Showing posts with label dịch. Show all posts
Showing posts with label dịch. Show all posts

Sunday, 7 August 2016

Hài kịch (Wisława Szymborska)


Thái Linh dịch


Tình yêu của chúng mình sẽ qua đi trước tiên,
một trăm năm, hai trăm năm trôi qua nữa,
rồi ta sẽ lại chung đôi:

Cô đào và anh kép hài
mà công chúng yêu thích,
sẽ vào vai chúng ta trong vở kịch.

Một vở hài kịch xinh xinh
với dăm ba vần điệu,
chút múa may, và thật lắm tiếng cười,
lột tả sát sao bao tình huống cuộc đời.
Và những tràng vỗ tay.

Anh sẽ nực cười thay
trên sân khấu, với nỗi ghen tuông ấy
và cái cà vạt kia.

Cái đầu em sẽ quay đi,
trái tim em và vương miện,
tim ngu ngốc nát tan rên xiết
còn vương miện thì đang rơi.

Ta sẽ hẹn hò nhau người ơi,
sẽ chia ly, để khán phòng cười cợt,
mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng vượt,
mình sẽ đinh ninh như thế với nhau.

Và dường như cay đắng khổ đau
đối với chúng ta còn quá ít -
mình lao vào nhau qua nẻo ngôn từ.

Rồi ta cúi chào lịch sự
kết thúc vở kịch vui.
Khán giả về nhà đi ngủ
sau khi chảy nước mắt vì cười.

Họ sẽ sống thật tuyệt vời,
họ sẽ dạy thuần tình ái,
dưới tay họ cọp beo cũng ngoan ngoãn vâng lời.

Còn chúng ta muôn kiếp cứ thế thôi,
đầu đội mũ gắn chuông lục lạc,
mình sẽ lắng nghe tiếng chuông lúc lắc
một cách dã man.

***
Nguyên tác:

                    Buffo
      Najpierw minie nasza miłość,
      potem sto i dwieście lat,
      potem znów będziemy razem:
      komediantka i komediant,

      ulubieńcy publiczności,
      odegrają nas w teatrze.

      Mała farsa z kupletami,
      trochę słońca, dużo śmiechu,
      trafny rys obyczajowy
      I oklaski.

      Będziesz śmieszny nieodparcie
      na tej scenie, z tą zazdrością,
      w tym krawacie.

      Moja głowa zawrócona,
      moje serce i korona,
      głupie serce pękające
      i korona spadająca.

      Będziemy się spotykali,
      rozstawali, śmiech na sali,
      siedem rzek, siedem gór
      między sobą obmyślali.

      I jakby nam było mało
      Rzeczywistych klęsk i cierpień
      - dobijemy się słowami.

      A potem się pokłonimy
      i to będzie farsy kres.
      Spektatorzy pójdą spać
      ubawiwszy się do łez.

      Oni będą ślicznie żyli,
      oni miłość obłaskawią,
      tygrys będzie jadł z ich ręki.

      A my wiecznie jacyś tacy,
      a my w czapkach z dzwoneczkami,
      w ich dzwonienie barbarzyńsko
      zasłuchani.

Wednesday, 27 July 2016

Hoa sen (Rabindranath Tagore)



(Thái Linh dịch tặng Phan Thị Hà Dương)


Ngày ấy khi hoa sen nở, chao ôi, lòng tôi còn đang lơ đãng
mà tôi chẳng hay. Lẵng của tôi trống không và hoa kia tôi chưa màng.

Chỉ giờ đây, một lần nữa khi nỗi sầu vây bủa, tôi sực tỉnh giấc mộng riêng mang,
nghe mùi hương lạ mong manh trong gió phương Nam nhẹ thoảng.

Hương dịu ngọt mơ màng khiến tim tôi nhói lên niềm khát khao,
dường như hơi thở mùa Hạ nồng nàn đang mong tìm viên mãn.

Tôi đâu ngờ hoa sen đã ở thật gần, hoa sen là của tôi,
Hoa ngọt ngào tuyệt diệu chính từ sâu thẳm tim tôi bừng nở.


http://www.poemhunter.com/poem/lotus/

Monday, 11 April 2016

Kỷ nguyên của dối trá (chúng ta bị thao túng như thế nào)



Phỏng vấn nhà xã hội học nổi tiếng, giáo sư Zygmunt Bauman do Jacek Żakowski - phóng viên tạp chí Polityka thực hiện tháng 12.2004.
Trích từ tập Hành trang cần thiết của người trí thức”. Thái Linh dịch.
Jacek Żakowski: - Ông không thể tưởng tượng được tôi đã vui mừng thế nào khi ông nói về „niềm đam mê lột trần những dối trá bao che trách nhiệm về những bất hạnh của con người...” trong cuộc trò chuyện với Keith Tester. Nhưng Tester đã không khai triển mạch này. Và tôi vẫn không biết những dối trá ấy là gì. Giờ ta hãy thử vạch trần chúng một cách triệt để.
Zygmunt Bauman: - Triệt để? Anh định triệt để vạch trần và đưa đám sự dối trá?
Tôi rất muốn ông ít nhất cũng hạ gục vài sự dối trá lớn.
Thế thì anh đã ở thế yếu rồi. Cuộc chiến với dối trá là bất khả chiến thắng. Dối trá tự bản chất là vĩnh cửu và có ở khắp nơi. Georges Duhamel đã rất thông thái khi nói rằng: „Giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ”.
Ông cũng cho rằng như vậy?
Điều này có thể dễ dàng chứng minh một cách lô gích. Cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng. Thế nhưng các câu trả lời dối trá thì có cả đống.
Vậy vì sao „niềm đam mê lột trần dối trá” lại dẫn lối cho một trong những nhà xã hội học đương đại vĩ đại nhất?
Hẳn là anh muốn nói đến những dối trá chính trị?
Nếu như chúng thường bao che „bất hạnh của con người” nhất.
Điều này không mấy thú vị. Dối trá chính trị sớm muộn gì cũng trở nên rõ ràng đối với tất cả mọi người. Chẳng ai ngạc nhiên khi nghe thấy rằng Blair nói dối về vũ khí khủng khiếp của Hunsein, hoặc rằng Đức đã nói dối về cuộc tấn công của Ba Lan vào đài phát thanh ở Gliwice. Ở đây chẳng cần đến triết học lẫn xã hội học. Những thứ ấy chỉ làm tôi mất thời gian. Tôi quan tâm đến những lò xo ẩn quyết định số phận của những con người bình thường – như anh và tôi.
Ông tin là có „những lò xo ẩn của số phận”?
Có những quá trình vĩ đại mà chúng ta tiếp nhận như những đòn đánh hay bản án của số phận, mặc dù về bản chất chúng là hậu quả hành động có ý thức ít hay nhiều của ai đó. Có những sự kiện có vẻ như bất ngờ hay bất khả kháng, nhưng lại xuât phát từ chuỗi quyết định của con người, từ hệ thống các mối liên kết mà chúng ta có thể có ảnh hưởng nếu biết tự ý thức.
Những âm mưu lớn nào đó?
Những tham vọng thầm kín thì đúng hơn, chúng vẫn luôn hiên hữu nhưng ngày nay chúng đặc biệt phức tạp và khó tránh khỏi bởi có tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau hiển nhiên của các vận mệnh toàn cầu. Chuyện một tia sét từ trời quang đánh trúng đầu người công nhân đang làm việc trong nhà máy ở Leeds hay ở Warszawa có thể là hậu quả của điều gì đó xảy ra ở Singapore hay New York. Người công nhân chẳng biết gì về điều ấy và cũng chẳng có chút ảnh hưởng nào đối với nó. Hơn nữa – thậm chí Gordon Brown (bộ trưởng tài chính Anh), tổng thống Pháp, thủ tướng Đức hay thủ tướng Ba Lan cũng chẳng có ảnh hưởng gì.
Điều này chưa có gì chung lắm với sự dối trá.
Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu khiến nguyên nhân của vị thế chúng ta thoát khỏi các quan sát của con người. Điều này mở ra một không gian chưa từng thấy trong lịch sử cho những sự dối trá và thao túng vĩ đại. Trước kia không có ngần ấy chỗ cho dối trá, bởi vì các mối nguy hiểm và cách bảo vệ trước chúng được hình thành trong mối liên hệ hiển nhiên. Nếu có bệnh dịch thì cần phải đóng cửa không cho người lạ vào. Nếu có lũ lụt thì phải leo lên ngọn đồi khô ráo. Ngày nay chúng ta không hiểu được mối liên hệ giữa các hiểm nguy và hành động của chúng ta. Ta được biết về chúng từ những người thông thái viết trên báo chí. Ô nhiễm không khí, hành tinh nóng lên, lỗ thủng tầng ô zôn, nguồn gốc của tình hình kinh tế, nguyên nhân khủng bố, lý do thất nghiệp – đó không phải là những hiện tượng có thể nắm bắt được bằng các giác quan tự nhiên. Các chuyên gia nói cho chúng ta nghe về chúng. Nếu các chuyên gia không nói, chúng ta không biết mình đang đứng trước nguy hiểm. Hơn thế nữa – vì chúng ta phải dựa vào ý kiến của các chuyên gia để đánh giá tình hình và một người bình thường không có cách gì kiểm soát họ, người ta có thể nói dối chúng ta thoải mái. Các chuyên gia có thể nói với chúng ta rằng khí nhà kính không có hại, rằng thuyết đơn phương tốt hơn việc xây dựng cộng đồng quốc tế, rằng đó là con đường đúng đắn duy nhất đưa đến phát triển, rằng sô cô la hay rượu kéo dài tuổi thọ hoặc ngược lại.
Và theo ông là không có cách gì xác minh điều đó.
Không có! Thực tế ai cũng có thể ngang nhiên nói dối chúng ta. Trước kia ai cũng rõ là các chính trị gia nói dối, bởi thế người ta tìm sự thật ở các chuyên gia, những người có thẩm quyền, các trí thức, những nhà thông thái. Ngày nay các chuyên gia, trí thức, những nhà thông thái nói dối cũng ngang nhiên và nhẹ nhàng như các chính trị gia mỗi lúc một nhiều hơn. Bởi vậy khi chúng ta nghe thấy theo các nghiên cứu gần nhất một thứ men nào đấy có trong thức ăn kéo dài hoặc rút ngắn tuổi thọ, thì mọi người lập tức hỏi ngay: „Ai tài trợ cho nghiên cứu này?”. Ngày càng phổ biến ý kiến cho rằng nếu nghiên cứu được tập đoàn sản xuất thuốc lá đặt hàng thì kết quả sẽ là thuốc lá tốt cho sức khỏe. Chắc hẳn chẳng còn luận điểm nào vô lý đến mức không thể đánh đổ nó bằng kết quả các nghiên cứu tiến hành trong các trung tâm được công nhận.
Nhưng có thể đánh đổ nó bằng các nghiên cứu khác.
Chính thế! Có thể đánh đổ hoặc chứng minh luận điểm đúng đắn nhất hay ngu ngốc nhất dễ dàng như nhau! Và chúng ta được gì? Khi tra từ khóa „sự dối trá” ở Google tiếng Ba Lan, tôi tìm thấy trong vòng hai phần mười giây hơn 10400 tài liệu. Con người có thể làm gì với điều này? Còn với từ khóa „sự an toàn” gần đây tôi nhận được địa chỉ tới 17 triệu tài liệu. Tôi có nhờ vậy mà thông thái hơn không? Paul Virilio viết về „quả bom thông tin” mà theo ông còn nguy hiểm đối với sự tồn tại của loài người hơn cả bom nguyên tử, bởi nó ngăn cản việc hiểu được những gì đang xảy ra.
Và việc đưa ra những quyết định hợp lý.
Việc phán đoán đã trở nên bất khả rồi, nói gì đến quyết định hợp lý!
Do đó ngày nay sự dối trá căn bản đầu tiên là luận điểm rằng chúng ta có thể phân biệt dối trá và sự thật?
Chúng ta không biết phân biệt và ngày càng không biết. Đó là siêu dối trá của tư duy duy lý đương đại, vô sở bất tại và đang ngày một hùng mạnh. Chúng ta biết phân biệt dối trá và sự thật ư?
Nhưng đó chưa phải là một trong những điều dối trá vĩ đại đương thời „bao che trách nhiệm về bất hạnh của con người.”
Đó là điều dối trá mở ra khả năng gói ghém giả dối tránh nhiệm vào bất cứ cái hộp nào.
Ví dụ?
Ví dụ sự an toàn.
Nghĩa là?
Ở đây có lẽ tôi đã tháo dỡ ra được điều gì đó, nhưng tôi đề nghị kiên nhẫn một chút. Anh có nhớ lý thuyết của Bahtin nói rằng bản chất của quyền lực là dựa trên nỗi sợ không? Trước hết là nỗi sợ vũ trụ mà hầu như mỗi người đều cảm thấy từ thủa lọt lòng. Mỗi khi nghĩ đến vũ trụ, nhìn những cơn sóng lớn, những vực sâu, những ngọn núi ngất trời, chúng ta cảm thấy sự nhỏ bé, mong manh, bất lực của mình. Đó là nỗi sợ tự nhiên mà từ đó tôn giáo, văn hóa, triết học lấy được sức mạnh. Nỗi sợ thứ hai là nỗi sợ chính quyền. Sức mạnh của quyền lực chính trị dựa vào đó. Nỗi sợ chính quyền có thể được tạo ra. Để đạt đến sức mạnh của nỗi sợ vũ trụ, quyền lực chính trị phải được cắt đo theo cỡ quyền lực của Thượng đế. Nó phải có quyền năng rộng khắp, vô sở bất tại và bất khả thấu. Đó phải là quyền lực tầm cỡ của cả Kinh Thánh và Sách Job gộp lại. Bởi Job rốt cuộc đã cảm nhận được, điều đó có nghĩa là Thượng đế không chỉ tạo ra, mà còn thay đổi luật lệ theo ý mình, vì vậy không có sự tuân phục luật lệ Thượng đế nào bảo đảm an toàn cho chúng ta trên trần thế. Leszek Kołakowski đã đào sâu vấn đề này thật tuyệt vời. Và trước đó Carl Schmidt đã viết: „quyền lực thực sự tự chủ phụ thuộc vào sức mạnh thực hiện các ngoại lệ”. Sư phụ trong lãnh vực này là Stalin, người đã khủng bố được toàn thể xã hội, tới mức thậm chí những người phục tùng nhất cũng không chắc chắn được về ngày mai, bởi vậy họ biết ơn hắn chỉ bởi hắn không tống họ vào nhóm những kẻ nổi loạn. „Stalin yêu dấu chăm lo cho người lương thiện – Người đã không đày tôi đi Siberia”.
Nhưng cái đó liên quan như thế nào đến thế giới ngày nay?
Vâng, mỗi chính quyền, bao gồm cả chính quyền ngày nay, để thực hiện vai trò của mình, cần tính chính danh gieo rắc trên nỗi sợ. Đó không thể là nỗi sợ vũ trụ như trong thời ai Cập cổ đại – bởi chính quyền của chúng ta là thế tục. Nhất thiết cần có nỗi sợ chính quyền. Chính quyền đứng trước công dân phải có thể nói với anh ta: „Chính chúng tôi bảo vệ anh trước các hiểm nguy đang rình rập. Chỉ có việc tuân phục các luật lệ do chính quyền đặt ra cho cộng đồng chúng ta mới khiến anh được an toàn!” Nhưng chính quyền ấy ngày nay phải bảo vệ chúng ta trước điều gì? Trước kia các hiểm nguy của thế giới rất hiện thực. Các hiểm nguy là thiên tai, súc vật, kẻ lạ. Chính quyền phải bảo vệ nhân dân trước những điều này. Sau đó là các chu trình kinh thế, khủng hoảng, thất nghiệp. Từ thời Bismarck nhà nước nhận phần bảo vệ trước những hiểm nguy khác nữa, sau thế chiến II nó mang hình thức nhà nước xã hội đảm bảo cho mọi người điều kiện sống tối thiểu và bảo hiểm cho cá nhân trong các trường hợp bất hạnh – ốm đau, thất nghiệp, tàn tật, nghèo đói và tuổi già. Các nhà nước của thế kỷ hai mươi theo một nghĩa chính trị nào đó là các hợp đồng bảo hiểm. Mô hình này đang kết thúc. Nhà nước đương đại đã không còn biết bảo hiểm cho các công dân của mình trước các bất hạnh cá nhân. Không có cả nguồn lực lẫn ý muốn làm điều đó. Nó đẩy trách nhiệm này cho các lực thị trường và sự khôn ngoan của cá nhân. Ai không xoay xở được sẽ trở thành „người bỏ đi”. Thế giới đương đại là thế giới của „bản kiểm kê thiếu”. Thứ gì không sử dụng được hoặc đã bị chán sẽ bị vứt bỏ. Trước tiên những thứ bị vất vào sọt rác mỗi lúc một nhiều hơn. Giờ đây cả con người, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các châu lục cũng bị vứt vào sọt rác. Châu Phi trở thành „rác thải của toàn cầu hóa”. Khi ngọn gió chính trị hay kinh tế thay đổi, gần như mỗi người chúng ta đều có thể ngày một ngày hai trở thành rác. Và càng lúc càng khó tin được việc ai đó bảo vệ chúng ta trước điều đó. Nhất là nhà nước. Rủi ro cuộc sống đã bị tư nhân hóa và cá thể hóa.
Nhưng sự dối trá nằm ở đâu?
Tôi đang tiến đến nó, nhưng ở đây bắt đầu có các bậc thang. Bởi chính quyền, để có tính chính danh, để biện minh cho đòi hỏi phục tùng, phải là lá chắn duy nhất trước các nguy hiểm đe dọa công dân và là người dẫn đường đến thế giới an toàn. Chính quyền đương đại, vẫn mang tính địa phương như thời xưa, nhưng hoạt động trong thế giới toàn cầu hóa, đã không thể và không muốn bảo vệ chúng ta trước những đỏng đảnh của thị trường, trước số phận bất hạnh, trước rủi ro bệnh tật. Có sự cám dỗ - và do đó tồn tại khả năng - chuyển chức năng bảo vệ trước nỗi sợ mà nhân danh nó chính quyền đòi hỏi chúng ta phục tùng từ phạm vi này sang phạm vi khác.
Sang phạm vi nào?
Ở đây tôi có chút khó khăn về ngôn ngữ. Để chỉ việc không có các nguy cơ trong tiếng Ba Lan chỉ có một từ - an toàn. Tiếng Anh có hai từ: security và safety. Security liên quan đến các mối liên hệ xã hội – thứ ở Ba Lan gọi là an toàn xã hội – như thu nhập ổn định, thoát nghèo, có nhà ở, hy vọng vào tuổi già yên ổn. Còn safety liên quan chủ yếu đến sự bảo toàn cơ thể – sự chắc chắn là tôi không bị ai đầu độc bằng thức ăn hay nước uống, không bị ai trộm hay cướp, không bị ai bắn, không bị ai bắt cóc mất con, không bị đặt bom... Chính quyền đương đại ngày càng hướng sự chú ý của nhân dân theo hướng này nhiều hơn. Không thể hứa hẹn cho nhân dân security và một xã hội nơi họ có thể cảm thấy secure, chính quyền càng ngày càng nói nhiều hơn về các hiểm họa safety. Họ muốn lấy được lòng biết ơn của chúng ta, khi không có bom nổ, khi ta không bị bọn côn đồ đánh, hay khi ăn mày bị quét sạch khỏi đường phố. Báo động vàng. Báo động da cam. Báo động đỏ. Phù, thành công rồi, cuộc tấn công đã bị vô hiệu hóa! Càng ít security, càng nhiều hưng phấn và ồn ào quanh safety. Có thể bằng cách này làm nhân dân nhầm lẫn, mất cảnh giác, hướng sự chú ý của chúng ta khỏi những bê bối và bất lực của chính quyền.
Điều này có thể được khẳng định trong các so sánh quốc tế. Cuộc chiến với khủng bố nóng bỏng nhất ở những nơi nhà nước ít quan tâm nhất đến phạm vi security hoặc từ bỏ chúng một cách đột ngột nhất – Mỹ, Anh, Ba Lan. Những nước không có gì đặc biệt xảy ra với security thì cuộc chiến này có vẻ nhẹ nhàng hơn.
Nhưng điều này không chỉ liên quan đến cuộc chiến với khủng bố. Trong các phạm vi khác của safety mức độ căng thẳng cũng phân bố tương tự. Càng ít security, thì cuộc chiến với khói thuốc lá, với việc vượt tốc độ trên đường bộ, với bạo hành gia đình và các thể loại côn đồ... càng ồn ào. Ở Mỹ ám ảnh chống thuốc lá bắt đầu cùng với chủ nghĩa tân tự do và lớn lên cùng nó. Ở Đức chính quyền bắt đầu nói về việc lái xe vượt tốc độ trên đường cao tốc khi nhà nước xã hội bắt đầu bị cắt giảm. Chắc không phải ngẫu nhiên mà ở châu Âu luật cấm hoàn toàn việc hút thuốc lá trong nhà do chính Ireland đưa ra,nước có chỉ số cạnh tranh cao nhất – nghĩa là, nói cách khác, ít safety nhất, các rủi ro cuộc sống rõ ràng nhất và nhà nước ít mang tính phúc lợi nhất.
Ông có cảm giác là bằng cách đó, chính quyền đánh lạc hướng sự chú ý của người dân khỏi những cuộc cải cách đau đớn?
Tôi không biết chứng minh điều này. Nhưng tôi nhìn thấy sự đồng thời rất rõ ràng. Và tôi cũng thấy những người bị tước mất security dễ dàng đồng ý với các hạn chế được biện minh bằng nhu cầu bảo vệ safety cho họ hơn. Tôi đã quan sát phản ứng của hàng nghìn người lang thang ở sân bay London khi các chuyến bay đi Mỹ bị hoãn vì có báo động khủng bố. Không có ai chửi bới, mọi người ngoan ngoãn chờ đợi. Họ nói về cái chính quyền đã hoãn các chuyến bay với sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn. Người ta mất kỳ nghỉ hay công chuyện ở Mỹ cũng chẳng sao. Mọi người đều hạnh phúc vì chính quyền đã lo lắng cho họ. „Nếu chúng ta ngồi cùng máy bay với bọn khủng bố thì sẽ ra sao? Nghĩ đến cũng đã thấy sợ rồi!”. Thực kiện là chẳng có tên khủng bố nào bị bắt và không có dấu vết đáng tin nào được đưa ra về việc ai đó có thể bị nguy hiểm không khiến cho lòng biết ơn của công dân giảm xuống.
Nhưng sự dối trá ở đâu?
Tôi không biết có sự dối trá không. Nhưng tôi biết là có một không gian mới cho dối trá và lừa mị (manipulation) dân chúng. Tôi không biết bọn khủng bố có thực sự có kế hoạch gì không. Nhưng tôi biết rằng nếu chính quyền tự nghĩ ra báo động đó, như Stalin luôn liên tiếp nghĩ ra những âm mưu gây tranh cãi, thì chính quyền sẽ có được lòng biết ơn của mọi người mà gần như không tốn chút hơi sức nào. Không thể kiểm tra được điều này trên thực tế. Rủi ro ở đây khác với các hiểm nguy khác, bởi nó không nhìn thấy được, khó đo đếm và không được xác minh.
Có thể dễ dàng khẳng định có vụ nổ nào không hay những người về hưu có được tăng lương hưu hay không. Nhưng rất khó đánh giá có rủi ro thực tế về việc bom nổ hay không. Chắc luôn có rủi ro nào đó.
Xét từ số báo động giả và từ nhưng dối trá chính trị bị đưa ra ánh sáng, có thể giả định là ở đây chúng ta có vấn đề.
Nhưng có lẽ ông cũng tin là có khủng bố chứ?
Tôi tin là có và tôi tin chính quyền chiến đấu với khủng bố, nhưng tôi cảm thấy họ lạm dụng - có thể là một cách có ý thức – nỗi sợ mà khủng bố gây ra để xóa đi các khía cạnh ít vẻ vang hơn trong hoạt động của họ. Những cái xe tăng bao vây sân bay London có phải là để chiến đấu với khủng bố? Hay nhiều hơn là để tăng cảm giác bị đe dọa và cảm giác biết ơn của công dân đối với chính quyền đang bảo vệ họ và nhờ nó mà họ giữ được mạng sống? Anh có tưởng tượng được việc dùng xe tăng để tìm một phụ nữ mang chất nổ trong người và sẽ làm nổ máy bay không? Trong cuộc chiến với không tặc xe tăng ít hiệu quả, nhưng chúng gây ấn tượng mạnh với những người đang sợ hãi. „Họ lo lắng cho chúng ta, chăm sóc chúng ta, bảo vệ chúng ta, chúng ta mang ơn họ về mạng sống”.
Ông cho rằng chính phủ và các cơ quan an ninh ở Mỹ, Anh, Ba Lan hay Ý đã có những âm mưu để biến chúng ta thành bầy người sợ hãi, mất phương hướng, dễ bị lừa mị và mất tự chủ?
Tôi nói về sự bất khả thấu nguyên nhân của các mối đe dọa safety, về sự khó khăn ngày càng lớn trong việc điều tra sự thật, về phạm vi ngày một rộng hơn của việc sử dụng sự dối trá. Trong gương mặt khủng hoảng tính chính danh của chính quyền xuất phát từ những quá trình toàn cầu hóa, phải chăng nhà nước có khuynh hướng tạo ra cảm giác bị đe dọa trong phạm vi nó cảm thấy hơi chắc chắn hơn và có thể cho thấy nó làm được nhiều hơn?
Nếu nó có (khuynh hướng ấy) thì sao?
Đây là câu hỏi căn bản cho nhà xã hội học. Thế giới thay đổi ra sao khi mọi người không còn hy vọng vào security và chỉ chú ý tới safety? Họ sẽ sống ra sao, nếu sự chú ý của họ chỉ tập trung vào việc mua sắm lên đời các hệ thống báo động, cửa sắt, khóa, áo chống đạn, mặt nạ khí và có trời mới biết được gì nữa... Hiển nhiên là dẫu có cả đám hỗn độn ấy thì nguồn gốc của những bất an và căng thẳng vẫn còn nguyên không được động chạm đến. Ngược lại, một cơ chế tự thúc mình được khởi động – càng nhiều sợ hãi, mớ hỗn độn quanh các hệ thống báo động, cửa, khóa càng lớn. Mớ hỗn độn càng lớn, nỗi sợ hãi càng mạnh. Nỗi sợ không được xoa dịu sẽ tìm nguồn và sẽ cần đến mỗi lúc một nhiều hơn các đối tượng khác nơi nó có thể giải tỏa. Ở đây hiệu quả phụ nguy hiểm sẽ là những căng thẳng giữa các sắc dân hay giữa các nền văn hóa. Trong xã hội đa sắc tộc của phương Tây ngày nay điều này có nghĩa là sự xói mòn lòng tin và thống nhất xã hội. Ở đây đã không còn là chuyện đùa nữa. Chúng ta đi đến tâm điểm của bản sắc xã hội, của nền dân chủ và cấu trúc chính trị chính là dựa vào lòng tin và sự thống nhất xã hội. Và kết quả cuối cùng là người ta làm quá ít để chuẩn bị cho chúng ta bước vào cuộc sống trên hành tinh toàn cầu hóa và chung sống an toàn.
Đây là điều ông nghĩ đến khi nói về việc „lột trần những dối trá bao che trách nhiệm về bất hạnh của con người”?
Đây chỉ là một trong số các ví dụ.
Thế các ví dụ khác?
Anh hãy lấy ví dụ cách tính tổng sản phẩm nội địa, tức là GDP. GDP luôn luôn tăng, nhưng sao người ta có vẻ không cảm thấy cuộc sống tốt hơn nhiều? Vì sao?
Vì sự tăng trưởng nhắm vào vài phần trăm những người tự cường nhất vốn vẫn là những người giàu nhất?
Đó là một nguyên nhân. Nhưng bản thân tăng trưởng GDP thực chất là một siêu dối trá toàn cầu, nếu người ta xem nó là thước đo cho sự phồn vinh của con người. Bởi vì GDP ghi nhận lượng tiền qua tay trong phạm vi một nền kinh tế nào đó. Nhưng nó không xem xét tới một khu vực rộng lớn của kinh tế đạo đức, kinh tế gia đình, láng giềng, môi trường. Khi ngồi một mình trong nhà ăn hay quán bar và nuốt đồ ăn nhanh, thì tôi chẳng thấy dễ chịu gì cho lắm, nhưng tôi thực hiện một nghĩa vụ xã hội nào đó, bởi hóa đơn tôi sẽ trả được tính vào thành phần của GDP và làm cho chỉ số tăng trưởng kinh tế lớn hơn. Nhưng khi vợ tôi nấu cho tôi bữa trưa và chúng tôi ăn cùng con cái, thì điều đó có thể sẽ dễ chịu, lành mạnh hơn đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ cư xử phi xã hội và phi kinh tế, vì GDP không ghi nhận điều đó. Khi gia đình tan rã và cả nhà đều chui ra quán hay các bar ăn nhanh, chắc hẳn hạnh phúc và cả nhân tính của chúng tôi cũng bớt đi, nhưng GDP lại tăng. Khi ông hàng xóm giúp tôi cắt cỏ, còn tôi giúp ông ấy sửa giàn hoa, cả hai chúng tôi đều được hưởng lợi gấp đôi – vì công việc được hoàn tất và nhân thể, chúng tôi cảm thấy dễ chịu hơn trong khu vực của mình. Nhưng GDP sẽ thiệt hại vì điều này, vì mỗi người chúng tôi đều có thể thuê thợ và hóa đơn sẽ được thống kê, đánh thuế. Tương tự, khi tuổi cao sức yếu, tôi sẽ dễ chịu nếu được con gái chăm sóc, hơn là phải đến cái trại nào đó chờ chết. Nhưng sự chăm sóc lấy tiền được GDP ưu ái hơn, còn sự chăm sóc từ trái tim theo góc nhìn thống kê kinh tế là công việc vô giá trị.
Đồng ý, có thể dễ dàng tưởng tượng mô hình phát triển kinh tế dựa trên phát triển dịch vụ, nơi người ta làm việc và thu nhập mỗi lúc một nhiều hơn khi cung cấp dịch vụ lẫn nhau, nhưng đồng thời tất cả mọi người đều tốn tiền và mất chất lượng sống, bởi một mặt họ chi tiêu mỗi lúc một nhiều hơn, nhưng mặt khác lại bị mất đi những niềm vui giản dị, những mối liên hệ tình cảm tích cực với người khác thay cho những liên hệ kinh tế lạnh lùng. Nhưng đó có phải là dối trá không?
Đó là sự dối trá nguy hiểm. Thực chất người ta đo cái điều biểu hiện sự xói mòn xã hội và tan rã gia đình, nhưng chúng ta trưng ra như là thành công kinh tế hay thành công về văn minh! Điều có thật và đau đớn, được cảm nhận rộng rãi là mất mát, lại được kinh tế thị trường trình bày như lợi ích. Người ta gói ghém nỗi bất hạnh của sự tan rã các mối liên kết giữa người với người hay những phiền phức thông thường trong sự dối trá dựa trên trao đổi thương mại của tăng trưởng kinh tế. Ai cũng muốn làm việc cách nhà 500m, đi bộ đi làm, về nhà ăn trưa, sau giờ làm chăm vườn cùng lũ trẻ và cùng nấu bữa tối. Nhưng từ góc nhìn GDP thì sẽ tốt hơn nếu anh làm việc cách nhà 50 km. Khi đó anh tốn khối tiền và thời gian để đi làm. Tất nhiên anh sẽ ăn quán. Anh đặt pizza cho bữa tối, trẻ con do cô giúp việc trông, vườn thuê thợ làm vườn. Thêm vào đó, anh sẵn lòng làm thêm ngoài giờ hay một công việc thứ hai, vì lúc nào anh cũng thiếu tiền cho mọi thứ. Có thể trên danh nghĩa anh giàu hơn rất nhiều, nhưng thực tế lại nghèo và bất hạnh hơn. Chính phủ khoác lác bằng tăng trưởng GDP, nhưng không nói tăng trưởng GDP làm tăng chất lượng cuộc sống ở mức độ nào, và hủy hoại chất lượng cuộc sống ở mức độ nào. Khi mọi nhu cầu và khao khát của chúng ta - từ ăn uống đến tình dục - đều được thị trường thỏa mãn và khi toàn bộ cuộc sống chúng ta được quy về việc thu chi tiền, chúng ta trở thành những sinh vật bất hạnh nhất, cô đơn nhất và vô nghĩa lý nhất trên trái đất. Tất nhiên chúng ta có thể thương mại hóa toàn bộ phạm vi cuộc sống vốn dựa vào các mối quan hệ đạo đức, vào cộng đồng, sự tự lập, nhưng cuộc sống khi đó trông sẽ ra sao?
Ông tự nghĩ ra điều đó, hay ông đọc ở đâu?
Khó có thể đọc được điều này ở đâu. Ban đầu tôi cảm thấy nó. Sau đó tôi đã tìm tòi rất lâu. Phê phán truyền thống đối với chủ nghĩa tư bản tua-bin (turbocapitalism) dựa vào việc vạch trần sự leo thang những thèm khát bị thúc đẩy bởi các chiêu tiếp thị ngày càng tinh vi và các quảng cáo ngày càng quyền lực. Sự dối trá này đã được biết đến từ lâu. Kinh tế đương đại ngày càng dựa nhiều hơn vào việc nghĩ ra một sản phẩm mới (hoặc bề ngoài là mới), sau đó nhờ vào tuyên truyền mạnh mẽ để đánh thức những ham muốn mới, nhồi vào đầu mọi người ý nghĩ là thiếu những sản phẩm ấy họ sẽ không hạnh phúc. Truyền thông sống bằng quảng cáo không thể không tham gia vào siêu dối trá của nền văn minh tiêu dùng. Sự dối trá này từ vài chục năm nay đã đẩy chúng ta vào nỗi bất hạnh mỗi lúc một lớn hơn của những ham muốn không được thỏa mãn, được khơi dậy một cách giả tạo. Nhưng sự dối trá tồi tệ nhất của nền kinh tế dựa trên quảng cáo là việc toàn bộ viễn cảnh về cuộc sống và ý nghĩa tồn tại trong sự tuyên truyền này bị giới hạn vào thứ dầu gội đầu mới, thứ bột làm thạch hay cái xe mới.
Sự dối trá này không chỉ „bao che sự bất hạnh”, mà đơn giản là tạo ra nó.
Nó tạo ra đồng thời bao che. Nguồn cơn của bất hạnh là sự leo thang ham muốn vượt quá khả năng thỏa mãn chúng. Nền kinh tế dựa vào tiêu dùng sẽ sụp đổ theo cách khác. Vỏ bọc do quảng cáo tạo ra nằm ở ảo giác rằng có thể thỏa mãn ham muốn. Song sự thật là trong xã hội tiêu dùng cơ hội để thỏa mãn chúng rất thấp. Người ta đổ nhiều tiền bạc và công sức nhất vào việc đánh thức ham muốn, chứ không phải vào việc thỏa mãn chúng. Để thỏa mãn những ham muốn bịa đặt bị khơi dậy một cách giả tạo chúng ta làm việc cật lực, hành hạ người thân, hủy hoại những phạm vi sống phi thị trường (không có ý nghĩa kinh tế) của chúng ta. Cuộc đuổi bắt này không bao giờ chấm dứt. Không có vạch đích trên đường đua tiêu dùng. Khi anh làm việc cật lực và rốt cuộc bỏ ra được đủ tiền mua nhà hay xe hơi, những thứ sẽ phải mang lại hạnh phúc cho gia đình anh, ngay sau đó anh sẽ nhận được quảng cáo xe hơi từ chính hãng ấy, cái xe sẽ mang lại nhiều hạnh phúc hơn nữa, hoặc quảng cáo nhà nơi sẽ có nhiều tình yêu và hơi ấm gia đình hơn. „Hãy mua đi, rồi bạn sẽ hạnh phúc”. Những sự dối trá vĩ đại của xã hội tiêu dùng nằm ở chỗ những lời hứa mang đến kết quả mong muốn phải bị vi phạm hàng ngày. Trong hệ thống tiêu dùng chúng ta như Syzyf hay đúng hơn như con lừa đuổi theo củ cà rốt ở đầu gậy, hoặc như con chuột trong vòng quay. Anh vừa mới mua xong một thứ đồ phải mang lại hạnh phúc cho anh và gia đình thì đã được biết không phải là nó, rằng nguồn gốc của hạnh phúc là thứ gì đó khác kia. Trong bóng đổ của những niềm hi vọng tót vời che lấp mọi thứ, mỗi lúc một mới hơn, đống đồ vừa mới bóc tem mà ta sẽ bỏ đi lớn dần lên, bởi thực sự chúng chẳng cho ta hạnh phúc hoặc không so sánh được với những sản phẩm tiềm năng khác chưa được dùng thử.
Vậy con người nên học được khá nhanh rằng đồ vật không mang lại hạnh phúc.
Cái khó ở đây là lý trí của chúng ta – sau khi bị đặt dưới sự tẩy não vĩ đại và có hệ thống bằng quảng cáo – từ lâu đã không còn lành mạnh nữa. Theo nguyên tắc của Goebbels sự dối trá của chủ nghĩa tiêu dùng, được lặp lại hàng triệu hay hàng tỉ lần, đã trở thành sự thật được công nhận rộng rãi. Tiêu dùng hậu hiện đại là thói quen xấu tuyệt đối gây nghiện. Nó lây nhiễm y như nghiện ma túy hay nghiện tình dục. Nhìn thấy một quảng cáo mới, người ta rơi vào trạng thái hưng phấn không lành mạnh mà người ta không biết làm chủ. Người ta cảm thấy bất ngờ hưng phấn khi kịp sở hữu thứ gì đó. Nhưng ngay sau khi mua người ta trải nghiệm sự thất vọng và sự tuột hứng đau đớn chỉ có thể bị đẩy lùi bằng cách thỏa mãn những liều ham muốn tiếp theo. Cũng như đa số thói quen xấu, liều cần thiết để chiến thắng nỗi thất vọng không ngừng tăng lên. Vậy là chúng ta ngày càng rơi vào bất hạnh và sự cầm tù của ham muốn được gói ghém trong hình dung sai lầm về hạnh phúc. Sự dối trá này thống trị những ước mơ của con người và qua giấc mơ con người áp đảo thế giới.
Nhưng bằng cách nào, thưa giáo sư, sự dối trá bắt đầu thống trị, còn sự thật thì người ta lại không nghe?
Ở đây tôi sẽ viện đến Aristotles, người đã viết rằng việc điều tra sự thật diễn ra ở chợ (agora), nghĩa là ở phạm vi công cộng. Ở đó mối liên hệ giữa cái mà ông gọi là oikos (nghĩa là việc riêng) và ecclesia (việc chung) được thiết lập. Ở chợ, từ hàng thế kỷ, các nhu cầu cá nhân bị chuyển thành các lợi ích xã hội, còn các quyền lợi tập thể bị chuyển thành ngôn ngữ của các quyền và nghĩa vụ cá nhân. Bằng cách đó, sự thật được điều tra một cách diễn ngôn, người ta xác định điều xã hội chấp nhận là sự miêu tả đúng thực tại. Bây giờ không còn cái chợ như thế nữa. Trong cái chợ ngày nay người ta chủ yếu kể về những trải nghiệm cá nhân của mình. „Tôi đã làm được điều đó”. „Họ đã không làm được điều đó.” „Cái này dễ thương.” „Cái ấy đáng tiếc”. Diễn ngôn khép lại trong tầm chân trời cá nhân. Nó xoay quanh những gì con người có thể tự nhìn thấy hay trải nghiệm. Những gì chúng ta có thể sờ, nếm, ngửi. Các kinh nghiệm tập thể thiếu cái „nền vật chất” hay cơ chế xã hội cho phép chúng kết tinh và mở đường đến sự thật chung, khách quan, bên trên cá nhân.
Nhưng vì sao lại thế, thưa giáo sư?
Ai đó đã nói rất đúng rằng người tiêu dùng là kẻ thù của công dân. Công dân quan tâm đến sự thật có giá trị xã hội vượt lên trên cá thể, bởi anh ta tìm kiếm sự viên mãn trong cộng đồng mà anh ta thuộc về, hay cộng đồng mà anh ta muốn lập ra. Người tiêu dùng chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn các ham muốn cá nhân của mình. Anh ta không nghĩ đến sự thật hay dối trá. Anh ta chỉ sử dụng khía cạnh hữu dụng, dễ chịu, vui vẻ. Trong thế giới của những người tiêu dùng mối giao tiếp giữa ecclesie và oikos bị cắt đứt. Các nhân vật của công chúng thậm chí bảo đảm với chúng ta rằng công bằng là khái niệm rỗng được các nhà tư tưởng bịa ra, rằng chỉ có quyền lợi cá nhân là hiện thực và rằng – ngay cả nếu thuật ngữ „xã hội công bằng” có nghĩa gì đó - thì chính là sự khuyến khích các quyền lợi cá nhân. Nhưng nếu chỉ tồn tại các quyền lợi thì chúng ta phải tìm sự thật như thế nào? Thứ luật chung nào là khả dĩ trong thế giới người tiêu dùng? Tôi không nói đến lời giải đáp triết học. Tôi là nhà xã hội học và với tư cách một nhà xã hội học, tôi cảm thấy bất an vì sự biến mất rõ rệt của các cơ chế xã hội truy tầm sự thật.
Có nghĩa là kỷ nguyên dối trá đang chờ đợi chúng ta?
Điều này phụ thuộc vào mọi người, mà mọi người, đáng tiếc, lại thờ ơ với sự thật.
Ở Ba Lan người ta không tranh cãi về chuyện gì khác cả. Ai nói dối? Ai nói dối hơn? Ai lừa đảo? Sự thật và dối trá là chủ đề số 1.
Nhưng sự thật nào? Những sự dối trá nào? Ngày nay chúng ta đưa đạo dức chính trị vào đạo đức cá nhân của các chính trị gia. Clinton là một ví dụ tốt. Khi ông phá bỏ hệ thống an sinh xã hội được Roosevelt thành lập và Johnson xây dựng, khi ông hủy bỏ các chương trình xã hội liên bang và chuyển chúng cho các tiểu bang, khi các bang bắt đầu cạnh tranh để cắt giảm trợ cấp, vì mỗi tiểu bang đều muốn tránh làn sóng đói nghèo tràn sang từ bang lân cận, người ta không đặt vấn đề đạo đức đối với ông ta. Mà ông ta đã nghi ngờ nguyên tắc đạo đức cơ bản rằng trách nhiệm của nhà nước là chăm lo cho dân chúng. Nhưng khi ông nói dối về chuyện ngoại tình với thực tập sinh, người ta đòi phải bãi nhiệm ông vì lý do đạo đức. Người ta công nhận rằng tổng thống đã vi phạm nguyên tắc luân lý.... Đây là đặc trưng của tình hình mới. Sự dối trá hay vụ ngoại tình hủy diệt chính trị gia. Nhưng vi phạm đạo đức của đời sống xã hội thì có thể dễ dàng xoay xở. Khi vấn đề sự thật được giản lược đến việc nói thật dẫu là của những cá nhân tuyệt vời nhất, thì sự thật về xã hội, về tình trạng và số phận của cộng đồng biến mất khỏi tầm mắt. Nếu chính trị gia nói dối, có thể lột mặt nạ anh ta và bãi nhiệm. Có các công cụ để làm việc đó. Công tố viên, tòa án, các nhà báo tò mò hay các ủy ban điều tra. Nhưng khi những sự thật của chung sống xã hội bị dối trá, người ta chủ yếu im lặng. Bởi các sự thật định đoạt số phận chung của chúng ta không thể được xác định bởi các công tố viên, các quan tòa và các ủy ban điều tra. Việc xác định chúng đòi hỏi phải có agora. Mà agora đang biến mất.
Nghĩa là lỗi lại ở sự tiêu dùng?
Chủ nghĩa tiêu thụ – một phần. Nhưng không chỉ có mình nó. Sự tràn ngập thông tin cũng có thể tạo điều kiện cho dối trá áp đảo. Truyền thông đương đại cũng vậy. Kỹ thuật truyền đạt thông tin và kỹ thuật truy tầm sự thật được chi phối bởi các lô gíc khác nhau. Nguồn thông tin phổ biến nhất hiện nay là truyền hình về bản chất không thể gây sự chú ý của người xem trong khoảng thời gian cần thiết để đưa ra căn bản của luận điểm. Trong cuộc tranh luận trên truyền hình, cùng lắm chỉ có thể làm người đối thoại điếc tai và tương vào anh ta (và vào khán giả) những lời châm chích ngắn ngủi. Mà truy tầm sự thật thì cần tập trung và gắng sức. Chẳng bao giờ đến được với sự thật bằng những tiếng la hét hay những lời châm chích. Khi cuộc tranh luận dẫn đến trận khẩu chiến bằng những lời châm chích, việc phân biệt sự thật và dối trá là bất khả.
Nhất định phải thế, hay đó chỉ là một giai đoạn lịch sử thôi?
Tôi không bao giờ chấp nhận là tình hình phải như nó đang là. Nếu chúng ta phản kháng, nếu chúng ta trò chuyện vài giờ – như chúng ta đang làm, chứ không phải vài phút, thì sự thật sẽ khá hơn. Thông tin đưa ra càng quá liều và càng nông thì càng ít có cơ hội cho một cuộc tranh luận nghiêm túc, chúng ta càng có nhiều khả năng bị chìm trong dối trá. Chúng ta đứng trước lựa chọn – và chúng ta sẽ ra sao cũng phụ thuộc vào chúng ta.
Ông muốn thay đổi số phận của thế giới bằng lời nói?
Anh biết không, người ta từng hỏi Cornelius Castoriadis: „Ông muốn thay đổi thế giới à?”. Và ông trả lời: „Xin Chúa che chở cho tôi! Tôi chỉ muốn thế giới tự thay đổi. Như nó đã từng làm thế trong lịch sử của mình”.



Friday, 29 August 2014

Bạn có phải là một người tốt?

Janina Ochojska ở Sudan

Phỏng vấn bà Janina Ochojska – nhà hoạt động từ thiện Ba Lan nổi tiếng, chủ tịch và nhà sáng lập tổ chức thiện nguyện phi chính phủ „Hoạt động Nhân đạo Ba Lan”. Bài phỏng vấn do Grzegorz Sroczyński thực hiện, đăng trên Gazeta Wyborcza - nhật báo lớn nhất Ba Lan số ra ngày 08.08.2014. Thái Linh trích dịch. Một phần của bản dịch đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 31 ra ngày 17.08.2014.


Grzegorz Sroczyński: Có nên cho tiền những người ăn xin không?

Janina Ochojska: Không cho.

Thế nếu là một đứa trẻ ăn xin thì sao?

Cũng không cho. Đứa trẻ bị lợi dụng để làm anh cảm động và để moi tiền anh. Kẻ kiếm được tiền là người khác, cả một băng nhóm. Một người quen của tôi làm việc trong tu viện ở Kraków đã quan sát những người ăn xin trước tu viện, họ kiếm tiền rất khá. Một ngày có thể kiếm được 300 zloty1 và người ăn xin phải mua chỗ. Một bà mẹ ngồi với đứa con nhỏ, trông có vẻ nghèo rớt mồng tơi. Và chắc hẳn là họ nghèo thật. Nhưng có kẻ đã đặt họ ngồi vào chỗ ấy và thu tiền. Người quen tôi có lần nhìn thấy hắn sau khi thu tiền đã đi về bằng taxi.

Chúng ta ai cũng thích nghe những câu chuyện như vậy.

Câu chuyện này có thật.

Bằng cách này giới trung lưu Ba Lan rũ bỏ trách nhiệm của mình. „Toàn là những kẻ đểu cáng, họ muốn lừa tiền của chúng ta” - chúng ta lặp đi lặp lại điều đó và thờ ơ lướt qua những người ăn xin.

Tôi chơi thân với xơ Chmielewska2, bà có ý kiến khác: không cho tiền những người ăn xin. Một đứa trẻ buổi tối không mang tiền về sẽ bị đánh. Có thể như thế. Nhưng nếu tôi cho tiền, đứa trẻ cũng vẫn phải chịu hình phạt, bởi nó sẽ vẫn tiếp tục bị cho đi ăn xin.

Ném ra một đồng xu, anh không làm cho cuộc sống của họ thay đổi gì. Anh không giúp đỡ được họ. Hiệu quả duy nhất là anh vỗ về được một chút cho lương tâm của mình: ồ, tôi đã làm được một việc gì đó, tôi đã không thờ ơ đi ngang qua.

Lương tâm cũng quan trọng chứ.

Quan trọng là giúp đỡ, chứ không phải là giải quyết cho lương tâm yên ổn.

Bà nghĩ điều gì tốt hơn: khiến người ta vô cảm với những người ăn xin, lướt qua họ một cách thờ ơ, không cho gì hết hay đôi khi cho vài đồng xu lẻ?

Vậy thì tốt hơn là không cho gì hết.

Tôi thấy khó lòng đồng ý với điều này.

Những người thực sự thành đạt ở Ba Lan thường vô cảm với cái nghèo. Họ cho rằng thành công của họ duy nhất chỉ nhờ vào tài năng và họ không nợ ai điều gì hết. Một yếu tố của sự tự mãn này thường là quan điểm cho rằng nếu ai đó được đứng trên bục cao của cuộc đời thì chắc hẳn là do anh ta xứng đáng. „Không có cái nghèo, chỉ có những người lười nhác” - đó là phiên bản dân túy luận của các tầng lớp cao. Và lời khuyên tuyệt đối „không cho” của tôi có thể trở thành công cụ hữu hiệu cho họ, cũng như câu chuyện về những băng đảng ăn xin.

Chính thế.

Tôi không muốn gỡ bỏ trách nhiệm cho người Ba Lan, nhưng hãy để sự mẫn cảm của họ đơm hoa kết trái thành một điều gì đó sáng suốt hơn là cho tiền lẻ ngoài đường. Vài đồng xu? Anh mua sự yên ổn cho lương tâm mình với giá quá rẻ mạt! Anh sẽ ném ra những đồng xu lẻ suốt cuộc đời mình và tự dối mình rằng anh không thờ ơ với số phận của đồng loại. Tốt hơn là đừng cho, hãy để lương tâm nhạy cảm của anh đau khổ một chút và có thể rốt cuộc nó sẽ ra lệnh cho anh làm một điều gì đó nghiêm túc. Sự cắn rứt lương tâm có thể trở nên rất sáng tạo.

Một người bạn tôi từng hỏi một câu khó hơn: „Tôi dắt con trai đi trên phố, tôi muốn giáo dục cho nó về xã hội. Một người phụ nữ có bầu ngồi ăn xin. Tôi phải làm gì? Thờ ơ đi qua? Thế thì con tôi sẽ học điều đó. Cho tiền? Như thế cũng không tốt.” Bạn tôi cùng cả gia đình đã tham gia giúp đỡ những người tàn tật từ nhiều năm, anh muốn dạy con việc làm thiện nguyện. Và anh muốn cư xử thích hợp trong cả những tình huống trên đường phố như thế này, để không phô bày chứng tâm thần phân liệt về đạo đức.

Bà đã khuyên anh ấy thế nào?

Tôi khuyên anh dạy con trong những tình huống như thế này thay vì cho tiền phải biểu lộ sự quan tâm. Đó là phản ứng tốt nhất.

Sự quan tâm?

Hãy tiếp cận. „Mẹ của em ở đâu?” „Vì sao em đứng ngoài đường?” „Em từ đâu đến?”Tất nhiên sự tiếp cận này sẽ không dễ dàng, bởi người ăn xin có thể không muốn điều đó, sẽ làu bàu khó chịu. Có thể họ không biết tiếng Ba Lan, nếu đó là một gia đình người Di-gan từ Romania. Nhưng cần phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh của người đó. Sau đó nói với con: „Con à, có các nhà tế bần và những tổ chức khác nhau, khi về đến nhà chúng ta sẽ gọi cho họ ngay và cố gắng làm điều gì đó .” Ví dụ anh hãy tra trên mạng „quận Mokotów – nhà tế bần” hay „quận Mokotów – cứu trợ trẻ em”. Anh gọi điện cho họ: „Ở số 80 đường Độc Lập có một em bé ăn xin, các ông bà có giúp được không?” Hôm sau đứa trẻ cũng sẽ vẫn đứng đó mà.

Còn họ thì sẽ phân bua rằng họ không phải là tổ chức có thể giúp được, và không thể làm gì.

Rõ là như vậy. Đừng hy vọng rằng anh gọi điện và người ta sẽ cuống quýt lên: „Ôi ôi, ông thật cao cả khi gọi điện đến như vậy! Ôi, chúng tôi chạy ngay đến đó đây.” Đây chính là sự khác biệt giữa việc ném vài xu lẻ ngoài đường và sự chú tâm thực sự – cái thứ hai thường không dễ chịu và đòi hỏi sự kiên định. Nơi đầu tiên sẽ nói đó không phải là việc của họ. Nhưng có thể họ sẽ biết phải liên hệ chỗ nào và cho số điện thoại. Nếu không, thì anh tiếp tục tìm trên mạng. Anh cố gắng tìm được tổ chức thông thạo khu vực này và hứa sẽ kiềm tra tình hình đứa trẻ cùng gia đình nó. Vài ngày sau anh lại gọi điện xem họ có xác minh thêm được gì không. Và khi đó chính là lúc để rút ví. Các tổ chức như vậy – dù lớn hay nhỏ – rất nhiều và họ luôn có khó khăn về tài chính.

Ở Ba Lan các tổ chức xã hội không được tin tưởng.

Nếu anh hỏi một người bất kỳ xem anh ta có biết tổ chức nào có thể giúp đỡ trong quận hay trong thành phố của anh ta hay không, thì tôi dám cá rằng anh ta không thể nói được tên tổ chức nào cả. Người giàu thì lại càng không, vì anh ta sống trong khu khép kín. Người Ba Lan không biết về sự tồn tại của các định chế cứu trợ một cách đáng đau lòng. Những người bỗng dưng bất ngờ gặp khó khăn, họ làm gì? Họ gửi thư cho Owsiak, Dymna, Ojchowska3 và cho truyền hình. Đấy là tất cả những gì họ có thể nghĩ ra được. Một lần tôi đến xem chương trình của Elżieta Jaworowicz về một cô gái có nguy cơ bị đuổi ra đường. Những trường hợp như thế ngày một nhiều, vì tòa án bắt đầu phát quyết nhiều bản án vô tâm. Khắp nơi bừa bộn khủng khiếp, giẻ rách vung vãi. Tôi hỏi: „Cô không thể dọn dẹp đi một chút sao? Để thấy được có chút cố gắng từ phía cô”. Không. Cô ấy ĐỢI sự giúp đỡ của truyền hình. Nhân viên của tổ chức địa phương nói rằng cô ta không hề liên hệ với họ, mà họ có ngân sách cho những trường hợp như vậy.

Truyền hình thực ra gây hại, bởi nó có thể làm đình đám mọi sự cứu trợ bằng một phương pháp vô hạn định. Một người cần một nghìn để bơi tiếp bằng chính sức lực của mình, bỗng nhiên lại nhận được một trăm nghìn. Sau trận lụt năm 2001 truyền thông đưa công khai số tài khoản cá nhân của những người bị nạn, không ai kiểm soát tiền bạc. Chúng tôi cùng với báo Gazeta Wyborcza xây nhà cho những người bị lụt và có một cô nhận được thêm 250 nghìn trong tài khoản. Cô thường được lên ti vi, đúng là cô ấy rất khó khăn. Thế là cô ấy mua một cái xe oách, đi vòng quanh Ba Lan và chúng tôi không thể giao nhà mới cho cô ấy. Con cái chị cô ấy phải nuôi. Một sự trợ giúp thiếu kiểm soát như vậy có thể trở nên sai lầm, bởi không phải ai cũng cũng biết sử dụng nó một cách sáng suốt. Tôi cho rằng tốt hơn nên chuyển tiền cho một tổ chức địa phương, một định chế có tài khoản ngân hàng và có thể giám sát điều đó. Họ sẽ giúp ở mức vừa đủ và số tiền thừa ra để dành cho những người khác.

Tôi chẳng bao giờ cho ai cái gì, toàn là phường lừa đảo hết” - một người quen của tôi nói vậy.

Một người bất hạnh.

Cuộc phỏng vấn của chúng ta khẳng định thêm điều đó.

Nhưng xin lỗi, ai mới là người có lỗi về chuyện cứu trợ vô trách nhiệm? Về việc một số tổ chức lợi dụng? Tôi biết điều tôi nói đây sẽ khiến nhiều người nhảy đựng lên, nhưng vấn đề nằm ở những người cho! Nếu những người đóng góp muốn có bản quyết toán, quan tâm đến việc tiền của mình được sử dụng ra sao, thì các tình huống như vậy đã ít hơn. Một ông đến chỗ chúng tôi và cho một triệu zloty để xây giếng nước ở Sudan, nhưng chúng tôi ký hợp đồng đàng hoàng và trình cho ông ấy bản quyết toán đầy đủ.

Nếu anh cho tùy tiện thì người ta cũng chi tùy tiện. Nếu anh cho hợp lý thì tiền sẽ được chi hợp lý. Hợp lý nghĩa là gì? Điều này đòi hỏi nỗ lực, đi lại, kiểm tra, quan tâm. Sự chú tâm đến nó. Chứ không phải là giả vờ làm những cử chỉ cao đẹp, ném ra cả đống tiền bằng phản xạ của trái tim bởi đứa trẻ mồ côi khiến tôi xúc động. Chúng ta cho rằng bản thân việc cho tiền đã cao đẹp đến mức có thể miễn trừ mọi nỗ lực khác. Chỉ cần cho tiền và cả thế giới phải lấy làm hạnh phúc.

Sở hữu tiền bạc là một trách nhiệm. Một người được may mắn trong cuộc sống và phải có trách nhiệm chia sẻ. Chia sẻ một cách thông minh.

May mắn?

Tôi cố ý dùng từ này. Tất nhiên, có thể nói: tôi giỏi, tôi chăm chỉ, vì thế tôi có được như vậy. Nhưng đó không phải là toàn bộ sự thật của cuộc sống. Bởi nhiều người từ điểm xuất phát đã được cuộc đời ban tặng rất nhiều: một nơi sinh tốt hơn, trong nhà đầy sách, vốn văn hóa, hay có thể bố mẹ có những người quen biết xin việc cho, rồi sau đó nhờ thông minh và chăm chỉ tôi thành công ngoạn mục... Dẫu sao đi nữa thì người đó cũng có nhiều cơ hội. Nhưng có những người không nhận được những cơ hội ấy hoặc họ rất bị hạn chế. Họ giỏi, chăm chỉ, mặc dù vậy họ không thành công.
Ví dụ, tôi là một người rất may mắn, tôi được số phận ban tặng rất nhiều và tôi coi điều này là một món nợ.

Cứu trợ là sự chọn lọc, lựa chọn. Đôi khi tàn nhẫn.

Sự chọn lọc?

Lần đầu tiên tôi phải đưa ra một quyết định là ở Sarajevo, xe tải của chúng tôi đến đó, tôi phải giải quyết một số việc trong thành phố và chúng tôi đã chuẩn bị lên đường. Tôi trở về xe và thấy một phụ nữ ngồi trong đó cùng với một bé trai và hai cái va li. Cô van xin chúng tôi mang cô đi khỏi Sarajevo. Và... anh biết đấy... tôi phải đuổi cô ấy xuống xe. Bởi chúng tôi đi cùng với một toán quân Serbia và nếu không có họ thì chúng tôi không đời nào vào được Sarajevo. Thế là tôi đuổi cô ấy xuống giữa trời tuyết, tôi đã bỏ lại đứa trẻ giữa lòng chiến trận. Tôi luôn nghĩ về người phụ nữ này, không biết cô có sống sót không. Và về cậu bé. Anh biết không... cô ấy... quỳ giữa tuyết... và van xin tôi. Còn tôi...

Lần đầu tiên tôi thấy bà khóc. Điều này không hợp với bà chút nào.

Tôi nhớ tiếng khóc của cô ấy. Tóc cô ấy đen. Tôi nhớ người phũ nữ đã quỳ xuống và hôn chân tôi. Đúng thế. Và cậu bé ấy, kêu khóc ở đó...

Cứu trợ không phải là một câu chuyện cổ tích, tôi đã hiểu ra điều này. Sẽ không dễ chịu và phải mạnh mẽ về tâm lý.

Phải tàn nhẫn.

Anh có thể gọi nó như vậy. Tôi muốn dùng từ này hơn: cương quyết. Để cứu trợ, cần có một điều gì đó bề ngoài có vẻ như trái ngược với đặc thù của nó – chính là cái đầu lạnh. Khoảng cách.

Bà nổi tiếng về điều này. Tôi luôn ngạc nhiên khi thấy bà thường lạnh lùng đến thế khi kể về những người mà bà giúp đỡ.

Tôi tỉnh táo.
Tôi không thể giúp tất cả mọi người. Tôi phải chọn lựa. Và khi đã chọn lựa thì thực hiện một cách tốt nhất.

Chỉ có người như bà mới có thể cho phép mình đuổi một người phụ nữ ra khỏi xe. Bởi bà làm những việc khác quan trọng hơn. Nhưng tôi thì không thể cho phép mình làm như vậy mà đạo đức không tan nát. Và cũng thế, tôi không thể lướt qua những người ăn xin ngoài phố một cách thờ ơ mà không cho họ tiền. Đây chính là sự khác biệt giữa chúng ta.

Vậy thì anh hãy bắt tay vào làm điều gì đó quan trọng đi! Hãy để tâm vào đi!

Anh muốn cư xử một cách có đạo đức và anh cảm thấy cực kỳ khó xử khi đi ngang qua những người ăn xin, điều đó nghe thật là hay. Sự cảm thông, mẫn cảm, vân vân và vân vân. Nhưng đó thật ra là những tình cảm yếu đuối và không nhất thiết hữu ích trong việc cứu trợ thực sự. Tôi nhớ một cô gái, đã được huấn luyện và chuẩn bị, nhưng khi nhìn thấy lũ trẻ mặc áo rách và quần thủng đít chạy theo cô ấy và kêu la: „Cho em một đồng” thì cô ấy bắt đầu phân phát hết không chỉ kẹo và tiền mà tất cả những gì cô ấy có trong người, vừa cho vừa khóc. Chúng tôi đưa cô ấy về trại và phải rút cô ấy khỏi Sudan. Đó không phải là đất nước dành cho cô ấy.

Phải khiến những người như thế trở nên mất cảm giác, theo một nghĩa nào đó?

Anh có thể gọi như thế. Tôi thì sẽ nói là: làm cho họ trở nên thực tế.

Người ta tưởng tượng rằng khi đứa trẻ ăn xong cái kẹo, nó sẽ vui vẻ. Nhưng cả đám đông trẻ con chạy theo họ và cũng muốn thế. Chúng bắt đầu đánh nhau vì kẹo, đứa trẻ nào đó bị ngã, những người lớn ở đó nhìn thấy và cho rằng „kẻ thực dân trắng” muốn làm điiều có hại cho đám trẻ. Một bi kịch được bày sẵn.

Một người quen có lần kể cho tôi nghe ông đi tham quan ở Ấn Độ và khi nhìn thấy sự nghèo đói ở đó, ông đã thực sự xúc động. Sự thấu cảm, phản ứng của trái tim, và những cảm xúc dâng trào khác như anh vẫn yêu thích. Ở một địa danh du lịch ông gặp một cô bé xinh xắn dễ thương và cho cô bé kẹo, cô bé dẫn ông về nhà, ông trò chuyện với bố mẹ cô bé. Họ không muốn xin tiền, nhưng mơ ước có một quầy hàng nhỏ và họ cần có một cái xe bò. Ông đã mua xe bò cho họ.

Đó chắc là một sự giúp đỡ sáng suốt?

Phải. Có thể nói rằng ông đã xử sự đúng mẫu. Cho cần câu chứ không cho con cá. Và ông rơi vào bẫy của những kẻ lừa đảo. Chúng chuyên lừa những khách du lịch giàu có, nhưng chúng biết xin tiền đã trở thành một việc đáng ngờ, nên chúng nghĩ ra câu chuyện về quầy hàng và cái xe bò. Có thể nói chúng đã điều chỉnh món hàng thị trường của mình cho phù hợp với trí tưởng tượng của một khách du lịch phương Tây được dạy dỗ tử tế về xã hội. Tất nhiên là chúng bán lại cái xe bò ngay lập tức, chúng đã thỏa thuận trước với người bán rồi.

Việc giúp đỡ có hiệu quả không? Đó là câu hỏi quan trọng nhất. Chúng ta hãy kết thúc lớp vỡ lòng về cứu trợ.

Nhưng thế thì sao chứ? Dẫu sao họ vẫn nghèo khổ thật mà.

Tất nhiên. Nhưng bằng cách đó họ học được rằng có thể kiếm tiền nhờ lừa đảo. Và điều đó làm hỏng họ. Không ai nói với tôi rằng lừa đảo lợi dụng sự giúp đỡ có thể mang lại điều gì đó tốt lành.

Bà nói gì với ông người quen?

„Chính ông có lỗi. Cô bé làm ông xúc động và ông không tìm hiểu gì thêm về gia đình nó. Nếu là tôi thì tôi sẽ không làm vậy. Ở đó có hàng xóm, các tổ chức địa phương, ông có thể mở miệng hỏi trước, xem những người ấy có cần giúp thật không.”

Để kiểm tra, ông ta sẽ phải tách ra khỏi đoàn tham quan và ở lại thêm hai ngày.

Chính thế. Phải chú tâm một cách NGHIÊM TÚC. Còn chúng ta thì thường muốn sửa chữa thế giới khi thể nghiệm những xúc cảm nhất thời.

Người Ba Lan có tốt không?

Người ta nói chung không xấu, chỉ có điều đôi khi họ thiếu kiến thức. Nếu giải thích cho họ, họ sẵn lòng thay đổi. „À, đúng vậy, bây giờ mọi thứ đều rõ ràng”.

Ở Wrocław, trong sân chơi công cộng, Natalka, một bé gái mắc chứng tự kỷ túm áo một cậu bé. Bố cậu bé làm om sòm lên. Mẹ Natalka xin lỗi và giải thích rằng con mình bị tự kỷ. Ông bố kêu lên: „Cô hãy đi khỏi đây, nếu con cô bị bệnh thì nó đừng đi ra chỗ công cộng và đừng làm phiền những đứa trẻ khỏe mạnh”. Bà sẽ giải thích cho ông ấy rằng ông ấy làm như thế là sai như thế nào?

Bình tĩnh. Nổi khùng lên với một người như thế chả đem lại điều gì. Tôi sẽ cố gắng nói chuyện bình thường với ông ta, để ông ta nghĩ xem ở đâu là ranh giới của tàn tật mà ông ta chấp nhận. Một đứa trẻ không có tay có thể chơi với con ông ta hay không? Nếu có, thì một đứa trẻ mù có chơi được không? Đẩy bóng sang phía đối phương là cách tốt. Hãy để ông ta định ranh giới. Ông ta sẽ nhanh chóng thấy rằng đặt ra các ranh giới như vậy là ngu xuẩn. Hãy để cho người ta suy nghĩ.

Dạy cho ông ta một bài học không tốt hơn sao?

Không.

Mẹ Natalka chụp ảnh ông ta bằng điện thoại và cho lên Facebook, kể lại toàn bộ sự việc. Bây giờ ảnh ông ta đầy trên mạng vì mọi người ai cũng chia sẻ nó. Thế có tốt không?

Không. Nó làm tổn thương ông ta. Trong những trường hợp như thế này trước tiên tôi nghĩ đến việc không khiến ai bị tổn thương.

Thật kỳ cục là bà lại nghĩ đến sự tổn thương của gã ấy. Thế còn sự tổn thương của người phụ nữ và đứa trẻ thì sao?

Phải, nhưng ông ta đã làm họ tổn thương rồi. Điều đó đã xảy ra. Không cần phải gây thêm tổn thương khác. Anh thấy thế nào khi xem ảnh ông ta?

Giận dữ. „Đồ chó đẻ”.

Nghĩa là bức ảnh gây ra cảm xúc xấu cho hàng nghìn người đang chia sẻ nó. Nhưng có thể ông ta hoàn toàn không phải là đồ chó đẻ. Có thể ông ta chỉ ngu dốt thôi? Hay vô cảm?

Bà không cho rằng sự ngu dốt là một thể loại của cái ác?

Nhiều người có thể phản ứng y như thế vì họ không biết bệnh tự kỷ là gì. Anh có biết tôi chợt nghĩ gì không? Có thể ông ta cho rằng đó là một loại bệnh truyền nhiễm? Hoặc có thể ông ta khó chịu khi nhìn thấy một đứa trẻ không bình thường, vì ông ta đã được ai nó nuôi dạy một cách không khôn ngoan? Trong thời thơ ấu của tôi, người ta quan niệm khá phổ biến là những đứa trẻ tàn tật nên bị giam riêng trong các trung tâm đặc biệt để không làm người bình thường khó chịu.

Ông bố của cậu bé ở Wroclaw trong tình huống này đã hành xử tệ. Nhưng có thể ngay sau đó trong một tình huống khác lại cư xử rất tuyệt vời. Nếu tôi đánh giá người khác chỉ qua một phát biểu ngu dốt thì tôi đã chẳng làm được bất cứ chuyện gì trong đời. „Thế vì sao người mọi đen ở Sudan không tự đào giếng?” Một người có học và khá hay ho đã hỏi tôi như vậy. Đấy là những phản ứng xuất phát từ thiếu hiểu biết chứ không phải vì họ là người xấu.

Bà trả lời thế nào?

Thứ nhất, không gọi họ là „mọi đen”. Thứ hai, giếng sâu hàng trăm mét, không ai dùng xà beng mà đào được.

Có lời khuyên chung nào để người được nhận sự giúp đỡ không cảm thấy tủi thân?

Tôi nhớ chuyện hồi nhỏ, khi một bà của cứu trợ xã hội bước vào lớp và nói: „Chúng ta sẽ mua quần áo cho các bạn nghèo. Ochojska không có áo khoác, vậy ta sẽ mua áo khoác cho bạn, còn cho Kowalska thì mua quần.” Khi đó tôi cảm thấy rất kinh khủng. Nếu tôi phải đưa ra một lời khuyên thì nó sẽ là: không chỉ mặt điểm tên.

Bà có quan tâm đến kinh tế học không?

Tôi không hiểu được nó. Ví dụ, tôi không hiểu vòng quay của tiền. Cũng như không hiểu vì sao người ta lại vui mừng hớn hở khi tổng sản phẩm nội địa tăng trưởng. Ai đó cần cái du thuyền thứ tư hay cái nhà thứ năm để làm gì? Một người muốn có du thuyền, ừ thì tôi còn hiểu được đôi chút. Nhưng thêm cái thứ hai? Và dựa trên nguyên tắc nào mà việc mua sắm không ngừng lại thúc đẩy nền kinh tế?

Năm năm trước chúng ta còn tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dần dần kéo tất cả mọi người lên khỏi cái nghèo, cái đói sẽ biến mất, miễn là không cản trở quy luật vận hành của kinh tế học. Bà có bao giờ lạc quan như thế không?

Tôi không ảo tưởng như thế, vì tôi biết rõ thực kiện. Mỗi ngày có 26 nghìn người chết đói. Nhưng đồng thời thực phẩm lại được sản xuất mỗi ngày một nhiều hơn, chỉ để những người giàu có thể vứt đi nhiều hơn và nhiều hơn nữa. Những người giàu – nghĩa là có cả chúng ta.

Hệ thống tự cắn cái đuôi của mình. Các tập đoàn toàn cầu phình ra quá mức và giành được quyền lực khủng khiếp. Điều này đặc biệt được thấy rõ ở châu Phi. Hãy xem phim về việc sản xuất đậu đũa ở Kenia, các khúc đậu phải dài bằng nhau, thẳng, nếu hơi cong là bị vứt đi, để chúng ta ở châu Âu có thể mua được đậu đẹp. Và rẻ, vì nhân công phải rẻ.

Thế giới sẽ ra sao?

Chúng ta khiến nó ra sao thì nó sẽ như thế. Cần phải đi đến một sự tự giới hạn ở những vùng giàu có hơn của thế giới.

Nghĩa là sẽ tốt hơn khi tình trạng của chúng ta – những người giàu ở châu Âu – tệ hơn?

Phải. Nhưng từ chối có thêm đôi giày thứ mười là tệ hơn sao?

Nếu chúng ta ngừng mua, thì toàn bộ guồng quay sẽ ngừng lại.

Đấy chính là điều tôi không hiểu nổi! Nó vận hành thế nào?

Người ta sống và tin rằng có một cái ti vi cũ là bi kịch. Nhưng khi có ti vi màn hình phẳng, thì tôi lại phải có cái phẳng hơn nữa, ngay sau đó lại là một cái to hơn nữa. Anh có nhà, thì phải có thêm cái nho nhỏ ở quê, còn nếu anh giàu hơn, thì ở Toscani hay Provence. Tuần tự như tiến. Tôi đọc báo thấy có cặp vợ chồng ly dị và cãi nhau vì 7 cái nhà! Và tôi bắt đầu tưởng tượng nếu mình có 7 cái nhà, tôi sẽ phải có cả máy bay để bay qua bay lại. Trong mỗi căn nhà tôi sẽ phải có cùng từng ấy thứ quần áo, tôi không thể muốn mặc quần đen mà nó lại đang nằm ở thành phố khác. Biết bao nhiêu đồ đạc!? Và tôi có thể sử dụng hết được không, để biện minh cho sự tồn tại của chúng? Nếu tôi muốn đọc cuốn „Núi thần” yêu thích của mình mà đang ở Bahamas, tôi có nên cử máy bay bay về Kraków để lấy sách hay không?

Nhà kinh tế học sẽ nói nếu bà mua 7 bản „Núi thần” cho mỗi căn nhà một bản, 7 cái quần đen và 7 cái tủ lạnh, thì bà thúc đẩy thị trường. Người nghèo ở Bangladesh cũng hưởng lợi từ đó, vì chắc họ sản xuất keo dán gáy sách.

Nhưng điều này dẫn đến sự ngớ ngẩn nực cười! Người ta làm ra các sản phẩm ngày một chóng hỏng hơn. Đồ vật là để phục vụ con người có cuộc sống thoải mái hơn, chắc có một cái tủ lạnh bền thì tốt hơn là cứ 5 năm lại phải thay một lần chứ. Các nhà kinh tế nói cả thế giới nhờ đó mà kiếm tiền. Nhưng nếu loài người chỉ tồn tại được nhờ việc sản xuất mỗi ngày một nhiều hơn thì cả ngành kinh tế học đang trồng cây chuối! Tăng sản xuất thực phẩm hoàn toàn không khiến cho số người bị đói giảm đi. Chúng ta đang vứt đi nhiều hơn!


Chú thích:

1 Khoảng 100 USD
2 Małgorzata Chmielewska, nữ tu sĩ Ba Lan nổi tiếng với các hoạt động thiện nguyện
3 Những người hoạt động từ thiện nổi tiếng của Ba Lan

Saturday, 13 July 2013

Tản mạn về một "thượng đỉnh văn học"

Từ ngày 20 đến 22.6.2013, tại Kraków - cố đô và trung tâm văn hóa của Ba Lan - vừa diễn ra Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3. Đây là sự kiện quốc tế lớn nhất thế giới dành cho các dịch giả văn học do Viện Sách trực thuộc Bộ Văn hóa và Di sản Quốc gia Ba Lan tổ chức 4 năm một lần. Tới tham dự Đại hội lần này có 250 dịch giả từ 51 quốc gia của 41 thứ tiếng ở khắp thế giới. Sáu dịch giả Việt Nam được mời là Nguyễn Thanh Thư, Tạ Minh Châu, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Văn Thái, Lê Bá Thự và Nguyễn Thái Linh. 

Các dịch giả Việt Nam từ trái sang phải: Nguyễn Chí Thuật, Lê Bá Thự,
Nguyễn Thái Linh,Tạ Minh Châu, Nguyễn Thanh Thư, Nguyễn Văn Thái
1. Có lẽ không chỉ tôi, mà nhiều thành viên khác của Đại hội sẽ khó quên những ngày cuối tháng Sáu năm 2013, khi chúng tôi liên tục được gặp gỡ, trò chuyện, đối thoại với những con người minh triết và giản dị, được sống trong không khí thân ái, chân tình.

​Trong 3 ngày, chúng tôi được tham gia hơn 40 hội thảo và thảo luận chuyên đề về hiện trạng văn học và ngôn ngữ  Ba Lan cùng với các nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu Ba Lan, qua đó cập nhật thông tin và hoàn thiện kỹ năng dịch thuật của mình. Rzeczpospolita - một trong những tờ nhật báo lớn nhất Ba Lan - đã gọi Đại hội là  "thượng đỉnh văn học”.

Lễ khai mạc tại đại giảng đường trường Đại Học Jagielloński (ảnh của Viện Sách)

Phát biểu trong lễ khai mạc được tổ chức trang trọng tại đại giảng đường Đại học Jagielloński (đại học cổ nhất Ba Lan và là một trong những đại học cổ nhất thế giới), viện trưởng Viện Sách Grzegorz Gauden đã vinh danh các dịch giả là những đại sứ của văn học Ba Lan ở khắp năm châu và bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với những đóng góp của họ cho việc quảng bá văn học Ba Lan ra thế giới. Tình cảm trân trọng đối với các dịch giả và tâm huyết đối với việc quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài không chỉ là lời nói, mà còn được Viện Sách thể hiện trong suốt 10 năm hoạt động của mình. Viện đã tài trợ hơn 4,5 triệu USD cho hơn 1400 đầu sách văn học Ba Lan xuất bản bằng 42 thứ tiếng trên thế giới, giúp đỡ thúc đẩy quan hệ giữa các dịch giả và các nhà xuất bản, đài thọ cho các dịch giả đến Ba Lan làm việc trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, trao các giải thưởng dịch thuật... Những nỗ lực này càng đáng trân trọng bội phần trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.

Ăn trưa ở Piwnica pod Baranami, địa chỉ nổi tiếng của giới văn nghệ sỹ Ba Lan
 Không chỉ là „thượng đỉnh văn học”, Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3 còn là „thượng đỉnh văn hóa”, khi lễ khai mạc, các hội thảo, các bữa trưa, lễ trao giải Transatlantyk... đều diễn ra ở các địa chỉ văn hóa nổi tiếng của Ba Lan ở cố đô Kraków, khiến các dịch giả được chìm đắm trong không gian văn hóa đậm đặc và thân mật.

Đáng ghi nhận nhất vẫn là tình cảm, lòng biết ơn và sự trân trọng đối với các dịch giả; tiếp nối tinh thần tri ân đầy nhân văn mà nhà văn, nhà báo kiệt xuất Ba Lan Ryszard Kapuściński đã khơi lên 8 năm về trước. Trong lễ khai mạc Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất năm 2005, Kapuściński đã phát biểu:  "Ngày nay vai trò của dịch giả trong một thế giới đa văn hóa càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn – khi người dịch giúp bạn đọc ý thức được rõ ràng về sự tồn tại của những Người khác, về tính đặc biệt, không lặp lại của anh ta...Với ý nghĩa đó, khi dịch một văn bản, chúng ta mở ra cho những Người khác một thế giới mới, chúng ta giải thích cái thế giới mới đó, và khi giải thích, chúng ta đưa cái thế giới đó lại gần mọi người hơn, tạo điều kiện cho mọi người sống trong lòng nó, biến nó thành một phần sự trải nghiệm cá nhân.... Vậy là nhờ cố gắng của dịch giả, chân trời tư duy của mọi người được mở rộng, sự hiểu biết, tri thức chung được nâng lên, sự nhạy cảm, tinh tế được cải thiện. Ngày nay, trong thế kỷ 21 này, những điều kể trên càng trở nên đặc biệt quan trọng, bởi vì thế giới của chúng ta khi phát triển với tốc độ chóng mặt, khi thay đổi và tạo nên sự khác biệt, nó luôn cần đến giải thích, lý giải, trong đó bản dịch văn học là sự trợ giúp đắc lực – nghĩa là công sức của những người có mặt hôm nay là không thể thiếu...”.  Tại Đại hội lần thứ ba này, tinh thần đó đã được Phó chủ tịch thành phố Kraków Magdalena Sroka tiếp nối nhất quán:  "Dịch văn học là một trong những hoạt động quan trọng nhất ở nước ngoài vì lợi ích văn hóa Ba Lan và chủ nghĩa nhân văn. Ngôn từ là cội rễ căn tính của con người. Dịch một ngoại ngữ ra ngôn ngữ nền văn hóa của mình đòi hỏi sự nhạy cảm phi thường. Trong thế kỷ 21, công việc của dịch giả phục vụ cho việc „làm quen với cái Khác”, nó không chỉ mang chiều kích văn hóa, mà cả chiều kích nhân văn.”

Các dịch giả dịch R. Kapuściński chụp ảnh kỷ niệm tại lễ trao giải Transatlantyk,
 giải thưởng thường niên dành cho dịch giả có nhiều đóng góp
cho việc quảng bá văn học Ba Lan ở nước ngoài (ảnh của Viện Sách)
Tình cảm và sự trân trọng dành cho các dịch giả văn học biểu hiện tình cảm và sự trân trọng của người Ba Lan dành cho chính nền văn học nước nhà, một nền văn học luôn đầy sức sống mạnh mẽ. Không phải ngẫu nhiên mà một đất nước nhỏ bé như Ba Lan lại có tới 4 giải Nobel văn học.  Chính bởi tinh thần này mà qua các kỳ đại hội, Ba Lan đã xây dựng được một cộng đồng dịch thuật văn học Ba Lan đầy gắn bó. Đại hội là nơi duy nhất trên hành tinh hội tụ hàng trăm con người đến từ khắp năm châu chỉ cùng nói ngôn ngữ duy nhất - tiếng Ba Lan, một trong những ngôn ngữ khó nhất của châu Âu. Các dịch giả coi nhau như bạn bè thân thiết, xem Ba Lan như quê hương chung và đến đại hội như trở về nhà. Desislava Nedyalkova, dịch giả người Bulgaria tâm sự: "Tôi mong chờ suốt 4 năm để lại được tham dự Đại hội, để gặp lại những người bạn thương mến". Các dịch giả đều có tình yêu và niềm đam mê chung với nền văn học và văn hóa Ba Lan, có những khó khăn chung trong việc dịch thuật hay việc thuyết phục các nhà xuất bản nước ngoài, bởi vậy những cuộc trò chuyện bên lề Đại hội, trong các giờ giải lao, ở phòng ăn khách sạn, trên đường đến hội thảo... dường như kéo dài vô tận, không có kết thúc. Và cũng không có ai muốn Đại hội kết thúc. Ngày cuối cùng của Đại hội, giám đốc Viện Sách nói: „Tôi xin không nói lời bế mạc, mà chỉ tạm dừng cuộc gặp gỡ này lại 4 năm”. Cả hội trường đứng lên vỗ tay không ngớt suốt mấy phút. Anh Jauhien Salejcuk, dịch giả người Bạch Nga, buồn rầu nói: „Thật buồn vì Đại hội đã kết thúc, những gì tốt đẹp thường qua thật nhanh!

Với dịch giả Thụy Điển Anders Bodegard. (W.Szymborska đã từng khiêm tốn nói rằng:
nếu không có các bản dịch của Bodegard thì có lẽ bà không được giải Nobel.)
Dịch giả Tạ Minh Châu  thì cảm kích:  "Chắc không có dân tộc nào trên thế giới tình cảm và trân trọng văn học như dân tộc Ba Lan, có thái độ ứng xử văn hóa như dân tộc Ba Lan. Rời Đại hội trở về, tôi luôn suy nghĩ phải làm sao đền đáp được tấm lòng và sự trân trọng của họ.” Có lẽ đó cũng chính là suy nghĩ của các dịch giả tham dự đại hội nói chung và của các dịch giả Việt Nam nói riêng. Tinh thần ấy, thái độ ấy thực sự khiến cho các dịch giả từ khắp năm châu ngả mũ kính phục.

2. 
Tới dự đại hội lần này, tôi không khỏi mang một cảm giác trống vắng khi không còn được gặp Wisława Szymborska - nhà thơ tôi yêu quý nhất. Mỗi bản dịch thơ bà là một phần cuộc sống của tôi, là một trang trong nhật ký đời tôi. Tôi vẫn nhớ nụ cười hiền hậu mà tinh nghịch của bà, cái dáng gầy gầy thân yêu của bà mà tôi còn được nhìn thấy trong đại hội lần trước. Nụ cười ấy, dáng vóc ấy giờ đây đã yên nghỉ trong nghĩa trang Rakowiecki, cách nơi diễn ra đại hội không xa.


Mang một bó hoa huệ trắng, tôi tới thăm bà vào buổi chiều cuối cùng ở Kraków. Mộ bà nằm bình dị, chìm lẫn giữa bao ngôi mộ khác giữa nghĩa trang rộng lớn, phải loanh quanh một lúc tôi mới tìm được. Bà vẫn thế, giản dị và kín đáo như khi còn sống. Tôi thầm biết ơn những người quản lý nghĩa trang đã không biến nơi an nghỉ của bà thành một địa điểm du lịch. Không khí trong nghĩa trang mát dịu vì nhiều bóng cây tỏa xuống, mặc dù ngoài kia Kraków đang giữa những ngày nóng nắng nhất. Tiếng chim hót ríu rít bình yên và trong lành. Cảm giác thanh thản và bình yên kỳ lạ, thanh thản như nhà thơ nói về cái chết của mình:

Nằm nơi đây là tác giả dăm bài thơ, cổ hủ già nua,
xưa như dấu phẩy. Đất rủ lòng dành cho bà ấy
sự an nghỉ ngàn thu, mặc dù xác chết
chẳng thuộc nhóm văn nào hết.

Nhưng trên nấm mồ bà cũng chẳng có gì hơn
ngoài bài thơ này, nhành ngưu bàng và một con cú vọ
Người qua đường kia ơi, hãy rút trong cặp ra bộ óc điện tử
và ngẫm một giây về phận đời Szymborska.

Tất cả đều đơn giản và bình dị, như viên đá, như đám mây, như một ngày, như sự sống. Nhưng tất cả lại cũng thật phi thường. Như Szymborska đã nói  "trong ngôn ngữ của thi ca, nơi mỗi từ đều vô cùng quan trọng thì chẳng có gì là bình thường nữa cả. Một viên đá, một đám mây, một ngày và nhất là sự sống của ai đó trên thế gian này”.

Thật phi thường, bởi không phải vô cớ mà Joseph Brodsky từng nói: nếu bạn biết tiếng Ba Lan hay đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, thì đó sẽ là một lợi thế lớn, vì  "thứ thi ca phi thường nhất của thế kỷ được viết bằng thứ tiếng này”.

Thái Linh, 7.2013
(Đây là bản đầy đủ của bài đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số ra ngày 05.07.2013)