Showing posts with label Gỗ mun. Show all posts
Showing posts with label Gỗ mun. Show all posts

Saturday, 19 November 2011

Sự kéo dài vĩnh cửu


Nguyễn Chí Hoan

Ryszard Kapuściński viết ở đây (Gỗ mun, Nguyễn Thái Linh dịch, Nhã Nam & NXB Thế giới, 2011) rằng châu Phi không có lịch sử theo cách hiểu châu Âu về một lịch sử thành văn, khách quan và có tính khoa học, mà từ thế hệ này sang thế hệ khác người Phi kể cho nhau nghe và “từng thế hệ, khi nghe phiên bản được truyền cho mình, lại thay đổi và tiếp tục thay đổi nó, làm biến dạng, sửa sang, tô màu cho nó”, để rồi cuối cùng, “lịch sử đạt đến hình thức trong suốt, tinh khiết nhất của mình: hình thức của huyền thoại” (tr.458). Dường như trong cuốn sách tái hiện cuộc khám phá trải gần bốn mươi năm liên đới với Phi châu này của ông, Kapuściński đồng thời làm sống lại trong văn chương của mình phong cách huyền thoại đặc thù đó.

Gỗ mun là một chuỗi hai mươi chín câu chuyện kể một cách uyển chuyển tạo nên một hình dung về lịch sử hiện đại của châu Phi, cái lịch sử mà Kapuściński nắm bắt một cách vô song ở đây qua những lát cắt thực tại tạo thành một bức tranh ghép, và giữa các mảnh ghép là những khoảng trống lung linh sâu xa viền quanh - như thể cái thực tại được trần thuật ấy ta nhìn qua cái nắng dữ dội của miền Nam Sahara, cái nắng khiến “[m]ọi thứ trở nên lỏng, mọi hình ảnh đều rung rinh và nhạt nhòa” (tr.70) - mà đồng thời cũng là những truyện kể giản dị, chân thực và mật thiết về một số những diện mạo khác nhau của một thực tại lạ lùng: “Khởi đầu: Cú va chạm, Ghana 1958”, “Đường đến Kumasi”, “Cấu trúc thị tộc”, “Tôi, một Người Da trắng”, “Trái tim rắn hổ mang”, “Bên trong tảng núi băng”, “Bác sĩ Doyle”, “Zanzibar”, “Giải phẫu một cuộc đảo chính”, “Hẻm phố của tôi, 1967”, “Salim”, “Lalibela, 1975”, “Amin”, “Cuộc phục kích”, “Sẽ có ngày hội”, “Thuyết trình về Rwanda”, “Những viên pha lê đen của màn đêm”, “Những người ấy, họ đâu rồi”, “Cái giếng”, “Một ngày ở làng Abdallah Wallo”, “Trở dậy trong bóng tối”, “Địa ngục đang nguội”, “Dòng sông lững lờ”, “Mađam Diuf đi về nhà”, “Muối và vàng”, “Xem kìa, Đức Chúa ngự trên mây bay”, “Cái hố ở Onitsha”, “Những cảnh tượng Eritrea”, “Trong bóng cây, ở châu Phi”.

Đó là cái thực tại, khá lâu sau cú “Khởi đầu…” của Kapuściński và hầu như chắc chắn có phần đóng góp của ông với tư cách một phóng viên quốc tế, cái thực tại đã trở nên đặc thù và phổ biến trên đại dương truyền thông của thế giới hiện đại trong một thuật ngữ gọi là Châu Phi vùng Nam (Sa mạc) Sahara.

Trong hai mươi chín lát cắt kể trên, mà một vài nhà bình luận thấy chúng như là các truyện ngắn, ta được đưa đi từ bờ Tây sang bờ Đông, đặc biệt là Vùng Sừng châu Phi, xuống miền Nam châu lục một chút đến Rwanda - không có các quốc gia vùng Bắc Phi và Nam Phi - khiến ta nghĩ những giới hạn địa lý đó ngầm chứa một gợi ý của tác giả; thêm nữa, không có một mô tả nào trong hàng loạt mô tả hết sức ấn tượng của những trình thuật sắc bén này mà lại khiến người đọc chú mục đến màu da của các nhân vật người bản địa, và ta sẽ có cảm giác Kapuściński chỉ đôi chỗ buộc phải dùng đến cụm từ “Người Da Đen” hay “da đen” như một loại thuật ngữ đã thuộc về quá khứ, gây khó chịu bởi tính phiến diện sáo mòn và phản cảm, không tương xứng với con người, không nói lên gì ngoài một thái độ gây thương tổn.

Bởi vậy các trình thuật này gieo ấn tượng như một lịch sử được viết lại, uốn nắn lại, theo kiểu một sách trong Cựu Ước, từ trải nghiệm của một chứng nhân, tin cậy vào các lời kể, bao gồm cả những ghi chép khái quát như “Thuyết trình về Rwanda”, hay những câu chuyện với tầm nhìn sử thi như trong “Địa ngục đang nguội” kể về nước Liberia kỳ quặc lập nên bởi những cựu nô lệ gốc Phi được hồi hương sau cuộc giải phóng nô lệ ở Mỹ, hay trong “Những cảnh tượng Eritrea” kể về cuộc kháng chiến giành độc lập của xứ sở này mà rất ít người biết đến, cuộc chiến tranh ba mươi năm - dài nhất trong lịch sử châu lục (tr.442)…

Các trình thuật này có đủ những hình ảnh đặc trưng : sa mạc, lạc đà, ốc đảo, rừng mưa xích đạo khổng lồ, những cây bao báp, bình nguyên Serengeti như Vườn Địa đàng mặt đất, từ bờ sông Nile đến châu thổ sông Niger và Hồ Chad, Bờ Biển Ngà và bọn buôn kim cương quốc tế… tuy nhiên hoàn toàn không tỏ ra ý hướng vươn đến hết địa lý châu lục, mà luôn luôn dán mắt vào cuộc sống của “những người bản địa”.

Đó dường như là cái ngụ ý bao trùm của tác giả mà ông đã hé lộ ngay trong đoạn phàm lệ đầu sách hết sức ngắn gọn, toát lên một niềm suy tư hết sức khiêm nhường: “Đây không phải là cuốn sách về châu Phi, mà về một số người ở đó, về những cuộc gặp gỡ với họ, những khoảng thời gian bên nhau. Châu lục này quá lớn để có thể miêu tả nó. Đó là … một hành tinh riêng… Chúng ta gọi “châu Phi” chỉ là để cho tiện, một cách vô cùng giản lược. Trên thực tế, ngoài cái tên địa lý, châu Phi không tồn tại”.

Làm sao có thể nói về một cái “không tồn tại” to lớn đến như vậy? Nhưng thật rõ đó là một ẩn dụ của Kapuściński - điều đã khiến cả những người ca ngợi và những người chỉ trích các tác phẩm của ông đều nói ông viết văn chương hư cấu hơn là phóng sự.

Tuy nhiên, Kapuściński đã từng gọi tác phẩm của mình là những “phóng sự mang tính văn học”, và nhấn mạnh nếu không tìm những cách thức khác để quan sát, tri nhận và mô tả thì người ta sẽ chẳng hiểu được chút gì về thế giới.

Cái “cách thức khác” ấy ông thể hiện một phần trong những câu chuyện này: cách kể gợi ý với người đọc rằng họ đang nghe một tiếng vọng từ những truyện kể đặc thù của người Phi.

Một thí dụ, trong tiết đoạn “Cái giếng”, Kapuściński lưu ý cách kể của nhân vật người Somalia có tên Hamed: “Hamed nói với tôi rằng thi ca của họ thường kể về các bi kịch và sự diệt vong của các thị tộc không kịp dến được giếng nước khi đi qua sa mạc. Một chuyến đi bi thảm như thế thường kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Cừu và dê chết trước tiên. … “Sau đó là trẻ con” - anh nói, không thêm gì cả. Không kể các ông bố bà mẹ phản ứng ra sao, các đám tang như thế nào. “Sau đó là trẻ con” - anh nhắc lại rồi im lặng. … “Rồi phụ nữ chết” - lát sau anh tiếp tục. …” (tr.301).

Dường như việc Hamed không kể về các “phản ứng” hay “đám tang” đã tạo một thay đổi làm nên đặc tính của văn mạch hoặc có một ý nghĩa biểu tượng - trình thuật đó bỗng trở nên một câu chuyện khái quát vượt khỏi thời tính thông thường, hầu như mất đi sắc thái cụ thể đơn lẻ; hoặc chính điều đó đã khiến cho biến cố và chuỗi sự kiện của câu chuyện trở nên rõ rệt hơn trong tính bi thảm của chúng: cuối cùng thì điều đáng sợ nhất đối với một người Somalia sẽ tới, Kapuściński kể, khi mà chỉ còn lạc đà và đàn ông sống sót, tới giới hạn ba tuần, nếu họ còn lại một mình trên mặt đất - “Hamed thốt lên và trong giọng nói của anh có âm sắc hoảng sợ, bởi đó chính là điều mà một người Somalia không thể hình dung nổi: còn lại một mình trên thế giới” (tr.302).

Tình tiết này là một trong những điểm bộc lộ rõ nhất điều dường như là ý hướng nền tảng của tác giả trong các trình thuật này của ông: sau mọi thứ, ông muốn khám phá con người - không phải trong vai một nhà thám hiểm (với đầu óc “thực dân”, như một ai đó chỉ trích nặng nề), cũng không trong vai nhà dân tộc nhân chủng hay khảo cổ học.

Sự khám phá đó của Kapuściński nhằm đến điều, đã dẫn ở trên, là có một lịch sử đích thực của những xứ sở này nằm trong lời kể của các cư dân, do đó nằm trong tâm hồn và trong cách thức họ sống hơn là trong những gì người ta khái luận về họ.

Ở tiết đoạn thứ nhất, “Khởi đầu: Cú va chạm, Ghana 1958”, ông dựng lại chân dung một người Phi hiện đại thời giữa thế kỷ XX, Kofi Baako, Bộ trưởng Giáo dục và Thông tin của Cộng hòa Ghana mới giành độc lập. Tính đến khoảng cách thời gian bốn mươi năm, ta hẳn nên kinh ngạc với ấn tượng còn giữ nguyên vẻ hoàn toàn tươi mới một niềm hy vọng rất trẻ, rất lý tưởng của thời kỳ phi-thực-dân-hoá các xứ thuộc địa toát ra từ các mô tả của Kapuściński về anh chàng Bộ trưởng này, cũng như những hình ảnh phấn khích của đám đông quần chúng và cảnh tượng sinh hoạt náo nhiệt đặc thù trên đường phố thủ đô Accra nơi tất cả dường như đều vừa hồi sinh bởi cảm thức sống trong một đất nước độc lập tự do.

Câu chuyện mở đầu cuốn sách này cũng là câu chuyện duy nhất mà ngôn từ lấp lánh nỗi hy vọng mỗi khi chạm đến hình ảnh “người bản xứ” (tr.10).

Ở tất cả các tiết đoạn sau, nỗi hy vọng đó dần nhường chỗ cho niềm băn khoăn bất tận.

Ngay trong tiết đoạn thứ hai, “Đường đến Kumasi”, câu hỏi mở ra với hình ảnh những người Phi trong “trạng thái chờ đợi bất động”, “Thân hình mềm lả, rũ xuống, co vào. Cổ bất động, đầu không động đậy. Con người không nhìn quanh, không quan sát, không tò mò. … Thường là mắt mở, nhưng không có ánh nhìn, không một tia sáng của sự sống. … Họ không ăn, không uống, không đi tiểu. Họ không phản ứng với ánh nắng ác ôn đang thiêu đốt, với đám ruồi phàm ăn hung tợn đang bâu lên môi, lên mi mắt họ” (tr.28-29).

Vậy mỗi lúc phải đợi chờ “họ” lại thoát ra bên ngoài của hiện hữu chăng?

Kapuściński trong cuốn sách này không phải một người viết du ký; ông chọn lọc từ các ký ức suốt mấy thập niên của ông để kể về cái thực tại lạ lùng này; bởi vậy những chi tiết trong truyện đều là những chi tiết đã được nghiền ngẫm sàng lọc. Và sự quan sát con người ở đây khiến liên tưởng đến quan sát của danh họa Paul Gauguin về những “người bản xứ” ở Tahiti.

Trong “Hẻm phố của tôi,1967” Kapuściński kể từ nơi ông trú ngụ ở Lagos, thủ đô Nigeria, trong một căn hộ thuê: “nằm trong trung tâm thành phố, trên đảo Lagos. Hòn đảo này trước kia là điểm tập kết của những kẻ buôn bán nô lệ và gốc gác nhục nhã đen tối ấy đã để lại trong bầu không khí thành phố một cái gì đó bất an, hung bạo. … Thực ra tôi có thể chọn Ikoyi - khu vực an toàn và sang trọng … nhưng đó là một nơi quá nhân tạo, khép kín … Mà tôi thì muốn sống … trên một đường phố châu Phi, trong một căn nhà châu Phi. Nếu không, làm sao tôi có thể hiểu được thành phố này? Châu lục này?” (tr.160-161).

Cuộc khám phá của Kapuściński là một hành trình từ bề mặt vào bề sâu và không có tiên kiến, nhưng lại không phải một lối tò mò với xứ lạ, có lẽ bởi thế những trình thuật này mang lại cho ta nỗi ngẫm nghĩ ngạc nhiên sâu sắc về miền đất cái nôi của nhân loại: một hành trình quanh co một cách bí ẩn từ bờ Vịnh Guinea sang bờ Hồng Hải, cho đến lúc dừng lại nghỉ dưới bóng một cây xoài trên đất Ethiopia.

Thực ra có rất ít những mốc lịch đại cụ thể được ghi vào các lộ trình ở đây, mặc dù nhìn chung đó là thời kỳ từ cuối thập niên 1950 đến giữa thập niên 1990 với khá nhiều sự kiện đảo chính quân sự và nội chiến được ghi nhận; dẫu sao thì vẫn không phải một chuỗi phóng sự báo chí hoặc một công trình sử học điền dã.

Vậy cái gì đặc trưng cho các trình thuật này? - Có một gợi ý : “Đến gần Gondar (… thành đô này của vua chúa Ethiopia …) tôi gặp một người đi bộ từ Bắc xuống Nam. Đó chính là điều quan trọng nhất có thể nói về anh ta: đi từ Bắc xuống Nam. À, còn có thể nói thêm rằng anh ta đi như thế để tìm anh trai mình”. Và cái người đi bộ đó không có gì ngoài cây gậy lữ hành, bộ quần áo rách mất dạng, một mẩu vải làm khăn và “một cái tách bằng gỗ có nắp đậy đeo qua vai”; không có tiền; ai cho gì ăn nấy, không thì nhịn mà đi; cũng không biết anh trai ở đâu, chỉ biết là anh ấy đã đi về phía Nam; và “[c]ả đời anh luôn luôn đói, cái đói chẳng có gì là bất bình thường.” Vậy “[t]ại sao anh lại muốn đi tìm anh trai? Tại sao ư? Anh không hiểu câu hỏi. Lý do là hiển nhiên, lý do ở trong chính nó, không cần giải thích. … Anh cười nụ cười của một người biết nhiều, người dù sao cũng biết một điều, rằng đối với anh, ở châu Phi này không có biên giới và các quốc gia: chỉ có một mảnh đất nóng bỏng, nơi em đi tìm anh” (tr.333-335).

Câu chuyện nhỏ ấy, trong tiết đoạn “Trở dậy trong bóng tối”, còn là cái gì đó hơn cả một ẩn dụ - nó ngang bằng với một huyền thoại.

“Cư dân châu Phi là một mạng lưới khổng lồ rối rắm chồng chéo phủ lên khắp lục địa, liên tục di chuyển, ai cũng là dân nhập cư bởi họ đều lang thang từ nơi này sang nơi khác” (tr.32).

Kapuściński khám phá cái mạng lưới huyền thoại khổng lồ đó, hiển nhiên trong chính nó, chứa đựng lịch sử bí ẩn mà ông thấy là vượt khỏi khái niệm về thời gian, là một “sự kéo dài vĩnh cửu” (tr.459), hay chính là cái mẫu gốc của huyền thoại về Người.

nguồn: http://nhanam.vn/Desktop.aspx/Nguoi-doc-sach/Nguoi-doc-sach/Su_keo_dai_vinh_cuu_exclusive/

Tuesday, 18 October 2011

Bất khả tự vệ nơi vô tận hoang vu



Moses Isegawa (*)

Thái Linh dịch


Ryszard Kapuściński giống như con mèo chín mạng trong ngạn ngữ. Chúng ta có thể xem mình là những người may mắn, bởi Kapuściński đã miêu tả câu chuyện đời ông trong "Gỗ mun", một cuốn sách phi thường – sâu sắc, uyên áo, đầy ắp những sự kiện lịch sử, những cuộc phiêu lưu, đầy hóm hỉnh và những "Kapuściński luận" điển hình, khiến cho ngay cả một đầu óc không lấy gì làm thông minh cũng học được những điều cơ bản của lịch sử châu Phi theo cách của Kapuściński.

Kapuściński không phải là nhà du hành đầu tiên chứng kiến nhiều cuộc đảo chính, cách mạng và chiến tranh, khi tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng rất ít người có khả năng kể về điều đó một cách sâu sắc, đẹp và đầy cảm thông đến thế. Châu Phi may mắn vì đã mở cánh cửa cho con người này, vừa hành hạ ông bằng bệnh sốt rét và lao phổi, nhưng đồng thời cũng vừa trao cho ông vô số bí mật của mình. Châu Âu cũng may mắn vì đã dễ dàng đến được với kho báu của ngòi bút Kapuściński, bởi ông thấm vào vào tâm hồn người đọc như một vị phù thủy. Trong số rất nhiều cuốn sách xuất bản năm nay, không mấy cuốn có thể sánh được với viên ngọc trai này, cuốn sách vượt ra ngoài giới hạn về thể loại của mình.

Những gì Kapuściński sáng tác càng đáng khâm phục bội phần khi chúng ta ý thức được rằng mọi nhà văn khi đã gần thất thập đều giống như một con thú cô đơn, một con trâu lìa bầy, sợ hãi tương lai, bị bóng ma của tử thần đang đến gần vây bủa, bị hành hạ vì những nuối tiếc một thời vàng son đã qua. Sách của các nhà văn như thế thường thiếu sức sống, chúng u ám và èo uột như bờ miệng của một ông già bất đắc chí tẻ ngắt. Vậy mà Kapuściński viết như thể còn cả cuộc đời phía trước – smiling all the way to the bank. Ông thực sự tin rằng mình có thể thay đổi thế giới, rằng ông có thể "mê hoặc" mọi người, rằng ông có khả năng trao cho họ chiếc chìa khóa để mở ra các châu lục mà cho đến giờ với họ vẫn là bất khả thâm nhập.

Có thể so sánh ông với Ngugi wa Thiong'o về tâm huyết và lòng nhiệt thành mang tính sứ mạng, nhưng văn phong của ông nên thơ và vững chãi như văn phong Ben Orki. Giọng ông vang lên bên tai ta thật thân quen, ngay cả khi ta chưa từng đọc bất cứ tác phẩm nào của ông trước đó, và chúng ta tự hỏi: "Mình đã biết điều này từ đâu nhỉ?" Có thể gió đã mang lời ông đến cho ta, bởi ông không ưa trình bày các sự kiện khô khan, cũng không phải là một do thám viên đi tìm kiếm những nơi đáng cho bạn đọc đến nghỉ hè. Ông là vị phù thủy biết biến vài sự kiện được lựa chọn kỹ lưỡng thành vàng ròng lấp lánh. Các sự kiện chỉ là thứ phân bón để ông vun trồng sự thông hiểu cho hành tinh muôn mảnh vỡ của chúng ta, hành tinh với hàng nghìn lớp chồng chất khác nhau, nơi với đa số mọi người thực tại kết thúc nơi bậc cửa nhà họ.

Tất cả các tác phẩm lớn đều tạo ta ngôn ngữ riêng của mình thông qua việc đặt vấn đề trong một ánh sáng mới. Desmond Morris đã làm như thế trong cuốn sách tiên phong "Con khỉ trần trụi". Jared Diamond thực hiện điều đó trong "Guns, Germs and Steel". Kapuściński cũng làm thế ở đây. Ông biết rằng với nhiều người lịch sử là rành mạch, được sắp xếp trật tự và cứng nhắc, rằng nó bị giam cầm chung thân trong các cuốn sách của thư viện công cộng. Ở đó có thể lướt qua nó chút xíu, có thể phân tích các cuộc chiến tranh, tìm nguyên nhân, diễn biến, hậu quả và một cái gì đó kiểu "rồi họ sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long".

Trong châu Phi của Kapuściński, lịch sử như một thiên thạch từ trên trời rơi xuống giữa thanh thiên bạch nhật, đột nhiên chế ngự người ta như căn bệnh sốt rét – một cơn ác mộng vô thủy vô chung. Cho dù nguyên nhân chiến tranh nằm ở chế độ nô lệ (như trường hợp cuộc chiến tại Sudan hay xung đột tại Liberia), ở các căng thẳng sắc tộc (như tại Nigeria hay Rwanda), hay ở chủ nghĩa thực dân hoặc chủ nghĩa thực dân mới (như tại nhiều vùng khác của châu Phi), thì chúng đều vươn ra tứ phía như những vòi bạch tuộc, không ngừng thay đổi hình dạng, màu sắc và bộ da, để rốt cuộc các warlord lợi dụng tình hình và đưa toàn bộ vấn đề phức tạp trở thành cuộc chiến vì bát cơm.

Ai có vũ khí, kẻ đó nhận được thức ăn trước tiên, và hắn quyết định ai được xếp hàng tiếp theo, ai bị rớt khỏi hàng. Warlord – con rối của lịch sử – có một lượng dự trữ khá lớn thanh niên và trẻ em bản xứ, những người có thể làm tất cả mọi chuyện vì một nắm thức ăn. Sự dư thừa thanh thiếu niên và nền công nghệ cho phép ngay cả trẻ con cũng có thể sử dụng súng máy đã gây ra nhiều cuộc cách mạng. Trong cái thế giới nơi các sự kiện không được ghi lại, không có nhật ký, nơi tất cả những gì phai nhòa trong ký ức cũng biến mất khỏi thực tại, con bạch tuộc của lịch sử trở thành tất cả và không gì cả, cho đến khi nó rơi vào quên lãng hoặc bị nghiền nát bởi một xung đột mới hay nối tiếp xung đột cũ.

Châu Phi của Kapuściński là trò chơi của các thế lực tự nhiên. Ở đó thiên nhiên ngự trị một cách tàn bạo, dã man và điên cuồng. Mặt trời không mọc, chỉ như mũi tên bắn lên trời, nơi từ đó nó hành hạ những con người chân đất khốn cùng bị giam cầm trong không gian mênh mông. Mưa là cơn hồng thủy quét sạch nhà cửa mùa màng. Những trận hạn hán thiêu cháy tất cả chỉ chừa ra con người và nước.

Kapuściński đã đến các làng quê không có vườn tược, những ngôi làng không có lấy một con chim hay súc vật nào, không một ngọn cỏ nhành hoa, nơi con người chỉ sống để tìm thức ăn và nước uống. Ông đã đến những nơi cái cây làm nên thánh đường, còn các con đường là một nhà mồ vĩ đại. Con người bơ vơ bất khả tự vệ trong những không gian hoang dã vô tận, trong hoang vu khôn cùng, bị bệnh sốt rét, cái nóng và cái đói hành hạ. Đối mặt với sự thiếu thốn nền tảng xã hội cơ bản, một người châu Phi của Kapuściński gắn bó với những người ruột thịt, với tổ tiên, các thần linh và Đấng Tối cao chỉ bằng sợi dây tinh thần.

Trong cuộc sống của Kapuściński, Người Khác, Người Lạ đóng một vai trò quan trọng. Kapuściński truy dấu con đường quanh co mà những kẻ buôn nô lệ đã đi qua. Chúng đã thử cướp đi nhân tính của Người Khác, để nô dịch họ, giết chóc, hủy diệt mà không để mình bị suy suyển tài sản hay sự bình an về tinh thần. Người Khác thường bị ấn định theo sắc tộc, như vậy dễ dàng hơn, bởi không phải viện đến quả cầu thủy tinh để có thể chỉ ra hắn, đổ lên đầu hắn những điều bịa đặt tồi tệ, để hủy diệt và bóc lột. Đôi khi Người Khác mang cùng màu da, nhưng điều đó không có nghĩa anh ta sẽ bị tiêu diệt với ít hằn học hơn.

Từ khái niệm Người Khác nảy sinh một loại chủ nghĩa apartheid đã giam cầm người da trắng trong những khu xa hoa của các thành phố, và người da đen trong bùn, đầm lầy hay những khu nhà lụp xụp khô cằn, thiếu khí. Kapuściński - thường xuyên là người da trắng duy nhất trong một ngôi làng châu Phi, trong các khu ổ chuột hay trong đoàn xe hộ tống trên sa mạc - đấu tranh chống lại việc biến Người Khác thành quỷ dữ. Ông phản đối chủ nghĩa apartheid có mặt ở khắp nơi, ở Dar es Salam hay nơi nào khác. Ông thuê phòng trong khu ổ chuột Nigeria, chữa bệnh ở trạm xá dành cho các cư dân da đen ở Tazania, xếp hàng cạnh phụ nữ và trẻ con để lấy nước.

Ông không quan tâm đến chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi. Ông quan tâm đến chủ nghĩa apartheid ở Liberia, đã có sớm hơn từ trước và đưa Người Khác đến chỗ phi lý. Các nô lệ được giải phóng, khi còn ở Mỹ từng là những Người Khác, ở Liberia đã đảo ngược vai trò: chúng tước quyền công dân của chín mươi chín phần trăm dân chúng, giam họ trong các getto, giết họ trong các cuộc chinh phạt cướp bóc và đến tận sau năm 1920 còn bán họ làm nô lệ. Người ta bị cách ly như trong các tàu du hành vũ trụ. Một trăm mười một năm sau diễn ra cái kết đẫm máu bi thảm của chính thể chuyên chế những nô lệ được giải phóng, nhưng sau đó thiên đường cũng chưa bắt đầu. Một Người Khác mới lại được tạo ra. Kapuściński chỉ ra rằng mỗi người đều có thể trở thành Người Khác, rằng chúng ta sẽ không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn chủ nghĩa apartheid, và rằng cái xấu xuất phát từ chính bên trong – đó là số phận của con khỉ trần trụi.

Sau nhiều năm Kapuściński đi đến kết luận rằng không có châu lục nào phức tạp như châu Phi, nơi việc đổi cái thước loga thành quả cầu thủy tinh và ngược lại diễn ra còn nhanh hơn là một ngôi sao kịp mờ. Dưới những điều thường nhật ẩn giấu các bí mật và cần thận trọng khi đưa ra những kết luận vội vã. Từ ngữ giống như con kỳ đà: "độc lập" mang hàng nghìn bộ mặt khác nhau đối với hàng nghìn người. Và mỗi người đều có lý: có thể nói châu Phi đang hỗn loạn và có thể dễ dàng chỉ ra điều đó. Cũng có thể nói ở châu Phi đang thanh bình – một số vùng thanh bình đến mức mọi người đã quên mất chúng.

Đó là một thế giới bất khả thâm nhập, nơi quân đội bốn trăm nghìn lính được vũ trang bằng mọi vũ khí đạn dược tối tân của Nga bị trao vào tay đám quân du kích chân đất dốt nát, nơi anh công nhân bướng bỉnh người Uganda có thể một mình gây ra cuộc cách mạng kết liễu nền chuyên chế kéo dài nhiều thế kỷ ở Zanzibar.

Không thể tóm tắt châu Phi trong một từ. Nó tồn tại và chỉ tồn tại trong hằng hà sa số các biến thể, mang các gương mặt, hình dạng và tập quán khác nhau. Có thể gọi nó như vậy như một đơn vị địa lý, tựa cách gọi Chúa của người Do Thái và người Cơ đốc, nhưng cũng như Chúa, không cách gì chạm được vào nó. Nó tan ra, thay đổi như con bạch tuộc, khi mà mỗi nhóm người hay vùng đất lớn một chút đều có nền văn hóa khác biệt, đều có thể đem tới điều gì đó lạ thường. Mười nghìn vương quốc, liên bang và lãnh thổ của các bộ lạc bị sát nhập tại hội nghị Berlin tai tiếng (1878) vẫn luôn được nhận diện trong tấm chắp vá của năm mươi quốc gia châu Phi bị phân chia. Ai không chấp nhận điều này mà cứ cố khái quát hóa và suy nghĩ bằng các khuôn mẫu, định kiến, kẻ đó sẽ trắng tay.

Hãy cảnh giác, hỡi các chuyên gia về châu Phi! - cây bút bậc thầy nói. Để có thể thấu được điều gì đó ở đây, cần có một cái kính viễn vọng. Đây là nơi chốn của những người kiên nhẫn, minh triết, làm việc có hệ thống. Ai kiếm tìm những lời giải đáp dễ dãi tốt hơn nên ở lại châu Âu, nơi mọi thứ đều đã được ghi lại. Ở châu Phi nghèo đến mức rác rưởi – những thứ ở nhà hẳn bị vứt ngay không đắn đo – cũng có thể quý hơn vàng. Cái áo, cái bát, cái can đôi khi là cả gia tài. Ở đó, nơi sợi lông gà trống có thể là tấm hộ chiếu để tới thiên đường, bản chất của sự vật luôn bị giấu kín.

Người nào không có sự nhạy cảm đối với kiểu tâm lý này, tốt hơn nên gói gém các tấm bằng của mình và quay về London mù sương. Châu Phi là nơi có sức tưởng tượng tột bậc, nơi cả thành phố được dựng nên không một chiếc đinh, không một viên gạch hay một tấm sắt, nơi người ta biến đi như ma, nơi trên đường ray xe lửa đột nhiên xuất hiện các chủ quầy hàng, nơi cái hố trên đường mời gọi các khả năng đầu tư đưa một xóm nhỏ yên tĩnh vào quỹ đạo của sự phát triển nhanh chóng, nơi các thầy tu như những bác sĩ phẫu thuật tiến hành cuộc cấy ghép nỗi cắn rứt lương tâm của châu Âu vào các giáo dân đang đong đưa hát, nơi các thánh đường được tạc từ đá núi nằm sâu dưới mặt đất, và nơi có những xứ sở ngầm dưới đất.

Mấy mươi năm trước, Kapuściński đã lâm bệnh. Ông cầu xin để không bị trả về Ba Lan. Ông muốn chữa bệnh lao phổi ở Tanzania, trong trạm xá dành cho người da đen. Nhờ bệnh tật, ông đã có thể chiến thắng sự phân biệt chủng tộc. Ông đã không còn là một người da trắng hùng mạnh, một con quỷ từ những cơn ác mộng vẫn ám ảnh người dân da đen, mà là một con vượn người yếu đuối ho ra máu và nháy đựng lên khi bị mũi tiêm đâm vào mông.

Ông đã khám phá tác dụng kỳ diệu của nụ cười, vẻ đẹp của những ngôi làng mọc lên lộn xộn, khám phá những chiếc xe tải kéo, những khu trại cho người cùng khổ. Nhờ thế, từ rất gần, ông làm quen với nỗi sợ hãi mà người châu Phi mang trong mình, có thể thâm nhập sâu vào tâm hồn họ. Ông phẫn nộ với nền độc tài quần chúng, đám ăn cướp, lái buôn nô lệ, hải tặc, những kẻ đầu tiên đặt mối liên hệ với châu Phi. Những kẻ như Stanley, với sự man rợ của chúng, cai trị bằng cướp bóc và dối trá, khiến ông khinh bỉ.

Việc loại người này đã hình thành bức tranh của châu Âu về các dân tộc và nền văn hóa khác khiến ông tràn đầy ghê sợ. Ông gắng sức nhìn kỹ hơn, thấy được nhiều hơn, khám phá điều quần chúng kia không thấy được. Ông khẳng định sự bất khả trong việc miêu tả bằng các ngôn ngữ châu Âu những gì nằm ngoài châu Âu. Vì lẽ đó, ông thấy ghê tởm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và những chứng loạn thần kinh đưa tất cả mọi thứ về màu da.

Ông đã mở cho chúng ta cánh cửa vào cuộc đời, những chuyến du hành và thi ca của ông. Hãy để cho các nhà văn châu Phi và châu Âu phải run rẩy, bởi chỉ một cuốn sách kiệt xuất nào khác mới có thể vượt qua được tác phẩm này về tầm cao. Hỡi các nhà văn, xin đừng trách là tôi đã không báo trước!

(Bài đăng trên NRC Handelsblad, số ra ngày 13.7.2001, bản dịch từ tiếng Hà Lan sang tiếng Ba Lan của Zofia Klimaszewska)

-----
* nhà văn Hà Lan gốc Uganda, có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng.


.