Showing posts with label savoir-vivre. Show all posts
Showing posts with label savoir-vivre. Show all posts

Monday, 26 December 2016

Dress code - mặc gì, dịp nào, ở đâu



„Thà làm một kẻ ngu thanh lịch còn hơn là một kẻ ngu không thanh lịch” – Immanuel Kant bảo thế.

dress code là thứ mật mã mà bất cứ „kẻ ngu thanh lịch” nào cũng phải biết. Đơn giản nhất thì nó là mật mã mặc gì vào dịp nào cho đúng, nhưng hơn thế, nó còn là cách bạn „trình bày” bản thân cho phù hợp với vị trí công việc, xã hội, với tuổi tác và đặc điểm ngoại hình của mình, thậm chí phù hợp với mùa hay thời gian trong ngày. Với một số người, nó còn là cách thể hiện phong cách, cá tính riêng, thể hiện sự duy nhất, độc đáo của họ.

Bắt đầu từ những điều đơn giản nhất đã nhé: dress code mặc gì vào dịp nào. Nếu bạn nhận được giấy mời đi dự một buổi tiệc với dòng chữ nhỏ ở góc „black tie”, thì bạn phải mặc gì? Công ti quy định dress code „business professional” nghĩa là sao? Tiệm ăn ghi „dress code: smart casual” tức là thế nào? Dưới đây là những dress code cơ bản từ cấp độ cao nhất đến thấp nhất theo nghi thức ngoại giao.

White tie (trang phục formal buổi tối ): đàn ông mặc áo đuôi tôm dài (tailcoat) và phụ kiện (áo sơ mi trắng, nơ trắng), phụ nữ mặc váy dạ hội dài chất liệu chủ yếu là lụa. Mặc vào các dịp: dạ hội, các nghi thức có mặt các quan chức nhà nước cao cấp nhất.




Morning dress (trang phục formal ban ngày) đàn ông mặc áo đuôi tôm vạt chéo (morning coat, jacket) và phụ kiện (sơ mi sáng màu, nơ hoặc cà vạt); phụ nữ mặc váy dài hoặc bộ váy áo các màu khác nhau, nếu đi dự đám cưới thì tránh màu đen và trắng, nếu đi đám tang mặc màu đen, chất liệu lụa, len nhẹ, đội mũ. Mặc vào các dịp: đám cưới, xem đua ngựa, các gala mùa hè ngoài trời, đám tang.



Black tie, smoking (trang phục semi-formal): đàn ông mặc đồ smoking đen (tuxedo, dinner jacket) và phụ kiện (sơ mi trắng, nơ đen); phụ nữ mặc váy buổi tối dài (hoặc đến đầu gối) hoặc bộ váy áo vest buổi tối, chất liệu lụa. Mặc vào các dịp: gala, ra mắt phim, kịch, các lễ kỉ niệm long trọng.




Informal (trang phục informal): đàn ông mặc com-lê xanh tím than hoặc màu ghi và cà vạt, buổi tối mặc màu xanh tím than đậm; phụ nữ mặc váy dài đến đầu gối hoặc quần phăng, chất liệu lụa hoặc pha lụa, len nhẹ, ban ngày mặc màu sáng hơn đồ mặc buổi tối. Mặc vào các dịp: ăn trưa, gặp mặt hội họp, khai mạc triển lãm, cocktail, ăn tối, đến nhà hát, đi nghe hòa nhạc.




Business professional (trang phục informal): đàn ông mặc com-lê xanh tím than hoặc màu ghi và cà vạt; phụ nữ mặc váy đến đầu gối hoặc quần phăng, chất liệu lụa hoặc pha lụa, len nhẹ, màu sắc tùy vào dịp – dịp càng quan trọng thì màu càng tối. Mặc vào các dịp: trang phục hàng ngày của chính trị gia, phát biểu trước quần chúng, business luch...



City (trang phục informal): đàn ông mặc com-lê các màu trừ màu đen, xanh tím than và ghi, hoặc áo vest và quần khác màu; phụ nữ mặc váy mang tính chất ban ngày, chất liệu lụa không bóng, pha lụa, vải bông, len nhẹ. Mặc vào các dịp: tiệc vườn, sự kiện thể thao long trọng, dự hội nghị.



Country (trang phục informal): đàn ông mặc áo vest dạ (thường là áo kẻ nâu) cùng các phụ kiện nâu; phụ nữ mặc áo khoác (jacket) thể thao, áo khoác dạ kẻ nâu, váy hoặc quần khác màu, váy dài có tay, chất liệu: len, cotton, dạ, sợi tổng hợp, thun, đi giày thấp gót. Mặc vào các dịp: gặp gỡ không long trọng, đi dạo chơi.





Casual smart (trang phục informal): đàn ông mặc áo vest thể thao và quần không li, phụ nữ mặc áo khoác thể thao và quần jeans, áo tunic và quần bó, hoặc váy có tay mang tính thể thao, chất liệu: len nhẹ, cotton, pha lụa, dạ. Mặc vào các dịp: đi công viên, đi dạo, các cuộc vui chơi mang tính thoải mái.




Casual (trang phục informal): đàn ông mặc áo thun chui đầu, áo phông, áo len, quần jeans hoặc quần không li; phụ nữ mặc áo phông, áo sơ mi, áo len, quần jeans, váy thể thao, váy thun... chất liệu len, cotton, sợi tổng hợp, dạ. Mặc ra đường phố, khi đi nghỉ.


Business casual (trang phục informal): đàn ông mặc sơ mi thể thao, quần jeans hoặc quần không li; phụ nữ mặc áo phông, áo sơ mi, quần jeans, váy thể thao, váy đến đầu gối, chất liệu len, cotton, dạ, sợi tổng hợp. Mặc đi làm hàng ngày nếu trong công ty không có quy định khác.



Monday, 15 August 2016

Du lịch thông minh



Xách ba lô lên và đi”, ai mà chẳng thích! Nhưng du lịch một cách thông minh để các trải nghiệm này vừa trở nên quý giá, vừa là những trải nghiệm có ý thức, thì không phải ai cũng để ý. Có người đã đặt ra khái niệm „hậu-du-khách” (post-tourist) để chỉ những người khác với du khách hay phượt thủ thông thường ở chỗ họ có ý thức về sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu, về quan hệ nhân quả của các hành xử khi là một du khách, ý thức về các quá trình tâm lí, thương mại hay hệ tư tưởng. Xin tạm gọi các „hậu-du-khách” này là những du khách thông minh. Trong thực tế, điều này có thể biểu hiện như thế nào?

Một số điều sau đây có thể khiến bạn du lịch thông minh hơn:


1. Nên lựa chọn kỹ nơi đến du lịch một cách có ý thức. Không nhất thiết phải đến nơi nào khách du lịch không mấy được hoan nghênh, ví dụ như Bhutan hay núi thiêng Uluru ở Úc. Thế giới rộng lớn có bao nhiêu nơi để đi, sao phải chen chân vào chốn không mời làm gì cho khổ?

2. Đừng mang theo quá nhiều đồ. Chọn những thứ quần áo „đa năng”, dễ phối dễ mặc trong mọi hoàn cảnh, chỉ cần 1-2 chiếc thay vì 3-4 bộ khác nhau. Mỗi kg hành lí của bạn sẽ khiến máy bay đốt nhiều nhiên liệu hơn, và do dó xả nhiều khí thải hơn. Máy bay là nguồn thải CO2 tăng tốc nhanh nhất hiện nay. Một chuyến bay khứ hổi Paris - New York thải ra 1 tấn CO2, trong khi đó một cái cây trung bình chỉ hút được 5 kg CO2 trong 1 năm. Để xử lý được 1 tấn khí thải, cần vài chục cái cây trong vài năm.

3. Máy bay đốt nhiên liệu nhiều nhất khi lên và xuống. Bởi vậy nếu có thể, nên chọn những chuyến bay thẳng không transit. Thay vì du lịch vài chuyến ngắn, hãy lên kế hoạch đi một chuyến dài.

4. Ở những nước kém phát triển chính quyền không mấy có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, ví dụ như Việt Nam, Ấn Độ, Tunisie, Ai Cập... rác thải phần lớn sẽ được đổ thẳng ra sông, biển, sa mạc... Đến những nước này, nên sử dụng khăn tắm nhiều lần trong khách sạn, đừng lau xong 1 cái là quẳng ngay xuống sàn để phục vụ phòng phải thay cái khác. Đừng tắm lâu hay xả nước hoang phí. Tiết kiệm điện, hạn chế dùng đèn, máy sấy tóc, điều hòa nhiệt độ nếu không cần thiết lắm.

5. Những chương trình hấp dẫn dành cho khách du lịch rất nhiều khi rất không „vô tội” như bề ngoài. Đừng xem các chương trình biểu diễn múa voi, bởi trước đó những con voi này đã bị tách khỏi mẹ từ rất nhỏ, đánh đập, bỏ đói để dạy làm những trò biểu diễn.

Những con vật dùng để phục vụ du khách thường là những con thú bị ngược đãi: khỉ bị cho dùng ma túy để nhào lộn, rắn bị bẻ răng để du khách cho ăn, cá heo bị nuôi trong các bể nhân tạo cho du khách xem thường bị chết rất nhiều vì khác với điều kiện sống tự nhiên của chúng... Nếu không thế ngắm nhìn động vật tự do trong thiên nhiên (ví dụ ra Đại Tây Dương xem cá heo) thay vì vào xem các bể nuôi cá heo nhân tạo, bạn hãy dùng số tiền đó để đóng góp cho việc bảo vệ chúng.

6. Đừng đi săn thú ở châu Phi. Giấy phép đi săn không được kiểm soát dẫn tới tình trạng trong vòng 20 năm qua, số lượng của các loài động vật ở giới hạn tuyệt chủng đã bị giảm tới 30 %.

7. Để phục vụ du khách, nhiều nghi lễ truyền thống của địa phương đã bị thay đổi, biến dạng. Các lễ hội bị tập trung lại vào mùa du lịch. Các vở múa Kanthakali ở Ấn Độ bị rút ngắn mất 2/3, người Bali phải múa hàng ngày những điệu múa đáng lẽ chỉ diễn ra 60 năm một lần, người Karen ở Thái Lan đánh trống cho khách du lịch nghe mặc dù theo truyền thống, họ chỉ đánh trống trong đám ma...

8. Những chuyến tham quan các khu ổ chuột của các tour du lịch không hề đem lại lợi ích cho người dân ở đó, mà chỉ là sự xâm phạm nhân phẩm và quyền riêng tư của họ. (Mặc dù vậy, hàng năm vẫn có tới 40 nghìn khách du lịch thăm các khu ổ chuột ở Rio, và khoảng 300 nghìn khách du lịch thăm các khu ổ chuột ở cape Town).

9. Đừng tham gia các chương trình nửa du lịch nửa làm thiện nguyện, ví dụ kiểu „trò chơi tình nguyện viên” trong vài ngày giúp các em bé mồ côi ở Nepal hay Campuchia. Số trẻ em mồ côi ở các nước này tăng đột biến, nhưng không phải trên thực tế, mà chỉ là để cung cấp cho các địa điểm „du lịch thiện nguyện”. Các trẻ em này trở thành nguồn thu nhập của các tổ chức du lịch. Du khách vừa bị làm tiền, vừa gián tiếp tiếp tay cho tệ nạn, vừa tưởng rằng mình „là người tốt” để ru ngủ lương tâm.

(Viết trước một chuyến đi dài (thay cho vài chuyến đi ngắn), cũng là để tự nhắc mình :-) Nhiều thông tin được lấy từ bài „7 tội lỗi của du khách” của Zuzana Kisielewska, tạp chí Focus số tháng 8/2016).

Sunday, 23 November 2014

Một số yêu cầu về trang phục (dress code) của Bộ Ngoại Giao Ba Lan đối với nhân viên



- không mặc trang phục và phụ kiện mang tính chất thái quá, lố lăng
- không mặc váy xẻ sâu
- không mặc váy ngắn hơn 7,5cm trên đầu gối
- không mặc váy dài chấm gót
- không mặc váy có họa tiết
- không mặc áo sát nách, áo cổ rộng, áo hở vai
- không mặc váy kiểu đi biển, áo váy hai dây, trang phục hở lưng
- không mặc trang phục với những khẩu hiệu, slogan, quảng cáo hay nhãn hiệu
- không mặc trang phục trong suốt hoặc óng ánh
- không đi giày thể thao, dép xăng-đan, dép lê, giày nhựa..
- không đi tất da chân óng ánh, bóng, màu chói, quá nhiều họa tiết...
- không mặc trang phục quá bó sát hay quá rộng
- không đeo khuyên trên mặt hay trên cơ thể, không để hở hình xăm
- không đeo quá nhiều trang sức, cụ thể là: không đeo hoa tai lủng lẳng, nhẫn to, không đeo nhiều hơn 2 cái vòng tay, không đeo vòng cổ quá lớn, không đeo nhiều hơn một nhẫn tròn và 2 nhẫn có mặt trên 2 tay
- không mặc quần bò, quần lửng, quần short, quần bó, quần thể thao...
- không để móng tay dài, không sơn móng tay màu sặc sỡ, không đeo móng giả, không đính trang trí lên móng tay
- không đeo đồng hồ thể thao to
- phụ nữ trang điểm nhẹ nhàng kín đáo, đi giày kín mũi, gót không quá cao, luôn đi tất da chân bất kể thời tiết, trang sức ít và lịch sự, phù hợp với quần áo
- nam giới mặc com-lê, sơ mi dài tay, đeo cà vạt hoặc nơ, giày tất và phụ kiện (ví dụ cặp xách) hợp màu với quần áo, tất không quá ngắn
- tay sạch sẽ, được chăm sóc kỹ
- kính hợp với quần áo
- dùng các màu dịu và trầm như đen, xám, xanh tím than, nâu, mận chín..

Saturday, 25 April 2009

Savoir-vivre bên bàn ăn



Savoir-vivre hay là phép lịch sự, phép xử thế, bon-ton, nhưng phép giao thiệp và lễ nghi hiện hành trong một môi trường xã hội nhất định.

Theo tiếng Pháp, savoir có nghĩa là „biết”, vivre – nghĩa là „sống”. Savoir-vivre do đó có thể tạm dịch là „nghệ thuật sống”. Theo cách hiểu thông thường thì savoir-vivre có nghĩa là: 1) biết cách giao tiếp, hành xử, biết các nghi thức, các phép lịch sự, hoặc 2) biết sống, biết xử sự và giải quyết các tình huồng khó khăn trong cuộc sống.

Một cách bao quát nhất thì các quy tắc của savoir-vivre là: nụ cười, sự tử tế, thiện chí, sự đúng giờ, sự kín đáo, lòng trung thực, chân thành, phép lịch sự.

Các quy tắc savoir-vivre liên quan trước hết đến một số lĩnh vực của cuộc sống như: 1) các quy tắc bên bàn ăn (cách bày bàn, đưa thức ăn, đồ uống, cách dùng bữa); 2) các quy tắc về phục trang, ăn mặc; 3)các quy tắc giao tiếp (ở nơi làm việc, trong gia đình, trong các buổi tiệc); 4) các quy tắc thông tin liên lạc (cách nghe điện thoại, sử dụng internet v.v) 5) các quy tắc hành xử trong những trường hợp đặc biệt.

Còn người Anh thì tóm gọn các quy tắc vàng trong ứng xử vào chữ IMPACT (I – integrity, M – manners, P- personality, A – appearance, C – consideration, T- tact)

Bên bàn ăn

Khăn ăn: dùng để bảo vệ quần áo khỏi bị dây bẩn và để lau miệng trong khi ăn. Có 2 loai khăn ăn: khăn vải và khăn giấy. Trong một bữa tiệc nhiều món ăn không nên dùng khăn giấy. Khăn ăn bằng giấy chỉ nên dùng khi uống cà phê hoặc trong bữa ăn sáng.

Không bao giờ được quấn khăn ăn quanh cổ, cũng không nên để khăn ăn dưới đĩa hay giữa các đĩa thức ăn, giữa dao dĩa, côc chén. Khăn ăn nên để trên đùi, nếu trong bữa ăn bạn phải đứng dậy thì gấp tạm khăn ăn lại và để xuống ghế ngồi. Khi đã ăn xong món cuối cùng, bạn gấp khăn ăn lại và để lên bàn, bên cạnh đĩa của mình.

Dao dĩa: Thông thường chúng ta cầm dao tay phải, cầm dĩa tay trái. Với những món ăn không phải dùng dao thì cầm dĩa sang tay phải.

Dao dĩa cũng có ngôn ngữ riêng. Nếu bạn muốn tạm dừng, „giải lao” trong khi ăn, thì đặt dao dĩa chéo nhau theo hình chữ X lên đĩa của mình, lưỡi dao hướng vào phía trong lòng đĩa. Khi đã dùng xong bữa, muốn nói „xin hãy dọn đi”, bạn đặt dao dĩa song song với nhau theo chiều dọc, cán dao và dĩa hướng về phía mình. Không được gác dao dĩa lên thành đĩa, cán chạm xuống mặt bàn.

Muốn khen ngợi đầu bếp „Món ăn rất ngon”, bạn đặt dao dĩa theo hình kim đồng hồ chỉ 7 giờ kém 25.

Muốn biểu lộ rằng món ăn không ngon miệng, bạn đặt dao dĩa theo hình kim đồng hồ chỉ 6 giờ 25.

Trong bữa tiệc tại nhà riêng, không nên biểu lộ sự khen ngợi hay chê trách bằng dao dĩa.

Không được để dao dĩa xuống bàn ăn hay để lên khăn ăn.

Trên bàn tiệc bày theo kiểu cổ điển, có thể có những chiếc đĩa bằng kim loại, thường là bằng bạc hay mạ bạc, khác hẳn những chiếc đĩa khác trên bàn. Đây chỉ là những chiếc đĩa trang trí, không bao giờ được dùng chúng để ăn, hay đặt thìa dĩa, khăn ăn lên đó.

Trườc khi ăn nên đi toilet và rửa tay.

Khi ngồi ăn, phải giữ tư thế ngay ngắn, thân mình cách bàn ăn chừng 1 gang tay. Không chống khủyu tay lên bàn, không vắt chéo chân hay rung đùi. Không nghịch dao dĩa hay gõ lanh canh.

Nếu trong khi ăn cần xì mũi, nên quay ra đằng sau để làm việc đó. Tốt nhất là bạn nên đứng lên và đi ra xa vài bước.

Không húp xì xụp, nhai chóp chép, gây ra tiếng động trong khi ăn.

Sẽ là rất mất lịch sự nếu bạn hòan tòan không động đến món ăn được bưng ra, hay là ăn rất ít. Nếu một món ăn đối với bạn quá lạ lẫm, bạn cũng nên thử một chút. Nếu bạn bị đau dạ dày thì tốt nhất là nên từ chối khi được mời ăn, còn hơn là đau khổ ngồi nhìn một bàn đầy thức ăn.

Khi ăn không nên để thừa, nhất là xúp hay món khai vị. Trong tiệm ăn, không nên tra gia vị quá nhiều vì như vậy là làm hỏng tác phẩm của người đầu bếp.

Nếu là tiệc đứng, tốt nhất bạn nên lấy đồ ăn vừa phải, hết lại lấy tiếp chứ không nên làm một đĩa tú hụ.

Khi bữa ăn chưa kết thúc, không nên hút thuốc. Không nên dùng nước hoa quá mạnh, vì bên bàn ăn thì mùi vị của thức ăn phải được ưu tiên số 1.

Trong bữa ăn không nên gọi điện thoại di động. Tốt nhất là bạn nên tắt chuông điện thoại trong suốt bữa ăn, nếu quên làm việc này thì khi chuông reo cũng nên tắt máy ngay và xin lỗi mọi người xung quanh.

Khi người phục vụ đưa đồ ăn hay thức uống cho bạn, hãy nói „cảm ơn”, nhưng không nên nói „cảm ơn rất nhiều”.

Ngay cả trong một quán ăn sang trọng nhất cũng có thể có những sai sót làm bạn không hài lòng. Khi đó hãy nhẹ nhàng và kín đáo bày tỏ điều đó với những người phục vụ. Không nên to tiếng bình luận.

Nếu bạn thấy trong món ăn của mình có sợi tóc rơi vào, hãy yêu cầu đổi đĩa khác. Nếu đây là bữa tiệc tại nhà thì bạn nên để món đó lại không ăn, và cũng không bình luận.

Nếu món xúp quá nóng bạn chưa dùng được ngay, cũng không nên dùng thìa khuyấy khoắng hay thổi phù phù.

Trong tiệm ăn, nếu trong cốc rượu vang của bạn có lẫn một mảnh nút chai, điều này cho thấy rượu đã không được mở đúng cách nên các mảnh vụn của nút chai đã rơi vào trong chai. Không nên lấy thìa hay đĩa vớt mảnh nút chai này ra. Bạn hãy đề nghị mở chai rượu khác và rót vào cốc khác. Khi thấy chiếc ly bị bẩn (có vết môi hay dấu vân tay trên thành cốc), bạn có quyền và nên đề nghị đổi chiếc ly khác.

Khi hai người nam nữ vào tiệm ăn, người đàn ông đi trước mở cửa và bước vào trước. Người phục vụ sẽ đến chào và dẫn hai người tới bàn ăn. Lúc này người phục vụ đi trước, theo sau là người phụ nữ, người đàn ông đi cuối cùng. Người đàn ông luôn luôn nhường cho phụ nữ quyền chọn ghế ngồi, sau đó thận trọng đẩy ghế vào để giúp người phụ nữ ngồi xuống được thoải mái.

Trong bữa ăn, nếu người phụ nữ rời khỏi bàn, ví dụ như để vào toilet, thì khi cô trở lại bàn ăn, người đàn ông phải đứng dậy khỏi ghế. Nếu như một bàn đông hơn 2 người, thì những người đàn ông có thể chỉ làm cử chỉ đứng dậy này một cách tượng trưng cũng được.

Khi thanh toán, nên kín đáo để người được mời không được biết trị giá hóa đơn. Nếu đây là một bữa ăn có tính chất bạn bè, có thể thỏa thuận trước là mỗi người trả phần của mình.

Thông lệ „boa” cho người phục vụ có khác nhau ở các nước. (Xem phần dưới). Nếu bạn trả bằng thẻ tín dụng thì nên có một khoản boa riêng cho người phục vụ bắng tiền mặt. Nếu bạn thực sự không hài lòng về chất lượng phục vụ, bạn có thể không boa. Ở một số nước nếu trong thực đơn đã ghi rõ rằng giá các món ăn đã bao gồm cả tiền phục vụ, bạn cũng không cần boa.

Khi rời bàn ăn, người đàn ông kéo ghế ra giúp người phụ nữ đứng dậy. Nếu có áo khoác, người đàn ông mặc áo khoác của mình trước rồi giúp người phụ nữ mặc áo.

Mức tiền boa trong tiệm ăn ở một số nước

Áo: 10-15%
Bulgaria: 5-10%
Cyprus: 10%
Séc: 10%
Đan Mạch: tiền phục vụ thường đã được bao gồm trong giá.
Dominicana: 10%
Ai Cập: 5-10%
Pháp: tiền phục vụ thường đã được bao gồm trong giá, nhưng có thể cho thêm tiền boa.
Hy Lạp: 10-15%
Tây Ban Nha: mặc dù tiền phục vụ thường đã được bao gồm trong hóa đơn, nên làm tròn số.
Hà Lan: mặc dù tiền phục vụ thường đã được bao gồm trong giá, nên boa thêm 10%.
Canada: 15%
Maroco: 10%
Mexico: 10-15%
Đức: 10-15%
Na Uy: làm tròn hóa đơn
Ba Lan: làm tròn hóa đơn
Bồ Đào Nha: 10-15%
Nam Phi: 10%
Mỹ: ít nhất 15%
Thụy Sỹ: làm tròn hóa đơn
Tunisie: 10-15%
Thổ Nhĩ Kỳ: 10%
Hungary: 10%
Anh: 10-15% (nếu trả tiền trong quán rượu bên quầy thu tiền thì không đưa tiền boa).
Ý: 10-15%

Savoir-vivre trong giao tiếp hàng ngày




Bắt tay

Bắt tay khi chào hỏi là một cử chỉ thường gặp nhất và đã trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta. Tuy nhiên, cái bắt tay có thể biểu lộ nhiều điều. Để biểu lộ sự thân thiện và lòng kính trọng với người đối diện, chúng ta nên đưa cả bàn tay ra bắt với một cái siệt nhẹ có sinh khí, đồng thời nhìn vào mặt đối phương và mỉm cười. Không nên đưa tay hờ hững hay siết tay quá chặt, cầm tay người kia lắc quá mạnh, lúc bắt tay mắt lại nhìn đi chỗ khác, tay kia còn đút túi hay cầm thuốc lá.

Nguyên tắc là khi bắt tay, phụ nữ đưa tay cho nam giới bắt, người già đưa tay cho người trẻ, cấp trên đưa tay cho cấp dưới. Phụ nữ khi bắt tay nam giới không nên đưa tay cao quá. Nếu người phụ nữ đưa tay hơi cao và lòng bàn tay úp xuống, có nghĩa là muốn được hôn tay.

Khi hai cặp nam nữ gặp nhau, hai người phụ nữ bắt tay nhau trước, sau đó hai người phụ nữ bắt tay hai người đàn ông, rồi cuối cùng mới là hai người đàn ông bắt tay nhau. Khi gặp một người quen trong bàn tiệc, chúng ta không nên vươn tay qua bàn để bắt tay mà chỉ cần gật đầu chào là đủ. Nếu thực sự muốn bắt tay thì nên đi vòng qua bàn đến bên người đó để làm việc này.

Khi bắt tay, nam giới phải bỏ găng tay ra. Đối với phụ nữ thì điều này không bắt buộc.

Cúi chào

Cúi chào cũng là một cử chỉ chào hỏi thường gặp ở các nước phương Tây. Động tác cúi chào phải biểu lộ sự ấm áp, tôn trọng, chân thành. Người đàn ông khi cúi chào khẽ nghiêng mình, bỏ mũ, nếu đang hút thuốc thì bỏ thuốc ra khỏi miệng, không đút tay vào túi quần khi cúi chào. Phụ nữ cúi chào bằng cách gật đầu nhẹ kèm một nụ cười và không cần bỏ mũ.

Nam giới cúi chào phụ nữ trước, người trẻ cúi chào người già, cấp dưới cúi chào cấp trên, sinh viên cúi chào giáo sư.

Giới thiệu

Khi giới thiệu hai người chưa quen biết, cần giới thiệu rõ họ tên, nghề nghiệp. Sẽ là rất mất lịch sự nếu khi giới thiệu mà phát âm sai tên. Nếu cần thiết, chúng ta có thể giới thiệu thêm chức danh hoặc học hàm, học vị.

Giới thiệu nam giới với phụ nữ, người trẻ với người già, cấp dưới với cấp trên, giới thiệu khách mới đến với những người đã có mặt. Nếu có một người đi riêng lẻ và một cặp vợ chồng, thì bất kể người đó là nam hay nữ cũng phải giới thiệu người đó với cặp vợ chồng. Nếu là hai cặp vợ chồng, thì giới thiệu cặp trẻ hơn với cặp già hơn.

Người được giới thiệu nếu đang ngồi thì phải đứng lên. Phụ nữ có thể làm động tác này một cách tượng trưng.

Khi giới thiệu nam giới với một người phụ nữ đang ngồi, người phụ nữ không phải đứng dậy, chỉ cần đưa tay ra cho người đàn ông.

Phép lịch sự ngoài đường phố

Khi lên tàu xe, nam giới để phụ nữ lên trước, nam giới theo sau và giúp phụ nữ ngồi vào chỗ. Khi xuống, nam giới đi trước dẫn đường và giúp phụ nữ bước xuống. Nếu tàu xe quá đông, chúng ta không nên câu nệ mà nên tìm cách lên xuống một cách nhanh nhất để tránh làm phiền đến người khác. Trên tàu điện, xe buýt, chúng ta nên nhường chỗ cho người tàn tật, người già, trẻ em và phụ nữ.

Bao giờ cũng phải đợi cho mọi người xuống hết rồi mới đến lượt chúng ta bước lên tàu xe. Không chỉ đối với các phương tiện công cộng, mà ở bất cứ đâu những người đi ra cũng có quyền ưu tiên hơn người đi vào. Ví dụ khi vào cửa hàng hay thang máy, chúng ta phải nhường cho những người đi ra trước.

Khi đi trên vỉa hè, phụ nữ đi phía bên phải của nam giới. Nếu là một nhóm 3 người, thì chỗ ở giữa được coi là chỗ được ưu tiên nhất. Ngoại lệ là khi hai phụ nữ đi cùng một nam giới, thì người nam đi ở giữa để có thể bảo vệ được cho cả hai người. Nếu là nhóm đông thì không dàn hàng bốn, hàng năm mà phải chia ra thành từng nhóm 2-3 người một.

Khi đi taxi, nam giới mở cửa xe cho phụ nữ lên trước, rồi lên sau và ngồi cạnh người phụ nữ ở ghế sau. Lúc xuống xe, nam giới xuống trước mở cửa và giúp phụ nữ bước xuống. Khi ngồi vào xe, người phụ nữ ngồi nghiêng xuống ghế xe trước rồi mới rút hai chân lên xe và xoay người sang trái để ngồi cho thẳng, nếu mặc váy thì dùng tay phải giữ váy. Khi xuống xe, người phụ nữ xoay người sang phải, đưa hai chân ra khỏi xe và đứng lên, dùng tay trái để giữ váy. Lúc này người nam dùng tay phải giữ chắc cửa xe và đưa tay trái ra để giúp người phụ nữ đứng lên.

Nếu đi xe riêng, người lái xe được coi là người chủ, những người trên xe là khách. Người lái xe chịu trách nhiệm về an toàn và sự thoải mái của mọi người. Những người đi trên xe không nên hướng dẫn, chỉ trích hay kêu ca về trình độ lái xe của người lái, không nên hét lên để „báo động”. Trong trường hợp người lái xe là chủ thì chỗ ngồi danh dự nhất trong xe là ghế trước bên phải, cạnh lái xe. Tiếp theo là chỗ bên phải ghế sau, rồi đến chỗ bên trái của ghế sau và cuối cùng là chỗ giữa của ghế sau.

Nhưng trong các cuộc tiếp đón chính thức hoặc khi người chủ không lái xe thì chỗ ngồi danh dự nhất là phía bên phải của ghế sau, thứ hai là phía bên trái của ghế sau, thứ ba là chỗ giữa của ghế sau và cuối cùng là ghế trước bên trái cạnh lái xe.

Savoir-vivre khi thông tin liên lạc




Gọi điện thọai

1. Nếu bạn là người gọi đến, trước tiên hãy tự giới thiệu mình. Nếu là một cuộc điện thọai mang tính chất công việc, nên nói rõ tên công ty của bạn.
2. Nếu bạn là người nghe điện thọai, bạn chỉ cần nói „Alô, tôi nghe đây”. Nếu nghe điện thọai ở nơi làm việc bạn nên nói thêm tên công ty của mình, ví dụ: „Alô, văn phòng ABC xin nghe”. Không nên hỏi „Alô, ai đấy?” khi nghe điện thoại.
3. Nếu gọi điện thoại về công việc, nên chuẩn bị sẵn cho mình thứ gì đó để ghi chép (mẩu giấy, bút chì v.v). Trong khi nói chuyện cố gắng ghi lại thật đầy đủ những thông tin cần thiết.
4. Khi gọi điện, cố gắng phát âm rõ ràng, không nói nhỏ quá hay lớn tiếng quá.
5. Nói bằng giọng vui vẻ, thân thiện.
6. Trong khi nói chuyện điên thoại không nên ăn uống, nói chuyện với người khác, ngắt lời người đối thọai, cao giọng, cãi nhau qua điện thọai, đem lại sự bực bội cho người khác.
7. Nếu gọi nhầm số, hãy xin lỗi một cách lịch sự. Không nên cúp máy chẳng nói chẳng rằng hoặc chỉ nói cụt lủn „Nhầm máy”.
8. Không gọi điện về chuyện công việc vào những ngày nghỉ, weekend ... nếu không phải là việc rất cần thiết.
9. Không nên gọi điện thoại quá sớm hoặc quá muộn. (Ở châu Âu nói chung không nên gọi điện sau 10 giờ tối và trước 6 giờ sáng).
10. Nếu đã hẹn gọi lại vào một giờ cụ thể nào đó thì nhất định phải đúng hẹn.
11. Khi gọi đến, nếu chuông reo quá 5 lần mà bên kia không nhấc máy, bạn nên gác máy.
12. Nếu đang nói chuyện điện thoại mà bỗng nhiên bị ngắt giữa chừng, ai gọi đến thì người đó là người gọi lại lần nữa.
13. Nếu vô tình có mặt khi người khác nói chuyện điện thọai, nên coi như bạn không nghe thấy gì.

Savoir-vivre trên mạng

1. Không gửi các mail quảng cáo đến cho ai đó nếu chưa được người đó đồng ý.
2. Luôn luôn điền phần “subject” mỗi khi gửi mail.
3. Trong mail, không nên có dòng nào chỉ có duy nhất dấu “=” (một số mail systems sẽ gặp khó khăn khi accept các thư này).
4. Khi trả lời một thư, không nên quote cả thư mà chỉ quote những phần bạn muốn trả lời. Trong phần mà bạn quote không nên để lại địa chỉ của người gửi mail cho bạn. Không nên quote cả một bức thư dài nhưng bên dưới chỉ ghi mỗi 1 câu đại loại “Tôi đồng ý” hay “Tôi cũng nghĩ thế” .
5. Chữ ký của bạn không nên dài quá 4 dòng. Những chữ ký dài ban đầu thì rất thú vị, nhưng chúng trở nên nhàm rất nhanh. Cũng nên nhớ là nhiều người sử dụng internet phải trả tiền cho mỗi bite họ nhận.
6. Hãy cẩn thận khi trả lời e-mail riêng cho tác giả, vì nhiều chương trình tự động chuyển email cho diễn đàn chung.
7. Mỗi forum đều có đặc tính riêng. Trước khi post, bạn nên xem kỹ mục lục các vấn đề thảo luận của forum để tránh gửi bài không đúng chỗ, gửi bài thừa v.v.
8. Không nên gửi cùng 1 bài lên nhiều forum khác nhau.
9. Suy nghĩ kỹ trước khi gửi bài. Có đúng đó là điều bạn muốn nói với cả thế giới không? Hãy đọc lại thư một lần trước khi gửi đi. Có đúng đó là điều bạn thực sự muốn viết? Hãy nhớ rằng một bức thư đã gửi đi rồI thì không thể quay lại được nữa.
10. Hãy thông cảm và độ lượng với người khác. Mỗi người đều có lúc bắt đầu làm quen với internet. Nếu bạn muốn góp ý với ai đó thì nên gửi thư riêng cho họ, không nên chỉ trích họ giữa diễn đàn chung.
11. Rất không nên bắt bẻ lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp, lỗi đánh máy, nhất là trên một diễn đàn công cộng.
12. Không nên viết cả bài toàn bằng chữ in hoa.
13. Rất chú ý đến từ ngữ mà bạn sử dụng. Có những từ bạn thấy rất tự nhiên nhưng có thể làm cho người khác hiểu lầm. Hãy nhớ rằng 1 từ có thể có nghĩa khác nhau trong văn viết và trong văn nói.
14. 14. Một số chữ viết tắt thường dùng:

AFAIK – as far as I know
AFAIR – as far as I remember
BTW – by the way
EOD – End of discussion
FYI – for your information
GOK – God only knows
HHOK – haha, only kidding
J/K – just kidding
IMHO – in my humble opinion
IMO – in my opinion
OTOH – on the other hand
TIA – thanks in advance