tin rằng trái đất phẳng.

Cảm nhận đầu tiên cũng giống như khi ta đọc nhan đề của một bài viết và dừng lại ở đó. Như vậy có phải là đủ không? Nhưng đó chính là điều chúng ta làm khi nhìn người khác, làm quen với họ và đánh giá họ bằng vài giây cảm nhận.

Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên giống như tình cảm từ máy tự động. Người phụ nữ gặp một người đàn ông. Trong chớp mắt cơ cấu suy nghĩ bằng trực giác khởi động: hồi tưởng về tất cả các người đàn ông cô từng quen trong quá khứ được lục lại trong ký ức, giọng nói, nét mặt, cử chỉ, mùi hương, lối sống. Kết luận chớp nhoáng: đây là người đàn ông dành cho tôi. Anh ta có cái gì đó thân quen, gợi những liên tưởng dễ chịu. Vì thế chúng ta thường phàn nàn khi ai đó cứ yêu những người đàn ông giống nhau.

Trực giác là sự thừa hưởng một cách tiến hóa của chúng ta, nhiệm vụ của nó là cảnh báo các nguy hiểm. Những thứ thân quen có nghĩa là tốt và an toàn, còn những thứ lạ - là nguy hiểm. Trong cuộc sống nhiều khi mọi sự không như vậy, nhưng trực giác luôn luôn nhắc nhở ta theo cách cũ ấy.

Không ai là có trực giác tốt trong tất cả mọi chuyện. Bạn có thể có cảm nhận chính xác về đàn ông, nhưng lại cảm nhận sai bét về các vấn đề tài chính. Càng nhiều hiểu biết và kinh nghiệm, bạn sẽ càng có ít những suy nghĩ theo lối mòn, những định kiến. Đó là điều kiện để có các cảm nhận quý giá và chính xác.

Nếu bạn muốn cảm nhận của mình về mọi người chính xác hơn, bạn có thể luyện tập bằng cách có thêm các kinh nghiệm mới, mở rộng các mối quan hệ của mình, quen biết thêm nhiều người, nhất là những người khác với bạn.

Con trai của tỉ phú và nhà tài chính George Soros có lần đã tiết lộ: - Tôi thấy cha tôi trình bày các lý thuyết tại sao ông lại mua loại cổ phiếu này, bán cổ phiếu kia. Tầm phào! Ai cũng biết là cha tôi bán cô phiếu ra khi ông thấy đau lưng.

Các nhà tâm lý học khuyên chúng ta không nên coi thường các tín hiệu của cơ thể. Sự bất an, đau bụng, giật giật ở chân cũng là các cảm nhận. Thay vì tự trấn an: đây là tôi đang lo lắng thôi, vào thời gian này trong năm tôi luôn cảm thấy khó ở, bạn hãy quan sát xem các sự kiện hay quyết định gì đến cùng với các tín hiệu này. Một bài tập tốt là hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đã quyết định chuyện đó rồi, và quan sát tình cảm cũng như các hình ảnh hiện ra. Quan sát tất cả, đến tận cuối cùng, vì thường xảy ra trường hợp sau các cảm nhận tích cực đầu tiên, các cảm nhận khác ít thú vị hơn bắt đầu xuất hiện. Mà những cảm nhận cuối cùng mới là quan trọng nhất.

(Theo Twój Styl)

Wednesday, 1 April 2009

Tại sao chúng ta hay kể chuyện?

Tư duy là gì? Trước hết, nó thường được coi là công cụ để suy luận. Tư duy tốt có nghĩa là dựa trên các nguyên tắc lô gích chặt chẽ, đưa ra được những chứng minh đúng cho các định lý trừu tượng và tìm được cách giải quyết vấn đề tốt nhất. Những người lạc quan của cách đặt vấn đề như thế này nóng lòng chờ đợi thời điểm khi có thể đưa toàn bộ tư duy của con người vào các quá trình tính toán được – như các quá trình của máy điện toán.

Nhưng ngành tâm lý học hiện đại lại khẳng định một cách trái ngược, rằng suy luận lô gích không phải là cách duy nhất, thậm chí không phải là cách phổ biến và hữu dụng nhất của tư duy con người. Để sống viên mãn, người ta cần cái gì đó nhiều hơn thế.

Một trong những nhà tâm lý học có ảnh hưởng lớn nhất trong vòng vài thập kỷ nay Jerome Bruner viết về điều này như sau: „ Những năm gần đây, tôi theo dõi được một loại tư duy khác, hoàn toàn khác biệt về hình thức suy luận: tư duy dựa trên kết cấu không phải của các lý lẽ lô gích hay quy nạp, mà là của các chuyện kể hoặc các câu chuyện (narrative).” Lối tư duy theo câu chuyện trở thành một trong những lãnh vực nghiên cứu quan trọng nhất, kể từ khi người ta chú ý đến vai trò chính yếu của nó trong cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như trong các thực tiễn xã hội khác như việc kết bạn, xử án, giảng dạy về bản sắc dân tộc trong trường học v.v.

Việc khám phá ra vai trò cơ bản của câu chuyện được một số người ví như một loại cách mạng. Tâm lý học hiện đại nhận ra rằng – như lời Bruner – cuộc sống „không phải là như nó vốn thế, mà là như nó thể hiện ra.” Và rằng đối với chúng ta, nó thường là như chúng ta biết cách kể về nó thế nào. Các nhà tâm lý học đưa ra khái niệm sơ đồ câu chuyện. Đó là niềm tin ăn sâu, thường là vô thức, rằng những câu chuyện tương tự xảy ra với những người giống ta. Ngược lại, nếu trong cùng một hoàn cảnh y hệt, một người tràn đầy hy vọng và tìm thấy hứng khởi trong việc đương đầu với thử thách, còn người thứ hai thì thất vọng và thụ động, thì đó có thể là vì họ có các sơ đồ câu chuyện của các sự kiện này hoàn toàn khác nhau. Mà trên cơ sở đó, họ đặt ra các ý nghĩa hoàn toàn khác nhau cho cuộc sống của mình và xoay xở với chúng một cách khác nhau.

Bản thân kỹ năng kể và nghe các câu chuyện vốn là phổ biến đối với loài người. Dường như nó gắn liền với một loại nhu cầu. Thông thường, khi kể chuyện, chúng ta chờ đợi hoặc e ngại một kết thúc cụ thể. Chúng ta lưu giữ một cách tự động trong ký ức các kết cuộc có thể xảy ra từ những câu chuyện thường gặp hay từ lịch sử. Nhưng không chỉ các câu chuyện mới mới hấp dẫn mọi người. Cả những câu chuyện mà ta đã biết rất rõ cũng mang đến sự dễ chịu và làm ta nguôi ngoai. Câu chuyện có sức hấp dẫn bất khả từ và có mặt khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta. Chính là bằng cách này, chúng ta thu nhập kiến thức để hoạt động trong môi trường của mình, mang đến cho mình động lực để đạt các mục đích và học hàng loạt các kỹ năng cần thiết để sống. Nếu ta hoàn toàn loại bỏ các câu chuyện kể, các cuộc tán gẫu ra khỏi đời sống, có thể chúng ta sẽ chung sống khó khăn hơn.

Thảm kịch lớn của những người bệnh tâm thần hoặc cô đơn nhiều khi chính là họ không còn biết cách kể những câu chuyện dễ hiểu và được mọi người chấp nhận, điều này đồng nghĩa với việc bị tuột ra khỏi chuỗi mắt xích của những câu chuyện kể giữa người với người. Việc không kể chuyện được trở thành sự chịu đựng đau đớn.

Người ta đã chỉ ra rằng những người không bao giờ kể cho ai về câu chuyện đặc biệt quan trọng nào đấy trong đời mình, ví dụ như cái chết đột ngột của người thân hay một tội lỗi nghiêm trọng thời trẻ, thường có nguy cơ cao bị bệnh hiểm nghèo và suy giảm sức đề kháng cơ thể. Dường như sự kìm nén không nói ra đã ngốn hết năng lượng bên trong họ.

Loại chuyện nào có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống của chúng ta? Với mỗi người, trước hết là các câu chuyện về bản thân mình, kể lịch sử những sự kiện quan trọng nhất trong đời hoặc những biến chuyển nội tâm. Chúng ta kể những chuyện này cho bạn bè, người thân, đôi khi chúng ta viết ra giấy.
Tế nhị hơn, nhưng có lẽ lại có ảnh hưởng quan trọng hơn với chúng ta là các câu chuyện gia đình. Lịch sử của tôi cũng là lịch sử của cha mẹ tôi, đường ray số phận của tôi cũng liên quan tới số phận của tổ tiên tôi. Mà số phận tổ tiên tôi lại liên quan đến lịch sử của nhóm xã hội hay của dân tộc và đặt tôi vào một bối cảnh rộng hơn. Tất cả những điều này hình thành nhận thức thầm kín về việc chúng ta là ai, ta phải hành xử thế nào và số phận tiếp theo của ta ra sao.

Các khuôn mẫu căn bản của câu chuyện luôn lưu lại trong chúng ta một cách không nhận thấy. Bruner nhận xét hóm hỉnh: „Con cá nhận thấy nước cuối cùng, trừ phi nó có một sự trợ giúp siêu hình”. Chúng ta thường không nhìn thấy mình chìm ngập trong dòng sông của các câu chuyện như thế nào. Có những gia đình mà người ta truyền từ đời này qua đời khác hình mẫu người phụ nữ bất hạnh, hay dự cảm rằng sau mỗi thành công sẽ là bất hạnh. Ảnh hưởng của những câu chuyện kiểu như thế đối với người ngoài có vẻ như thần bí, giống như có một lời nguyền của dòng họ. Nhưng ngành tâm lý học đã có thể soi rọi một phần cơ chế này.

Trong một thí nghiệm kinh điển, sir Fredric Bartlett bắt một số người bất kỳ phải nhớ và sau đó kể lại một câu chuyện cổ tích của người da đỏ mà họ chưa biết trước đó và xa lạ với nền văn hóa của họ. Đó là câu chuyện về hai người đàn ông ra trận và một người hy sinh không rõ trong hoàn cảnh nào. Những người được thí nghiệm hoàn toàn bình thường và có trí nhớ tốt. Trước sự kinh ngạc của các nhà tâm lý học, họ không những không thể nhớ rõ chuyện kể có khuôn mẫu câu chuyện khác với văn hóa của họ, mà họ còn biến thể nó đến mức không nhận ra được. Để cho câu chuyện hợp lý, những người Mỹ miêu tả những người da đỏ bằng ngôn ngữ y học và kỹ thuật, loại bỏ hẳn các chi tiết liên quan đến thế giới thần linh. Thí nghiệm lại với một nhóm sĩ quan quân đội thì họ chủ yếu nhớ đến các loại vũ khí mà người da đỏ dùng. Khi thí nghiệm với nhóm y tá, họ tập trung vào nhớ các vết thương và sự quan tâm của các nhân vật dành cho gia đình.

Vần đề là ở chỗ không một chi tiết nói trên nào – cả vũ khí, cả các vết thương – có trong nguyên bản câu chuyện. Người ta nhớ những gì hoàn toàn không có và quên mất những chi tiết thực sự. Sau vài lần truyền miệng từ người nọ sang người kia thì nó không còn là chuyện của người da đỏ nữa mà đã trở thành câu chuyện điển hình của văn hóa những người kể.

Trên cơ sở thí nghiệm này và các thí nghiệm tương tự, các nhà tâm lý học kết luận rằng tư duy của con người được các sơ đồ nhận thức điều khiển , mà sơ đồ câu chuyện là một trong các sơ đồ đó. Sơ đồ này vận hành tương tự như sự hạn chế nhận thức, giống như cặp kính mà qua đó chỉ có thể nhìn thấy một phần quang phổ màu sắc. Nó khiến chúng ta biết các đặc tính nào của một hoàn cảnh là quan trọng và đáng nhớ, còn những thứ khác thì ta không để ý hay dễ quên. Cũng chính như vậy, nếu đối với ai đó câu chuyện về sự ghen tuông và phản bội là một câu chuyện mang tính then chốt, một sơ đồ câu chuyện đặc trưng, thì anh ta sẽ có khuynh hướng nhìn thấy sự ghen tuông và phản bội ở khắp mọi nơi. Hơn thế nữa, anh ta khó lòng bẻ gãy hình mẫu đó trong cuộc sống riêng của mình. Nguyên nhân một phần là do chúng ta luôn phản kháng lại một cách hiệu quả với các thông tin không phù hợp với câu chuyện mà chúng ta mang trong đầu. Ngay cả khi có một câu chuyện hoàn toàn khác với những gì sơ đồ áp đặt xảy ra với chúng ta, chúng ta cũng không nhận thấy nó.

Các nhà tâm lý trị liệu biết rằng trong những trường hợp như vậy việc đem đến cho ai đó những câu chuyện hoàn toàn mới có thể giúp ích được cho họ. Học những cách hành xử mới trong cuộc sống cũng giống như học ngoại ngữ. Chúng ta học cách dùng một bộ lọc mới, học cách nhìn mới đối với cuộc sống. Chúng ta mong đợi kết cục khác cho các câu chuyện của cuộc đời ta. Như vậy tốt nhất là kể cho ai đó nghe một câu chuyện tốt lành, hơn là chỉ lý thuyết suông rằng họ cần phải thay đổi và họ có thể sống khác đi.

(Magdalena Budziszewska, bài đăng trên chuyên san về tâm lý học của tạp chí Polityka, Thái Linh lược dịch)