Showing posts with label Herbert. Show all posts
Showing posts with label Herbert. Show all posts

Saturday, 21 April 2012

Linh hồn bé mọn (Zbigniew Herbert)




Tôi không thấy ở bất cứ đâu Freud vượt lên được tâm lý học của chính mình, và tôi chẳng rõ bằng cách nào ông muốn giải thoát những người bệnh khỏi sự đau đớn mà bản thân ông, như một bác sỹ, cũng đang phải chịu đựng. (Carl Gustav Jung)

Tôi không còn nhớ rõ mình đã bắt gặp văn bản ấy như thế nào. Có lẽ đó là vào thời gian tôi viết tiểu luận về Akrópolis, do công việc rất chật vật nên như thường lệ, tôi trốn vào thư sách, đọc các tiểu luận, các bài viết, bài báo rải rác trong các tạp chí khảo cổ học chuyên ngành và lập các ghi chép về chúng, dẫu lòng vẫn hồ nghi chẳng biết chúng có ích lợi gì không. Rõ ràng là tôi đã tự dối mình. Như thể tôi muốn biện minh rằng mình không vô công rồi nghề, rằng mình không rơi vào trạng thái tinh thần kiệt quệ, bởi vậy tôi làm một công việc thay thế, vô ích và chán ngán, với hy vọng từ sự vô ích và chán ngán đó tia sáng cảm hứng bất chợt lóe lên. Trong khi đó, mỗi ngăn kéo mục lục chuyên đề trong các thư viện tôi viếng thăm đều chứa hàng trăm tựa sách bằng các thứ tiếng khác nhau, hồ như muốn nói: „Anh vất vả mà làm gì, mọi thứ đều đã được viết ra, chẳng có gì để bổ sung trong lĩnh vực này. Vai trò duy nhất mà anh có thể làm là vai trò của người biên soạn”.

Chính trong thời gian bất an và lúng túng này, tôi bắt gặp bức thư Sigmund Freud gửi Romain Rolland nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông. Bức thư, theo như tính chất của nó, được dành để đưa vào cuốn sách lưu niệm mà bạn bè thân thiết xuất bản nhằm bày tỏ lòng trân trọng với nhà văn lớn.

Bỏ qua hình thức thư tín của phần mở đầu và kết thúc, có thể xem bức thư của Freud như một tiểu luận, và nó càng thú vị hơn khi người khởi thảo môn phân tâm học sử dụng phương pháp này với chính mình, hay nói chính xác hơn, với một tình tiết của trải nghiệm bản thân. Tình tiết này cách thời điểm viết thư hơn ba mươi năm và nhìn bề ngoài thì hoàn toàn nhàm chán, nó xuất hiện một cách dai dẳng và ngoan cố trong vùng ý thức – như Freud thú nhận - mà chẳng có nguyên nhân hay lý do nào rõ rệt.

Đó là năm 1904, như vào mỗi cuối tháng tám đầu tháng chín hàng năm, Freud và em trai quyết định nghỉ hè bên bờ Địa Trung Hải. Nhưng lần này kỳ nghỉ của họ ngắn hơn, nên họ thôi không du hành nước Ý như mọi khi, thay vào đó họ đến Trieste, rồi từ đó định ra đảo Corfu nghỉ vài ngày. Một người quen tình cờ gặp ở Trieste khuyên họ không nên thực hiện dự định ấy. Vào thời gian đó trên đảo rất nóng – anh ta nói – một chuyến tham quan Athens sẽ dễ chịu hơn nhiều. Đi bằng tàu thủy sẽ rất có lợi, vì còn dư ba ngày để thăm thú thành phố.

Đề nghị xem ra sáng suốt và hấp dẫn này – thật kỳ cục – lại khiến tâm trạng hai anh em trở nên khá u ám. Họ lang thang trong thành phố, không mấy dứt khoát, và thảo luận về dự định đi Athens chẳng lấy gì làm sôi nổi, họ chỉ nhìn thấy rặt những trở ngại. Nhưng tới giờ văn phòng Lloyd mở cửa, họ vẫn xuất hiện bên quầy và mua vé, như thể tạm quên đi trong chốc lát những khó chịu vừa qua.

Vào buổi chiều hôm chúng tôi đến, khi đang ở Akropolis và ngắm nhìn bao quát phong cảnh, đột nhiên một ý nghĩ kỳ cục này chợt đến với tôi: „Vậy là tất cả những điều này thực sự tồn tại, y như ta đã được học ở trường”. Nhận xét đó không mấy đặc biệt, nhưng thể hiện chính xác cảm nhận của tất cả những người lần đầu đứng trước Colosseum, trước tượng thần Vệ nữ thành Milo hay bức chân dung nàng Mona Lisa. Và Freud đưa ra một thăm dò mang tính phân tích vào sâu trong trải nghiệm và cảm nhận này, để chỉ ra rằng nó hoàn toàn không thông thường như người ta tưởng.

Theo người khởi thảo môn phân tâm học, ở đây xảy ra trường hợp đặc biệt đồng tồn tại trong cùng một tâm thức hai thái độ trái ngược và hai phản ứng hoàn toàn khác nhau đối với thực tại nảy sinh từ chúng. Dĩ nhiên đó không phải là một sự phân hóa bệnh lý của cái tôi, nhưng trong cá nhân hình thành một khe nứt bất an và mối quan hệ đơn giản giữa chủ thể và đối tượng trở nên bị xáo trộn. Ta hãy xem xét kỹ hơn hiện tượng này.

Phản ứng đặc trưng nảy sinh từ thái độ thứ nhất là sự ngạc nhiên, rằng Akropolis đang được nhìn thấy kia thật sự tồn tại, như thể trước đó sự hiện hữu thực sự của nó vốn bị nghi ngờ; ngược lại, phản ứng đặc thù của thái độ thứ hai là „ngạc nhiên vì sự ngạc nhiên đó”, bởi vì hiện thực Akropolis chưa bao giờ từng là đối tượng của hoài nghi.

Để minh họa cho thái độ thứ nhất, Freud nói rằng có thể so sánh nó, với đôi chút cường điệu, với phản ứng của một người đang lướt trên hồ Loch Ness ở Scotland thình lình nhìn thấy thân hình con quái vật nổi tiếng bị kéo lên bờ, khi ấy anh ta buộc phải công nhận: nó tồn tại thực sự, cái con quái vật biển mà ta chưa bao giờ tin ấy. Thái độ thứ hai, ngược lại, gần với chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, chấp nhận vô điều kiện chứng thực của các giác quan, hoàn toàn mở ngỏ và không bị xáo trộn bởi bất cứ phản chiếu nào của thích thú hay kinh sợ.

Diễn giải tự nhiên nhất của hai cảm giác „kình địch” này là khẳng định rằng có sự khác biệt cơ bản giữa điều ta trải nghiệm trực tiếp và điều ta được nghe hay biết qua sách vở, và rằng chính sự chồng lấp của kiến thức với sở thị dẫn đến những cảm giác mâu thuẫn đó cùng sự xáo trộn cảm nhận thực tại. Song Freud không chấp nhận diễn giải này bởi theo ông nó quá sáo mòn và chẳng giải thích được điều gì.

Freud cố gắng truy dấu tại sao ở Trieste ông lại chối bỏ viễn cảnh đi Athens hấp dẫn đến thế, và tại sao ở Akropolis niềm vui sướng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ trực tiếp với tuyệt tác kiến trúc lại bị bóng đen nặng nề của chủ nghĩa hoài nghi che phủ. „Theo chứng thực của các giác quan, giờ đây tôi đang ở Akropolis, chỉ là tôi không thể nào tin được điều đó”, hay chính cảm giác đó được thể hiện một cách rõ ràng hơn: „Điều bây giờ tôi đang nhìn thấy không phải là thực”.

Chủ nghĩa hoài nghi – chính xác là từ đó. Không chỉ là một từ – theo Freud – mà còn là điều gì đó lớn hơn nhiều, bởi đây là một cơ chế tâm lý ăn sâu trong con người. Chúng ta biết rõ hoạt động của cơ chế tâm lý này từ kinh nghiệm thông thường. Mỗi khi gặp bất hạnh, chúng ta cự tuyệt nó bằng tiếng kêu: „không, không thể thế được!”, như thể ta cố gắng loại trừ phần hiện thực này, chối bỏ nó khỏi phạm vi ý thức của chúng ta. Và tác giả dẫn ra một ví dụ văn học – trích đoạn trường ca „Ay de mi Alhama”, trong đó phản ứng phòng vệ này được biểu lộ rõ ràng. Vua Boabdil nhận được tin Alhama thất thủ. Ngài hiểu rõ rằng điều đó có nghĩa là vương triều của ngài chấm dứt. Song vì không muốn biết điều đó, ngài xử sự với tin chẳng lành như thể nó chưa đến được với mình, như thể việc chối bỏ nó có thể thay đổi được diễn biến tình hình.

Cartas le fueron venidas,
de que alhama era ganada
Las cartas echó en el fuego
y al mensagero mataba.

Có thể dễ dàng hiểu được hành xử và tâm trạng nhà vua. Đơn giản là ngài cố gắng chiến thắng sự bất lực của mình, chiến thắng cảm giác rằng quyền lực của ngài không còn vô biên như xưa nữa, bởi vậy ngài ném bức thư báo tin thất bại vào lửa và ra lệnh giết các sứ giả. Không thể thay đổi số mệnh, ngài hủy diệt phương tiện thông tin.

Phản ứng phòng vệ này không khó lý giải và có thể được minh họa bằng hàng loạt ví dụ ít cực đoan hơn, trong đời thường cũng như trong văn học, gần gũi hơn với kinh nghiệm thông thường. Freud chú ý đến mặt thứ hai của chính sự vận hành cơ chế tâm lý này, như ông khẳng định, cái mặt tối, phi lô gích và mâu thuẫn với bản năng sinh tồn. Và ông cố gắng chỉ ra rằng con người cũng phản ứng tương tự như trong trường hợp bất hạnh – nghĩa là chối bỏ hiện thực - khi đột nhiên gặp hạnh phúc bất ngờ, gặp vận may, phần thưởng lớn, được người con gái mình thầm yêu chấp nhận lời cầu hôn. Phản ứng này được biểu lộ rõ trong câu tục ngữ có mặt trong mọi ngôn ngữ châu Âu: „quá tốt đẹp nên không thể là thực”. Trong khi sự phòng vệ chống lại mệnh rủi là điều hiển nhiên, thì vì sao chúng ta lại có phản xạ hoài nghi và không tin vào điều mang lại niềm vui, là nụ cười của số phận – Freud hỏi. Ông gọi tình thế mâu thuẫn này là „tình thế thất bại bởi thành công” và cho rằng con người mắc bệnh không chỉ vì không đạt được những khao khát trong đời, mà cả khi những khao khát mãnh liệt được thỏa mãn.

Việc tự phân tích tâm lý này sẽ thiếu sót nếu cụ già tám mươi tuổi Sigmund Freud vào thời điểm viết bức-thư-tiểu-luận này không quay trở lại thời thơ ấu và thời hoa niên trong ký ức. Ông nhớ lại sự nghèo khổ của gia đình, không khí ngột ngạt, đầy cấm đoán, tuổi trẻ với các khả năng và chân trời bị hạn chế.

Không, Freud không bao giờ nghi ngờ sự tồn tại của Akropolis, nhưng ông chưa từng có chút hy vọng rằng khi nào đó mình sẽ được tận mắt nhìn thấy nó. Và trong cái ngày điều đó xảy ra, ông những muốn nói với em trai: „Em có nhớ thời trẻ của chúng mình không? Hàng ngày mình cứ mãi đi đến trường trên một con đường, còn chủ nhật thì đến Prater hoặc xó xỉnh nào mình biết rõ trong thành phố. Thế mà bây giờ mình đang ở Athens, trên đỉnh Akropolis! Mình đã trải qua chặng đường mới dài làm sao!” - „Và nếu có thể so sánh những điều nhỏ bé với những điều lớn lao – ông viết tiếp – liệu Napoleon I trong ngày lên ngôi ở Notre Dame có nói với em trai rằng: „Cha của chúng ta sẽ nói gì nếu bây giờ ông có thể có mặt ở đây nhỉ?”.”

Đó là biểu hiện của niềm vui sướng tự hào, nhưng nó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc và gần như ngay lập tức bị xáo trộn bởi ý thức về việc vượt qua điều cấm kỵ, việc hái trái cấm, cảm giác tội lỗi sâu thẳm. Cảm giác tội lỗi ư? Phải, Freud đáp.

Có lỗi với ai? Cha Freud là một tiểu thương không giàu có lắm, học vấn không nhiều, và Akropolis chẳng có mấy ý nghĩa đối với ông. Nhưng các con trai đã hơn cha. Họ thật quá vượt trội so với cuộc hiện sinh bình thường của ông, họ „truất ngôi” ông và chính trong sự xâm phạm vào thần tượng người cha này cần truy dấu cảm giác tội lỗi đó, cảm giác đã tước đoạt đi niềm vui lẽ ra phải là một phần của những người đang tiếp xúc với tuyệt tác nghệ thuật.

Tại đây xuất hiện những lời phê bình của Freud : „Phải chăng mặc cảm người cha đã ngấm hết hoàn toàn vào quan điểm của trường phái Freud và chứng minh rằng nó chẳng thực hiện được bất cứ sự giải phóng đáng kể nào cho con người khỏi thuyết định mệnh của „câu chuyện gia đình”? Mặc cảm này với tất cả sự cứng nhắc định mệnh của nó và tính dễ kích động thái quá là một chức năng tôn giáo bị hiểu sai...”.

Trong bức-thư-luận-văn được viết vào cuối đời này, có lẽ chủ nghĩa bi quan sâu sắc của tác giả thể hiện nhiều hơn ở các thư văn khác. Đây không chỉ là chủ nghĩa bi quan thuộc về nhận thức, mà còn liên quan đến ngay chính bản chất con người, đến sự bất lực căn bản của anh ta trong việc đạt được hạnh phúc.

*

Tôi cố gắng tóm tắt một cách khả dĩ trung thành dòng tư duy của người khởi thảo môn tâm lý học chuyên sâu trong thử nghiệm nhỏ qua thư của ông nhằm giải thích một hiện tượng tâm lý cụ thể. Bởi thử nghiệm này được viết ra tuyệt hay và đầy khơi gợi, tôi bắt đầu suy nghĩ xem mình đã từng gặp điều gì đó tương tự hay chưa. Giống như khi đọc những cuốn sách giáo khoa bệnh học tâm thần, ta nhận ra ở mình, qua thấu cảm, những căn bệnh khác nhau được mô tả trong đó.

Trước hết tôi tự hỏi cảm giác tội lỗi của tôi trước các tuyệt tác như thế nào. Câu trả lời không hề dễ dàng, sự thú nhận đánh thức con quỷ của chủ nghĩa chủ quan, bắt ta phải nghĩ về thời thơ ấu, về những thất bại trong cuộc sống hay những người yêu dấu đã vắng xa, những người thân đã khuất của chúng ta, những người không được chia sẻ niềm vui sướng tuôn trào khi ta được trải nghiệm những điều đẹp đẽ.

Và nó là thế này: khi đứng ở Akropolis, tôi tưởng đến linh hồn những người bạn thua thiệt của mình, thương tiếc cho số phận họ, không phải vì tử thần nghiệt ngã, mà thương cảm vì họ đã bị tước đoạt mất sự huy hoàng vô tận của thế giới. Tôi đã gieo một hạt anh túc lên nấm mồ bị lãng quên.

Sở dĩ tôi dẫu sao cũng đã không bị rơi vào chủ nghĩa hoài nghi mà Freud miêu tả, vào nỗi xáo trộn của niềm tin về sự tồn tại thực sự của những gì tôi nhìn thấy, thì đó là vì một số nguyên nhân chính. Một khi tôi đã được chọn – tôi nghĩ – và điều đó chẳng vì công lao gì sất, được chọn trong trò chơi số phận mù lòa, vậy thì tôi phải ban cho lựa chọn đó một ý nghĩa, tước đi tính ngẫu nhiên và tùy tiện của nó. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là đối đầu với sự lựa chọn và biến nó thành của tôi. Tưởng tượng rằng tôi là người đại diện hoặc đại biểu của tất cả những người đã không được toại nguyện. Và giống như khi là người đại diện hay đại biểu, phải quên chính mình đi, dốc ra tất cả sự nhạy cảm và năng lực hiểu của mình, để Akropolis, các giáo đường, Mona Lisa tái diễn trong tôi, dĩ nhiên trong chừng mực giới hạn của trí óc và trái tim tôi. Và để tôi có thể truyền đạt lại cho người khác những gì mình lĩnh hội được từ chúng.

Việc mình luôn cảm thấy không tự tin trước các tuyệt tác, tôi cho là chuyện tự nhiên. Các tuyệt tác có cái quyền tốt đẹp là phá vỡ lòng tự tin kiêu ngạo và truy vấn tầm quan trọng của chúng ta. Chúng lấy đi một phần hiện thực của tôi, bắt tôi phải im lặng và ngừng tất bật vì những chuyện linh tinh, ngu ngốc. Chúng cũng không cho phép „tôi – như thánh Thomas More nói - cứ lúng túng mãi quanh chuyện vượt lên một thứ được gọi là „cái tôi” „. Nếu chấp thuận gọi tất cả những điều này là cuộc giao dịch, thì đó là một giao dịch có lợi nhất có thể. Vì sự khiêm nhường và yên lặng, các tuyệt tác đổi cho tôi „mật ngọt và ánh sáng” mà tự tôi không thể tạo ra trong chính mình.

Một trong những tội lỗi chí tử của văn hóa đương đại là nó tránh đương đầu trực tiếp với các giá trị tối cao, cũng như lòng tin đầy ngạo mạn rằng chúng ta có thể tồn tại không cần các khuôn mẫu (thẩm mỹ cũng như đạo đức), bởi vị thế của chúng ta trong thế giới được cho là phi thường và không gì sánh được. Chính vì vậy ta chối bỏ sự trợ giúp của truyền thống, bì bõm trong nỗi cô đơn của mình, đào bới trong những ngóc ngách tăm tối của linh hồn bé mọn bơ vơ.

Một quan điểm sai lầm đang tồn tại là truyền thống giống như khối tài sản thừa kế và người ta thừa kế nó một cách máy móc, không cần gắng sức, bởi vậy những người phản đối việc thừa kế cùng những ưu tiên vô lý đứng ra phản đối truyền thống. Trong khi đó, mỗi tiếp xúc với quá khứ thực chất đòi hỏi nỗ lực, công sức, do đó nó khó khăn và không thú vị, bởi „cái tôi” nhỏ bé của chúng ta kêu lên và tự vệ trước điều đó.

Tôi luôn tha thiết muốn giữ niềm tin rằng các tác phẩm tinh thần vĩ đại khách quan hơn chúng ta. Và chúng sẽ phán xét chúng ta. Ai đó đã nói rất chí lý rằng không chỉ chúng ta đọc Homer, xem bích họa Giotto, nghe Mozart, mà Homer, Giotto và Mozart đang chăm chú nhìn, nghe chúng ta, khẳng định sự phù phiếm và ngu ngốc của chúng ta. Những kẻ không tưởng tội nghiệp, những kẻ đốt đền, những kẻ thanh lý quá khứ giống như những kẻ điên tàn phá các tác phẩm nghệ thuật, bởi họ không thể tha thứ cho sự bình yên, phẩm giá và hơi mát tỏa ra từ chúng.

(Thái Linh dịch từ tập tiểu luận "Mê cung bên bờ biển", Nhà xuất bản Tập san Văn học, Warszawa 2000)

Tuesday, 27 March 2012

Chiếc giường của Spinoza (Zbigniew Herbert)

Có một điều lạ là trong ký ức chúng ta, hình ảnh các triết gia được khắc ghi sâu sắc nhất vào giai đoạn cuối đời của họ. Socrates nâng ly độc cần lên môi, Seneca đang được người nô lệ mở phanh mạch máu (Rubens có một bức họa như thế), Descartes lang thang giữa các căn phòng lạnh lẽo trong lâu đài với dự cảm rằng vai trò gia sư cho hoàng hậu Thụy Điển sẽ là vai cuối của mình, ông lão Kant ngửi chút bột cải ngựa trước khi bắt đầu cuộc đi dạo thường nhật (cây gậy chống phía trước lún mỗi lúc một sâu hơn xuống cát), Spinoza bị căn bệnh lao phổi hành hạ đang nhẫn nại mài mắt kính, ông đã yếu tới mức không thể kết thúc Luận cương về cầu vồng... Một phòng trưng bày những nhân vật cao quý đang đi vào cõi chết, các mặt nạ nhợt nhạt, những cái khuôn thạch cao.

Trong mắt các nhà viết tiểu sử, Spinoza luôn là một nhà hiền triết mẫu mực – ông tập trung hết sức vào cấu trúc minh bạch của tác phẩm mình, tuyệt đối thờ ơ với những chuyện vật chất, hoàn toàn thoát khỏi các ham muốn. Nhưng có một tình tiết trong cuộc đời ông mà một số người im lặng lờ đi, còn với một số khác là sự quá quắt khó hiểu của tuổi trẻ.

Đó là vào năm 1656, cha Spinoza qua đời. Baruch bị người trong gia đình xem là kẻ lập dị, một gã trai thiếu thực tế, tiêu tốn thời gian quý giá vào việc nghiên cứu đám thư sách khó hiểu. Nhờ một âm mưu quỷ quyệt mà đầu trò là người chị cùng cha khác mẹ Rebecca và chồng cô ta Casseres, người ta đã tước quyền thừa kế của Spinoza, với hy vọng chàng trai trẻ lãng trí thậm chí chẳng nhận ra chuyện đó. Nhưng mọi chuyện lại xảy ra khác hẳn.

Baruch thưa kiện ra tòa với một sức mạnh không ai ngờ; anh mời các trạng sư, gọi các nhân chứng, tháo vát đâu ra đấy và đầy nhiệt tình, biết rõ hoàn hảo về từng tình tiết nhỏ nhặt nhất của thủ tục, vào vai người bị tước quyền lợi và người con bị hại một cách đầy thuyết phục.

Việc phân chia bất động sản được tiến hành khá nhanh (có các quy phạm pháp luật rõ ràng về phần này). Nhưng phần hai của tố tụng diễn ra đầy bất ngờ, khiến ai nấy căm phẫn và hổ thẹn.

Baruch – như bị ma xui quỷ khiến – bắt đầu đòi hỏi hầu hết mọi thứ trong ngôi nhà của cha. Bắt đầu từ cái giường, mà mẹ anh Debora đã qua đời trên đó (anh cũng không quên những tấm màn màu ô liu sậm). Rồi anh đòi những thứ chả có giá trị gì, giải thích đó là vì sự gắn bó tình cảm. Tòa án ngán ngẩm vô cùng, không sao hiểu nổi vì đâu mà gã trai khổ hạnh kia lại ngoan cố muốn thừa kế cái que cời, chiếc bình thiếc sứt quai, cái bàn bếp tầm thường, bức tượng mục đồng cụt đầu, cái đồng hồ hỏng trong hành lang đã thành ổ chuột, hay bức tranh treo trên lò sưởi, đen sạm đến nỗi trông như bức tự họa của hắc ín.

Rồi Baruch thắng kiện. Giờ đây anh có thể tự hào ngồi lên đống chiến lợi phẩm của mình, ném cái nhìn khiêu khích vào những kẻ đã ra sức tước quyền thừa kế của anh. Nhưng anh không làm điều đó. Anh chỉ chọn cái giường của mẹ (cùng các bức màn màu ô liu sậm) – và tặng những thứ còn lại cho những kẻ thua kiện.

Không ai có thể hiểu vì sao anh làm vậy. Tất cả dường như là một sự quá quắt rành rành, thực chất lại mang đầy ý nghĩa sâu sắc. Đúng vậy, như thể Baruch muốn nói rằng đức hạnh hoàn toàn không phải là nơi nương náu của những kẻ yếu đuối, mà hành động từ bỏ là hành động can đảm của những người hy sinh những thứ đáng thèm muốn thông thường (với không thiếu do dự và luyến tiếc) cho những việc khó hiểu và lớn lao. 

(Thái Linh dịch từ tập "Tĩnh vật với chiếc cương ngựa, NXB Tập san Văn học, Warszawa 2003)

Saturday, 10 March 2012

Bức thư (Zbigniew Herbert)

Bức thư tình, sơn dầu, Jan Vermeer

Thái Linh dịch

Bức thư được tình cờ phát hiện vào nhưng năm hai mươi, đích xác là năm 1924, trong một tiệm đồ cổ ở Leiden. Ba tờ giấy ngà ngà cỡ 11,5 x 17 xăng-ti-mét, với những vết hoen ố vì ẩm ướt, nhưng nét chữ vẫn giữ được tốt, chữ nhỏ, rõ ràng và rất dễ đọc. Không rõ ai đó đã dán bức thư vào mặt trong bìa cuốn tiểu thuyết diễm tình Hiệp sĩ thiên nga một thời rất nổi tiếng, do nhà sách Coola ở Amsterdam xuất bản năm 1651.

Đa số các nhà nghiên cứu (Isarlo, Gillet, Clark, de Vries, Borrero, Goldschneider) biểu lộ sự hoài nghi về phát hiện này, duy chỉ có nhà sử học, nhà thơ trẻ tuổi người Utrecht là van der Velde đã bảo vệ quyết liệt đến cùng tính xác thực của bức thư  (mở ngoặc nói thêm, anh đã bị đâm bằng dao không xa Scheveningen trong những hoàn cảnh bí ẩn). Tác giả của nó – theo nhà nghiên cứu trẻ tuổi - không ai khác chính là Johannes Vermeer, còn người nhận là Antonie van Leeuvenhoek, nhà tự nhiên học nổi tiếng về những cống hiến trong lĩnh vực hoàn thiện kính hiển vi. Cả hai, nhà bác học và người nghệ sỹ, đều sinh cùng năm, cùng ngày, và suốt cuộc đời đều sống ở cùng một thành phố.

Bức thư không có dấu vết sửa đổi hay những can thiệp sau này, nhưng có hai lỗi chính tả ngộ nghĩnh và một vài chữ viết sai thứ tự, thấy rõ là nó được viết vội vàng. Vài dòng bị gạch đi, một cách dứt khoát và mạnh mẽ tới mức chúng ta sẽ không bao giờ biết được những ý nghĩ điên rồ hay đáng xấu hổ nào ẩn trong màu mực đen.

Nét chữ (những chữ v nhọn viết như hình số tám mở, dáng chữ hơi khấp khểnh, như thể ai đó đang bước vội đột nhiên dừng lại) cho thấy sự giống nhau đến kinh ngạc nếu không nói là y hệt với chữ ký duy nhất còn giữ được của Vermeer trong sổ đăng ký của Hội Thánh Luca năm 1662. Các phân tích hóa học giấy và mực cho phép xác định niên đại của tài liệu là nửa sau thế kỷ XVII, tất cả cho thấy bức thư có thể do chính tay Vermeer viết, nhưng vẫn thiếu những bằng chứng không thể bác bỏ. Chúng ta đều rõ rằng những vụ giả mạo hoàn hảo về kỹ thuật vẫn xảy ra.

Tất cả những người phủ nhận tính xác thực của tài liệu đã đưa ra rất nhiều lập luận, nhưng thành thật mà nói chẳng mấy thuyết phục. Sự cẩn trọng khoa học, thậm chí là chủ nghĩa hoài nghi sâu sắc, hiển nhiên là những tính chất đáng biểu dương, song có thể ngầm cảm thấy rằng các chỉ trích chủ yếu do nội dung bức thư gây nên – điều không ai nói trắng ra. Giả sử Vermeer viết thư cho mẹ vợ, bà Maria Tins, xin vay 100 Flo-ring nhân dịp làm lễ rửa tội cho con trai Ignatius, hay đề nghị cầm một trong số các bức tranh của mình cho bác thợ nướng bánh van Buyten để thế số nợ lay lắt kéo dài, thì tôi cho rằng sẽ chẳng ai lên tiếng phản đối. Nhưng khi Thinh lặng Vĩ đại tự mình lên tiếng sau hai thế kỷ rưỡi, mà điều nó nói vừa là tuyên ngôn và thú nhận riêng tư, vừa là lời tiên tri – thì chúng ta không muốn chấp nhận điều đó, bởi trong chúng ta có nỗi sợ hãi sâu xa trước thiên khải và sự bất thuận với phép màu.

Và đây là bức thư:

„Hẳn là anh ngạc nhiên khi tôi lại viết thư mà không đến thẳng nơi làm việc của anh, như thường thấy, vào lúc xẩm tối. Song tôi nghĩ rằng mình không đủ can đảm, không thể nhìn thẳng vào mắt anh để nói những điều mà anh lát nữa anh sẽ đọc.

Tôi những muốn không viết bức thư này. Tôi đã phân vân rất lâu, bởi thực sự không muốn làm tổn thương tình bạn lâu năm của chúng ta. Song có những việc quan trọng hơn tình gắn bó của chúng ta, quan trọng hơn Leeuvenhoek, quan trọng hơn Vermeer.

Cách đây mấy hôm anh cho tôi xem giọt nước bằng chiếc kính hiển vi mới của mình. Tôi đã luôn nghĩ rằng nó tinh khiết như thủy tinh, vậy mà trong đó lúc nhúc các sinh vật kì dị như nơi địa ngục trong suốt của Bosch. Khi cho tôi xem, anh đã theo dõi sự khiếp đảm của tôi một cách hài lòng, tôi cảm thấy vậy. Chúng ta đã im lặng. Rồi sau đó anh nói rất từ tốn và rành mạch: „Nước là thế đấy, anh bạn thân mến ạ, là thế chứ không có gì khác.”

Tôi hiểu qua đó anh muốn biểu lộ điều gì: chúng tôi, các nghệ sĩ, chúng tôi chỉ ghi lại những cái bề ngoài, ghi lại cuộc sống của những cái bóng, những bề mặt vụn gãy của thế giới, mà không có can đảm và tài năng để thấu đạt bản chất sự vật. Chúng tôi, dường như có thể nói, chỉ là những người thợ thủ công làm việc với các chất liệu ảo tưởng, trong khi anh và những người như anh – các anh là những bậc thầy của chân lý.

Như anh biết, cha tôi có cái quán „Mechelen” ngoài bãi chợ. Một người thủy thủ già hay lui tới đó, ông đã đi khắp thế giới từ Madagascar đến Biển Bắc – tôi nhớ ông rất rõ – lúc nào ông cũng chuyếnh choáng say, nhưng ông kể chuyện thật tuyệt và mọi người đều thích nghe ông. Ông là một thứ hấp dẫn của quán, kiểu như một bức tranh rực rỡ hay một con thú lạ. Một trong những câu chuyện ưa thích của ông kể về hoàng đế Trung hoa Tần Thủy Hoàng.

Số là vị hoàng đế này ra lệnh bao bọc đất nước bằng một bức tường dày, để rào ngăn với những gì khác lạ, và đốt hết thư sách để không nghe thấy được những giọng nói nhắc nhở của quá khứ. Mọi thực hành nghệ thuật đều mang tội chết. (Sự vô dụng hoàn toàn của chúng hiển lộ với tất cả lòe loẹt so với những việc nước quan trọng khác, như xây thành hay xử trảm đám phiến quân). Khi đó các nhà thơ, họa sĩ và nhạc sĩ phải trốn vào núi hay vào các ngôi chùa hẻo lánh, sống ngoài vòng pháp luật, bị bầy mật thám săn đuổi. Hàng đống tranh, quạt, tượng, gấm vóc, xa xỉ phẩm hay những thứ đồ được xem là đẹp, bị đốt cháy trên các quảng trường. Trẻ con, đàn bà, đàn ông mặc tuyền màu xám như nhau. Hoàng đế thậm chí còn gây chiến với hoa, ra lệnh rải đá lên các mảnh đất trồng chúng. Một chiếu chỉ đặc biệt quy định rằng khi mặt trời lặn, tất cả mọi người phải ở nhà, kéo rèm đen che kín cửa sổ, bởi anh cũng biết đấy, gió, những đám mây và ánh chiều tà có thể vẽ nên những bức tranh cuồng dã thế nào.

Hoàng đế chỉ coi trọng kiến thức và các học giả được rắc lên người hàng núi vàng. Các nhà chiêm tinh hàng ngày đem đến cho hắn tin tức về việc phát hiện ra một vì sao thực hay ảo mà người ta lấy hiệu của hoàng đế để đặt tên, tới mức chẳng bao lâu cả bầu trời nhung nhúc những chấm sáng Tần Thủy Hoàng I, Tần Thủy Hoàng II, Tần Thủy Hoàng III v.v. và v.v. Các nhà toán học vừa đánh vật với việc tìm ra những hệ số mới, những phương trình phức tạp, những hình hình học không thể tưởng tượng nổi, vừa biết rõ công việc của mình là vô vọng và chả đem lại lợi ích cho ai. Các nhà tự nhiên học hứa hẹn rằng họ sẽ trồng được thứ cây ngọn đâm vào đất còn rễ thì vươn lên tới trời, cũng như thứ hạt lúa mì to bằng nắm tay.

Cuối cùng, hoàng đế khao khát sự bất tử. Các danh y làm những thí nghiệm tàn bạo lên người và động vật để tìm ra bí mật về trái tim vĩnh cửu, lá gan vĩnh cửu, lá phổi vĩnh cửu.

Khi đó hoàng đế muốn thay đổi cả thiên địa càn khôn, để tên hắn được ghi khắc vào ký ức của các thế hệ mai sau. Hắn không hiểu rằng, cuộc sống của một người dân làng, một người buôn rau hay một người thợ chữa giày bình thường còn đáng kính trọng và ngưỡng mộ hơn nhiều – ngược lại chính hắn sẽ trở thành một chữ cái xanh xao, một trong vô số các biểu tượng nhạt nhẽo lặp đi lặp lại của điên cuồng và cường bạo.

Ngần ấy tội ác, ngần ấy tàn phá hắn đã gây ra trong tâm hồn và tư tưởng con người, vậy mà cái chết của hắn lại nhàm chán khủng khiếp. Hắn nghẹn hột nho mà chết. Để quét dọn hắn khỏi mặt đất, thiên nhiên đã chẳng buồn gắng sức làm một cơn bão hay trận lụt.

Anh hẳn sẽ hỏi tôi kể cho anh nghe tất cả những thứ này để làm gì và câu chuyện về vị hoàng đế xa xôi lạ lẫm kia liên hệ thế nào với giọt nước. Tôi trả lời anh, chắc chắn không được sáng sủa rõ ràng lắm, với hy vọng anh sẽ hiểu lời của một con người đầy những dự cảm chẳng lành và bất an.

Vâng, tôi e sợ anh và những người như anh đang lên đường trong một chuyến đi nguy hiểm có thể mang đến cho nhân loại không chỉ lợi ích mà cả những thiệt hại lớn lao không thể cứu vãn. Anh thấy chăng, các phương tiện và công cụ quan sát càng hoàn hảo thì cứu cánh càng trở nên xa vời và mơ hồ. Cùng với mỗi phát minh mới, một vực thẳm mới lại mở ra. Chúng ta trở nên ngày càng cô đơn hơn trong vũ trụ bí ẩn trống rỗng.

Tôi biết, các anh muốn đưa loài người ra khỏi cái mê cung của mê tín và sự may rủi, các anh muốn mang lại cho họ kiến thức và một sự bảo vệ chắc chắn, sáng sủa và duy nhất – theo các anh – trước nỗi sợ hãi và bất an. Nhưng nó có thực sự đem đến giải thoát hay không, nếu chúng ta đem thay thế từ „Thượng đế” bằng từ „tất yếu”?

Anh có thể chê rằng nghệ thuật của chúng tôi chẳng giải đáp được bất kỳ câu đố nào của tự nhiên. Nhưng sứ mệnh của chúng tôi không phải là giải câu đố, mà là ý thức được chúng, nghiêng đầu trước chúng và chuẩn bị cho đôi mắt trước những ngây ngất và ngạc nhiên không ngừng. Nếu anh vẫn cho rằng các phát minh là quan trọng, thì tôi xin thưa rằng tôi tự hào về việc mình đã kết hợp được một loại màu xanh cô-ban đặc biệt đậm cùng với màu vàng chanh sáng, cũng như ghi lại được sự phản chiếu của ánh sáng ban chiều hắt vào thủy tinh dày hay vào bức tường xám.

Công cụ chúng tôi sử dụng cổ sơ về bản chất – cái que có gắn nhúm lông cứng ở đầu, tấm ván hình chữ nhật, màu, dầu - và chúng tôi không thay đổi chúng từ hàng thế kỷ nay, cũng giống như cơ thể và bản chất con người không thay đổi. Nếu tôi hiểu đúng sứ mệnh của mình, thì đó là việc hợp nhất con người và hiện thực xung quanh anh ta, bởi vậy tôi và những người anh em như tôi lặp đi lặp lại đến vô cùng không biết bao lần bầu trời và những đám mây, chân dung các thành phố và con người – toàn bộ cái vũ trụ đầy vụ lợi này, bởi chỉ ở trong nó chúng tôi mới cảm thấy an toàn và hạnh phúc.

Con đường của chúng ta sẽ chia đôi ngả. Tôi biết tôi không đủ thuyết phục anh và anh sẽ không chán việc đánh bóng các mắt kính cũng như việc xây tháp Babel của mình. Nhưng xin anh cho phép cả chúng tôi nữa cũng được thực hiện công việc cổ lỗ của mình, được nói với thế giới những lời hợp nhất, nói về niềm vui của sự hài hòa tìm thấy được, về niềm khao khát tình tương ái muôn đời.

(Trích từ tập tiểu luận "Tĩnh vật với chiếc cương ngựa", NXB Tập san Văn học, Warszawa 2003)


Saturday, 1 May 2010

Những chiếc khuy (Zbigniew Herbert)

(tưởng nhớ đại tá Edward Herbert)


Chỉ những chiếc khuy rắn đanh, bất khuất
Những chứng nhân của tội ác tày trời
Từ lòng sâu trồi lên mặt đất
Là tượng đài trên mộ mà thôi

Chúng là chứng nhân để Đức Chúa Trời
Sẽ nhìn tới và rủ lòng thương họ
Nhưng biết làm sao phục sinh từ lòng mộ
Khi những tấm thân đã thấm quyện đất rồi

Một cánh chim vút qua áng mây trôi
Chiếc lá rơi, hoa cẩm quỳ nảy lộc
Và tĩnh lặng trên tầng không vô tận
Rừng Katyń sương phảng phất mơ hồ.

Chỉ những chiếc khuy không cong lại bao giờ
Âm hùng tráng của những dàn đồng ca câm lặng
Chỉ những chiếc khuy rắn đanh, bất khuất
Những chiếc khuy trên áo choàng và trang phục quân nhân.

(Thái Linh dịch)