Showing posts with label Chopin. Show all posts
Showing posts with label Chopin. Show all posts

Saturday, 9 February 2013

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối



(Thái Linh dịch)


Prelude Rê thứ (prelude cuối cùng của opus 28) cũng chịu một số phận vô cùng hẩm hiu. Dấu nối legato nối các nốt nhạc cách xa nhau đến chóng mặt. Ở đây cũng vậy, trong phần giai điệu không hề có bất cứ sự tinh tế nào, thay vào đó là phản chiếu của sự bất khả kháng mà bè trầm thô bạo nhấn mạnh một cách gớm guốc. Phần giữa hợp âm rải của bè trầm chủ đạo trong chín nhịp đầu tiên ban đầu được đánh dấu là ngân, nghĩa là được đánh dấu đồng thời ở nốt móc hai và nốt đen. Nốt đen ngừng xuất hiện từ nhịp thứ mười.

Tôi những muốn biết chỉ dẫn này (và sau đó là việc bỏ nó đi) có xuất phát từ Chopin hay không. Tôi cho rằng sẽ thú vị nếu trở lại với nó ở những chỗ khác nhau trong bản nhạc, nghĩa là xem nốt thứ hai như nốt ngân. Một số bản in chỉ dẫn chơi staccato nốt cao của giọng thứ hai, nốt thứ năm trong mỗi nhóm, hay ít ra là chơi portato. Điều này có thể thực hiện được. Ôi, bao giờ chúng ta mới có được những bản in nhạc Chopin chuẩn, theo đúng những bản chép tay của ông? Tôi đã được nghe vài lần prelude này – gấp gáp như thường lệ, khi nhóm năm nốt nhạc lặp đi lặp lại bị rút xuống thành một thứ tiếng rì rầm nhộn nhạo – người chơi dường như e ngại sự đơn điệu, sợ cái sự xấu xí chủ tâm, chỉ còn duy nhất cách nhấn mạnh một cách nhẫn tâm nhịp điệu của năm nốt ấy bằng một nhịp khác, cũng tàn nhẫn, nhấn bằng nốt trầm thấp nhất (thường là âm chủ), lặp lại như nhát búa gõ nhịp hoàn hảo, chia nhịp sáu này ra làm bốn, nghĩa là tạo ra nhịp thứ hai hoàn toàn không phụ thuộc gì vào nhịp thứ nhất.



Tôi vốn phản đối cực lực ý kiến phổ biến về nỗi u sầu hoài nhớ trong nhạc Chopin, trong thứ âm nhạc mà tôi không biết bao lần đã bắt gặp biểu hiện của niềm vui cao nhã tuyệt vời nhất. Nhưng trong hai prelude này tôi chỉ tìm thấy nỗi tuyệt vọng đen tối nhất. Đúng vậy, sự tuyệt vọng, từ „u sầu” ở đây không có nghĩa lý gì, đó là cảm xúc bất khả kháng, hai lần bị ngắt quãng trong những nhịp cuối cùng của Prelude Rê thứ, lặp lại lần thứ hai một cách chấn động ở nhịp điệu run rẩy bồn chồn tựa như tiếng khóc thổn thức, cảm xúc sau đó bị bôi xóa bằng nét lướt tàn nhẫn cuối cùng kết thúc fortissimo ở đâu đó sâu thẳm kinh hoàng, chạm thấu đáy địa ngục.



Prelude Fa thăng thứ op.28 no 8, như nhiều bản nhạc khác của Chopin, mang tính chất perpetuum mobile. Từ đầu đến cuối bản nhạc không có điểm dừng nào, tuy nhiên ở đây các câu nhạc rất rõ ràng, mặc dù chúng liên quan chặt chẽ với nhau. Dẫu prelude này có nhịp nhanh, tôi vẫn thích bắt đầu chơi nó hơi rụt rè một chút, nhấn mạnh mô típ chính một cách rõ ràng và sáng sủa và như tò mò chờ xem chính Chopin sẽ trở nên thế nào. Câu đầu, như thường thấy ở Chopin, được lặp lại với một kết thúc khác. Thực sự là, cho dù tác phẩm này là một bản nhạc được soạn hoàn hảo thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ cho nó cái vỏ ngoài của một khúc phóng túng, tôi muốn thuyết phục về ấn tượng từng bước khám phá, lần lần tiến vào miền chưa biết. Các nhóm nốt móc ba, mặc dù được viết nhỏ, không thể chơi pianissimo như những nét hoa mỹ thông thường. Tôi ưa chơi chúng với âm thanh mạnh như những nốt nhạc được chơi bằng ngón cái; chỉ cần hơi ngân nốt nhạc này là đủ để mang lại nó cái ưu thế mà nó có, một khi nó là cơ sở cho tất cả các nốt còn lại. Tôi những muốn nhóm sáu nốt nhạc lớn (được lặp lại một cách cực đoan trong quãng tám) được xem như một khối, mỗi khối cận kề chặt chẽ với khối tiếp theo. Những nét hoa mỹ này, như thể xuất phát từ nốt nhạc đầu tiên, tương tự như giọng hòa âm, hình thành âm thanh, làm rõ nét giọng điệu không ngừng thay đổi và hợp nhất với nốt nhạc chính. Nếu nốt nhạc chính vang lên quá rõ, bản nhạc chỉ trở nên lóng lánh, là một giai điệu dễ dãi, nhưng mất đi toàn bộ sức hút và ý nghĩa. Ngược lại, nếu cho tất cả các nốt nhạc một cường độ âm thanh như nhau, prelude này lại khiến người ta thán phục như một trong những bản nhạc đẹp nhất của tập.

Nếu như tôi vẫn lên án rằng phần lớn các tác phẩm của Chopin bị chơi với nhịp quá nhanh, thì cũng tôi phải nói rằng Prelude Si thứ bị chơi quá chậm. Dường như người ta cố gắng khiến cho nó trở thành u sầu, càng u sầu càng tốt...Tôi nhớ đã nghe nó được chơi làm nền cho giọng đọc thơ Baudelaire. Điều này làm hại cả nhạc lẫn thơ. Ta hãy để sáng kiến này lại đó cho những người thực ra chẳng yêu thơ cũng chẳng yêu nhạc.



Không đi sâu vào chủ đề âm nhạc mô phỏng, sự lặp lại một cách đầy ngoan cố trong Prelude Si thứ nốt nhạc cao (âm chủ) và các âm át trong Prelude Rê trưởng phải mạnh và rõ, vô tình với giai điệu lẩn trong nó; đơn điệu, tàn nhẫn như giọt nước mưa rơi không ngừng, như sức mạnh thiên nhiên vô tình với cảm xúc con người, và qua đó gột bỏ hết mọi sự tinh vi và cường điệu.

Để thực sự thưởng thức âm nhạc, tôi không thấy cần cảm thụ nó thông qua văn học hay hội họa, và „ý nghĩa” của bản nhạc chẳng có nghĩa gì mấy với tôi. Nó bóp nghẹt bản nhạc và làm phiền tôi. Bởi vậy mặc dù công nhận Schhubert, Schumann hay Faurégo đều quan trọng như nhau, tôi vẫn thích âm nhạc không có lời hơn cả, nhất là âm nhạc thần bí của những buổi tế lễ. Âm nhạc thoát ra khỏi thế giới vật chất và cho phép chúng ta cũng thoát khỏi nó. Nếu như có một số prelude (giọng Sol trưởng và Fa trưởng) không gợi ra bất cứ phong cảnh nào, thì tiếng rì rầm của bè trầm trong prelude thứ nhất và giọng cao nhất trong prelude thứ hai khiến tôi không ngừng liên tưởng đến tiếng rì rào của dòng sông đang chảy. Trong prelude thứ nhất cũng như thứ hai, những nốt nhạc đầu tiên rút gọn thứ mà ta không còn dám gọi là giai điệu đến cấu trúc đơn giản nhất, dường như được tiếng rì rầm này gây ra và như bắt nguồn ngẫu hứng từ nó. Trong Prelude Sol trưởng (op.23 no 3) đó thậm chí là những nốt y hệt, chỉ cách xa nhau hơn, như sự gọi mời kín đáo và tế nhị biểu hiện trong phần đệm chập chờn này. Nên để ý đến nó và tạo ra cảm giác tinh tế hầu như không thể nhận thấy, mà điều đó là bất khả nếu chơi prelude này với nhịp nhanh khó chịu như những nghệ sỹ trình diễn vẫn làm. Thật thoải mái làm sao! Trong cả bản này lẫn bản kia ta chỉ vừa mới bỏ điệu mở đầu để sang điệu khác, rất giống, trong khoảnh khắc đã trở lại ngay với điệu ban đầu. Ở đây Chopin từ bỏ mọi sự tế nhị dịu dàng, từ bỏ các sắc thái bí ẩn của những điệu khác, điều mà ông sẽ đẩy toàn bộ phần âm nhạc sau này vào, mặc dù trước đó ông đã làm sửng sốt, đôi khi chọc tức người đương thời. Tôi khâm phục việc khi chối bỏ mọi uyển ngữ và mánh khóe, âm nhạc của Chopin càng riêng biệt tới mức khó có thể hình dung mấy nhịp này do bất kỳ ai khác viết ra. Ông càng là Chopin khi càng ít cố gắng là Chopin. Không hề có một phép tu từ, không hề có khát khao thổi phồng ý tưởng âm nhạc và khai thác gì nhiều hơn từ đó, mà trái lại, khao khát giản lược đến cùng cực sự biểu lộ của nó và hướng đến hoàn hảo.

(Hết)

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3




Sunday, 4 December 2011

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3

Thái Linh dịch




Như thường thấy trong nhạc Chopin - và điều này cần phải nói ngay, khi mà nó ứng với chính tác phẩm này (Prelude no.1 in C major - ND) hơn bất cứ ở đâu khác – người chơi thường lấy nhịp quá nhanh (ở đây là nhanh hơn một nửa). Vì sao? Có thể bởi nhạc Chopin tự nó không quá khó và dương cầm thủ muốn được đánh giá cao, như thể khi đạt được một ngón nghề – chơi nhanh là nghệ thuật khó hơn chơi chậm rất nhiều. Nhưng trước hết là do truyền thống. Người chơi đàn nào rốt cuộc dám táo bạo chơi nhạc Chopin đúng nhịp phù hợp (mà điều này cần một sự can đảm nhất định), nghĩa là chậm hơn nhiều so với người ta vẫn chơi theo truyền thống, người ấy sẽ hiểu được nó theo cách có thể khiến thính giả xúc động ngây ngất, nỗi xúc động xứng đáng dành cho Chopin. Bằng cách chơi theo truyền thống, như những người trình diễn vẫn chơi, ở Chopin chỉ còn lại tính hiệu quả. Những thứ khác đều bị tuột đi mất, mặc dù đó mới là những điều quan trọng hơn cả: chính sự bí ẩn của tác phẩm, nơi không được phép xem nhẹ bất kỳ nốt nhạc nào, nơi không xuất hiện bất cứ phép tu từ, bất cứ sự rườm rà dư thừa nào, nơi không có bất cứ thứ gì chỉ là sự lấp đầy thông thường như vẫn thấy trong âm nhạc của các nhà soạn nhạc khác, ngay cả ở những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất.

Trong điện ảnh, chúng ta có thể chạm đến vẻ quyến rũ ngỡ ngàng ở những cử động quay chậm của con người hay chuyển động của thú vật, vẻ quyến rũ không thể nắm bắt được nếu đó là chuyển động nhanh. Vấn đề không phải là làm nhịp chậm đến cực đoan trong nhạc Chopin (mặc dù đây là điều khả thi). Vần đề đơn giản chỉ là không làm nó nhanh hơn, để nó lại trong nhịp điệu tự nhiên, thoải mái như hơi thở. Tôi những muốn đề câu thơ nổi tiếng của Valery trên đầu tác phẩm Chopin:

Có nghệ thuật nào tinh tế hơn
Sự chậm rãi này chăng?...

Hiển nhiên, nhiều tác phẩm của Chopin có nhịp nhanh kinh hoàng (đặc biệt là các scherzo và phần kết các bản sonata), nhưng thông thường người trình diễn chơi hầu hết các bản nhạc Chopin một cách nhanh nhất có thể, không tạo ra sự khác biệt giữa chúng. Và tôi cho rằng đây chính là điều kinh khủng. Dù sao đi nữa, câu thơ của Valery không ứng vào bất cứ đâu đau đớn hơn như ở Prelude đầu tiên này.

Thêm vài lời về Prelude đầu tiên: giai điệu – điều này chúng ta sẽ tìm thấy vài ví dụ khác trong các tác phẩm của Chopin - kiên trì phản chiếu ở một quãng tám cao hơn, tinh tế và lôi cuốn đến mức cho phép một người chơi đàn nhạy cảm nhấn mạnh các chỉ dẫn chơi căn bản, và bằng cách ấy khai triển tiết nhạc.

Ngoài ra, những chỉ dẫn này không bao giờ rơi chính vào phách mạnh trong nhịp, mà rơi ngay sau nó, mang đến cho giai điệu sự phân vân quyến rũ bất thần. Sẽ là một lỗi nặng nếu cứ luôn chú trọng và nhấn mạnh một trong hai giọng điệu ngân lên nối tiếp nhau. Đôi khi giọng điệu thứ nhất quan trọng hơn, đôi khi là giọng thứ hai, có lúc chúng hòa lẫn vào nhau. Nhiều khi ở Chopin không có giọng điệu theo nghĩa sát sao. Ông không soạn giai điệu, ông soạn nhạc trên dương cầm và ông thường đưa vào dòng chảy của tác phẩm (ví dụ trong Nocturne op. 27 no 1, no 2, op.31 no 1) giọng điệu phụ thứ hai, như thể được dành cho cặp song tấu rụt rè sẽ nhanh chóng ngắt đi ngay và hoàn toàn tan biến.

Bản nhạc sẽ có vẻ như bị soạn tồi, nếu dương cầm thủ chăm chút cho việc nhấn mạnh giai điệu quá mức khiến người ta liên tưởng đến hai nhạc cụ: cây viôlông và cây đàn antô, mà một trong hai luôn bị để cho hầu như vô dụng.

Thật không thể chịu đựng nổi thói quen phân câu cho Chopin và nhấn mạnh giai điệu theo cách ấy của một số dương cầm thủ. Trong khi đó, tôi thấu suốt tính chất đặc biệt và diệu vợi trong nghệ thuật của Chopin - đây cũng là điều phân biệt ông với các nhạc sỹ khác một cách tuyệt vời - chính là ở sự tiếp nối liên tục của các tiết nhạc, ở sự trượt lướt bất khả nắm bắt của một giai điệu vào giai điệu khác mà hoặc ông bỏ lại, hoặc ông mang đến cho rất nhiều bản nhạc của mình hình thức một dòng suối tuôn chảy.

Qua đó, âm nhạc Chopin giống như giai điệu không ngừng và bất tận của chiếc kèn clarinet Ả rập, tuôn chảy liền một mạch, như thể nhạc công không hề lấy hơi. Không còn nữa những dấu chấm, những dấu phảy. Bởi vậy tôi không thể chấp nhận nổi các „dấu lặng lớn” trong bản hợp xướng Nocturne giọng Mi thứ mà một số nhà xuất bản và những người chơi đàn cẩu thả thêm vào nhằm làm vui lòng những kẻ ngu ngốc.

Đặc biệt thú vị là cả hai Prelude (Rê thứLa thứ) đều được soạn sớm hơn rất nhiều so với các prelude còn lại. Vì nhiều lý do khác nhau, chúng là những prelude kỳ lạ nhất trong toàn bộ tập hợp và gây ra nhiều nhầm lẫn nhất. Dễ hiểu là chúng có thể làm người đương thời kinh ngạc: nhất là Prelude giọng La thứ. Có vẻ như ban đầu chúng bị xem là những sản phẩm âm nhạc kỳ quái, hoàn toàn không thể chơi được. „Phải chăng Prelude này xấu xí, nghèo nàn và vô phương, gần như lố bịch, phải chăng nó sai nhạc?” - Huneker băn khoăn, ông chính là người không cho phép gán căn bệnh của Chopin cho những khiếm khuyết giả định của tác phẩm rất ngắn này.


Sai nhạc, hẳn nhiên điều này chúng ta có thể cũng gặp đâu đó khác, và không thể đẩy tiếp lên thành nghịch âm. Thực sự có cảm giác là Chopin đi đến những ranh giới của chính mình, đến những miền nơi nội tâm bị xáo trộn. Điều gây ra sự lỗi điệu cho bản nhạc càng gây xúc động sâu sắc hơn khi nó xuất hiện như sản phẩm phụ, như một điều tất yếu tuôn ra từ chủ để gốc. Có lẽ Chopin, ở đây cũng như nhiều lần khác, đã tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra, nếu...? Phần trên (để một số người vừa lòng, chúng ta hãy cứ gọi nó là bài hát) rất đơn giản, rất nhẹ nhàng, không có gì không đem lại sự yên tĩnh và hài hòa, nhưng giai điệu đệm ở tay trái lại giữ cái hành khúc đầy điềm gở của mình, không thèm quan tâm đến những dị nghị của con người. Và, dường như có thể nói, từ sự lỗi điệu giữa con người và sự bất khả kháng này sinh ra một nỗi kinh sợ mà âm nhạc trước đó chưa bao giờ biểu hiện rõ hơn. Bè trầm gằn gở được kết hợp từ hai giọng điệu mà người chơi cần phải phân tách rõ ràng. Một quãng vượt lên trên, làm cú nhảy từ quãng mười lên quãng mười một, còn quãng thứ hai không ngừng phân vân như thể đang lần mò dò dẫm giữa giọng trưởng và giọng thứ.





Phải thú thực rằng, mặc dù ngưỡng mộ Chopin, phải mất một thời gian dài tôi mới biết trân trọng tác phẩm này. Tôi đã cảm thấy nó kỳ cục và hoàn toàn không thể hiểu được bằng cách nào người chơi có thể sử dụng được nó. Đến tận hôm nay tôi mới hiểu: không thể mang lại cho mình bất cứ lợi ích nào từ nó. Tôi cho rằng cần chơi nó mà không tìm bất cứ  hiệu quả nào hết, một cách rất đơn giản, nhưng tinh khiết và vô cùng chuẩn xác. Nơi sự nghịch nhĩ lớn nhất, nghĩa là từ nhịp mười đến nhịp mười lăm, không nên cố gắng giảm bớt hiệu quả của sự lỗi điệu bằng pê-đan hay bằng pianissimo rụt rè. Và nếu trong vài nhịp này điều bất khả kháng chiến thắng, giọng điệu ngân nga ban đầu thậm chí không cố gắng để được nghe thấy. Khi trở lại ngay sau đó, nó dường như bơ vơ và bị chìm đi. Không những không thể, mà không được phép xem phần tay trái như phần đệm, ngược lại, cả hai giọng điệu này dường như đang tranh đấu với nhau. Và khi ở tận cùng bản nhạc có vẻ như có một niềm hạnh phúc nhẫn nhục khả dĩ nào đó, thì đó là bởi bè trầm đầy điềm gở sau chút trở lại ngắn ngủi đã hoàn toàn lùi bước.

Không, đây không phải là bản nhạc để trình diễn. Tôi nghĩ nó sẽ không tìm được sự công nhận ở bất cứ công chúng nào. Nhưng khi được chơi khe khẽ cho riêng mình, nó chứa đựng một cảm xúc mơ hồ vô tận và nỗi kinh sợ gần như vật lý trước một thế giới cuồng điên khác, thù nghịch với mọi sự tinh tế, loại trừ hết cảm xúc của con người.

Tuesday, 1 November 2011

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2

Thái Linh dịch

Tôi hay nghe người ta so sánh Beethoven với Michelangelo, Mozart với Correggio hay Giorgione... Mặc dù tự thấy việc so sánh các nghệ sỹ thực hành các ngành nghệ thuật khác nhau là vô nghĩa, tôi vẫn không thể ngăn mình và không thể không nhận thấy những nhận xét của tôi về Chopin rất thường dùng được cho Baudelaire và ngược lại. Cũng đã không ít lần, khi nói về Chopin, cái tên Baudelaire tuôn xuống ngòi bút tôi một cách rất tự nhiên. Các tác phẩm của Chopin được gọi là „âm nhạc không lành mạnh”. Người ta gọi „Những bông hoa ác” là „thi ca không lành mạnh” và tôi cho rằng bởi cùng một lý do. Cả hai người đều tìm kiếm sự hoàn hảo với sự chăm chút như nhau, cùng sợ hãi trốn tránh phép tu từ, tránh thuật diễn thuyết và hùng biện, song tôi muốn nói rằng cả hai người đều sử dụng cùng một thủ pháp gây bất ngờ và nhờ nó mà có những rút ngắn phi thường.

Khi trong đoạn đầu của Ballada op.23 in G-minor, ngay sau toàn bộ phần mở đầu, để dẫn vào chủ đề chính được lặp lại trong các gam khác nhau, sau vài nhịp lưỡng lự ở gam Fa trưởng (không có chỉ dẫn về cách chơi, chỉ có các âm chủ và các quãng năm), Chopin bất ngờ giáng một nốt Si giáng sâu, thình lình thay đổi bức tranh phong cảnh như cái chạm của chiếc đũa thần. Câu thần chú táo bạo này dường như sánh ngang với một vài phép rút ngắn của tác giả „Những bông hoa ác”.



Thêm nữa, tôi cho rằng trong lịch sử âm nhạc, Chopin chiếm vị trí (và vai trò) như Baudelaire trong lịch sử thi ca: cả hai người ban đầu đều không được người ta hiểu, vì những lý do như nhau.

Đấu tranh với hình ảnh sai lầm mới khó khăn làm sao! Ngoài Chopin của những người trình diễn, còn có Chopin của các thiếu nữ. Chopin quá đa cảm. Đáng tiếc, ông là như thế! Nhưng không chỉ như thế. Dĩ nhiên, có cả một Chopin ưu sầu đã chắt ra từ cây dương cầm những tiếng thổn thức nức nở. Khi nghe một vài những bản nhạc ấy, người ta có cảm giác Chopin không bao giờ ra khỏi gam thứ. Nhưng tôi thích thú và ngợi ca nơi Chopin điều này, rằng bằng gam thứ và vượt lên nó, Chopin lại đạt đến niềm vui. Chính là niềm vui chiếm ưu thế ở ông (Nietzsche cảm nhận được điều này rất rõ), niềm vui hoàn toàn không có gì giống với sự vui vẻ có phần hời hợt và thông tục của Schumann. Nó là niềm hạnh phúc có chút gì đó của Mozart, nhưng nhân tính hơn, tự tại thiên nhiên và hóa thân vào phong cảnh như cái mỉm cười từ cảnh bên suối trong Giao hưởng Đồng Quê của Beethoven. Tôi không cho rằng trước Debussy và một số nhạc sỹ Nga, âm nhạc đã từng thấm nhuần cuộc chơi của ánh sáng, tiếng nước chảy, tiếng gió, lá cây. Ông ghi sfogato. Đã có nhạc sỹ nào khác dùng từ này chưa, hay từng có ý định ấy, từng thấy cần biểu lộ bầu không khí, biểu lộ làn gió đang thổi đến và ngắt đi nhịp điệu, bất ngờ làm tươi mới và ngát hương ngay giữa khúc barcarole, hay chưa?

Những đề xuất âm nhạc của Chopin mới đơn giản làm sao! Ở đây, không thể so sánh với bất cứ nhạc sỹ nào trước ông. Họ (ngoại trừ Bach) giống các thi sĩ xuất phát từ cảm xúc, rồi sau đó tìm từ ngữ để thể hiện nó. Hoàn toàn ngược lại, giống như Valery xuất phát từ câu, từ – Chopin, như một nghệ sỹ tuyệt vời, xuất phát từ các nốt nhạc (điều này càng khiến người ta nói „Chopin ứng tác”), nhưng nhiều hơn Valery, ông cho phép cảm xúc con người làm chủ hoàn toàn và ngay lập tức những âm sắc đơn giản ấy rồi khai triển nó đến bến huy hoàng.

Thật vậy, Chopin - và đây là điều cốt yếu – cho phép các nốt nhạc dẫn dắt mình và cho phép chúng cho ý kiến lẫn nhau. Ông cân nhắc sức mạnh biểu cảm của từng nốt nhạc. Ông cảm nhận được nốt nhạc này hay nốt nhạc kia biến đổi ý nghĩa theo vị trí của mình trong gam và bằng cách bất ngờ thay đổi bè trầm, đột nhiên ông khiến chúng nói lên điều gì đó khác với những gì chúng nói ban đầu. Sức mạnh biểu đạt của Chopin nằm ở đó.


Thú thực tôi cũng không hiểu rõ tên gọi mà Chopin thích đặt cho các tác phẩm ngắn của mình – Prelude (khúc dạo đầu). Khúc dạo đầu cho cái gì? Chúng dẫn vào đâu? Sau mỗi prelude của Bach là đến tẩu pháp (fugue), chúng cùng nhau tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh. Tôi hoàn toàn không hình dung nổi tiếp sau prelude của Chopin là một bản nhạc cùng giọng, ngay cả khi của cùng tác giả, và cũng không hình dung được các prelude được chơi kế tiếp nhau. Mỗi prelude là một khúc dạo đầu vào suy tưởng và chúng không phải là các bản nhạc hòa tấu. Không ở đâu Chopin tỏ ra riêng tư hơn thế. Mỗi prelude, hay gần như mỗi prelude (mà một số là siêu ngắn) tạo ra một bầu không khí đặc biệt và dựng nên một phối cảnh của cảm xúc, rồi sau đó

biến mất như cánh chim chìm xuống. Tất cả im tiếng.


Không phải tất cả các prelude đều quan trọng như nhau. Một số bản đầy quyến rũ, các bản khác lại kinh khủng. Trong số chúng, không có những bản làng nhàng vô thưởng vô phạt.

Trong tất cả các bản nhạc của Chopin, Prelude đầu tiên (op. 28 no.1) là một trong những tác phẩm dễ bị làm hỏng nhất, và theo tôi, bị diễn giải sai lệch khủng khiếp nhất. Được ủy nhiệm agitato ghi ở đầu bản nhạc, hết thảy những người trình tấu (ít nhất là theo tôi biết) đều nộp mình cho các cử động điên cuồng và hỗn loạn. Tôi xin hỏi các bạn: liệu có thể chăng, ở ngay ngưỡng cửa của loạt tác phẩm này, trong một giọng giản dị và trong sáng nhất, Chopin lại muốn có những biểu lộ đầy bất an như thế? Các bạn hãy nghĩ đến bản Etiude op.10 đầu tiên vui tươi trong sáng xiết bao, cũng được viết ở giọng Đô trưởng. Hãy nghĩ đến hai prelude giọng Đô trưởng của Das Wohltemperierte Klavier. Tinh khiết làm sao, nhẹ nhàng làm sao, mời gọi an ủi xoa dịu một cách hiển nhiên. Hãy nghĩ đến các prelude cho đàn organ của Bach, cũng ở giọng này, nghĩ về tính chất lời mở đầu đặc biệt của chúng. Tôi hoàn toàn không có ý định liên tưởng giữa Prelude này của Chopin với các prelude của Bach. Nhưng tôi muốn thấy trong tác phẩm mở đầu tập nhạc này một mái cong cổng chào đơn giản, một lời khuyến khích gọi mời. Cũng giống như prelude đầu tiên trong Das Wohltemperierte Klaver của Bach thoạt tiên dâng hiến cho chúng ta một dòng nhạc rất trong, sau nhịp thở thứ nhất mới tiếp tục khai triển. Sự gấp gáp mạnh mẽ ban đầu cuốn lại thành một vòng tròn hoàn hảo – bốn nhịp ở Bach và tám nhịp ở Chopin, rồi sau đó trở về điểm xuất phát và lại một lần nữa phất cao cành cọ chiến thắng, mặc dù ngay lúc khởi đầu nó hầu như không cho thấy khả năng đó. Người trình diễn ra sức biến bản nhạc nạn nhân này thành một thứ hỗn loạn, điều đó khiến tôi khiếp đảm. Hoàn toàn ngược lại, tác phẩm này phải được chơi một cách thoải mái, không nên tạo ra cảm giác của bất kỳ sự căng thẳng đầu óc hay gắng sức nào. Không được làm mất đi giai điệu ý nhị kín đáo của phần trên dành cho hai ngón tay sau cùng, vốn chỉ lặp lại đồng âm giai điệu của phần giữa mà Chopin đã xác định trước là „kiềm chế” (một chỉ dẫn thường không được thực hiện, mặc dù là một trong những chỉ dẫn quan trọng nhất). Thật vậy, trái ngược với agitato khi chơi bị đẩy đến mức bão tố, toàn bộ bản nhạc này giống như ngọn sóng êm dịu xinh đẹp dẫn theo một ngọn sóng khác nhỏ hơn mà sức mạnh của nó nằm ở những chuyển động mềm mại của nước.



(còn tiếp)

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối

Wednesday, 12 October 2011

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1




Gần đây, có một người bạn tôi nói rằng trước kia bạn không thích Chopin lắm mặc dù cũng hay nghe, nhưng sau khi đến thăm Ba Lan (trong vài ngày ngắn ngủi), bạn mới hiểu Chopin hơn. Điều này có lẽ cũng lý giải cho lòng yêu mến Chopin của tôi, một người đã sống trong không gian này trong suốt hơn hai mươi năm, bầu trời này, mặt đất này. Bạn khiến tôi nhớ đến lời André Gide, người cũng yêu mến Chopin và đã dành cho ông nhiều thời gian hơn bất cứ nhạc sỹ nào khác, được ghi trong một cuốn sách nhỏ tôi đọc đã lâu: "Bởi một định mệnh lạ lùng nào đó, không tái diễn với bất kỳ ai khác, Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông". Có lẽ phải thêm vào như thế này: "Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông mà chưa đến Ba Lan":)
(Và chợt nhớ cái chạnh lòng khi đọc một câu nhỏ Claude Lévi-Strauss nhắc đến Chopin, hình như trong "Nhiệt đới buồn").

Cuốn sách được viết từ những năm 30, với những nhận xét tinh tế, nhiều khi bất ngờ, đến giờ vẫn đầy thuyết phục và không lạc hậu ấy, chính là "Những ghi chép về Chopin".

Tôi sẽ tranh thủ thời gian dịch cuốn sách này, như một sự chia sẻ với bè bạn và lưu giữ ở đây. Về dịch thuật, chắc chắn không tránh khỏi sai sót, nhất là về từ ngữ trong âm nhạc là lãnh vực mà tôi không chuyên, mong được mọi người thông cảm và góp ý.

Thái Linh

***


Tôi dự định cho ra đời „Những ghi chép về Chopin” của mình từ năm 1892. Từ đó, gần bốn mươi năm đã trôi qua. Đúng ra khi ấy tôi định sẽ viết „Những ghi chép về Schumann và Chopin”. Ngày hôm nay, việc so sánh hai tên tuổi này khơi lên trong tôi sự khó chịu như Nietzsche đã cảm thấy khi so sánh „Goethe và Schiller”. Thời ấy tôi ngỡ có thể nói nhiều về Schumann, nhưng rốt cuộc càng ngày tôi càng cảm thấy ông ít quan trọng hơn.

Schumann là nhà thơ. Chopin là nghệ sỹ, điều hoàn toàn khác biệt, nhưng tôi sẽ lý giải sau.

Bởi một định mệnh lạ lùng nào đó, không tái diễn với bất kỳ ai khác, Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông. Người ta có thể chơi Bach, Scarlatti, Beethoven, Schumann, Liszt hay Faure với ít hay nhiều thành công hơn. Không thể xuyên tạc ý nghĩa những bản nhạc của họ khi hơi sai nhịp. Chỉ có thể phản bội Chopin, một cách sâu sắc, tại tâm và hoàn toàn tự nhiên.

Các bạn đã bao giờ từng nghe một diễn viên xướng Baudlaire như thể đó là Casimir Delavigne hay chưa? Người ta chơi Chopin như thể đó là Liszt. Họ không hiểu được sự khác biệt. Và như thế, Liszt đã được tôn lên cao hơn. Người trình diễn có thể bắt được điều gì đó và say sưa điều gì đó. Nhờ anh ta, có thể hợp nhất với Liszt. Chopin thì hoàn toàn vuột khỏi anh ta và điều đó tinh tế đến mức thính giả thậm chí còn chẳng đoán ra.

Tương truyền Chopin khi ngồi xuống trước dương cầm luôn gây ấn tượng rằng ông đang ứng tác. Hồ như ông đang không ngừng tìm kiếm, sáng tác, dần dần khám phá tư tưởng của chính mình. Sự phân vân đầy quyến rũ ấy giờ đây đã là bất khả, khi bản nhạc được trình tấu không phải trong từng bước hình thành, mà đã như một tổng thể hoàn hảo, khách quan và khép kín. Tôi không thấy ý nghĩa nào khác trong các nhan đề Chopin đặt cho vài trong số những bản nhạc trang nhã nhất của ông: Impromptus. Không thể cho rằng Chopin ứng tác với nghĩa đen của từ này. Không. Nhưng quan trọng là chúng phải được chơi theo cách mang lại ấn tượng như thế, nghĩa là với một sự thiếu khẳng quyết nào đó – tôi không dám nói là với sự uể oải – nhưng dẫu sao cũng là thiếu cái khẳng quyết mang theo những nhịp nhanh. Đó là cuộc diễu hành của những khám phá, và người chơi không nên khơi khơi khiến mọi người hiểu rằng anh ta biết trước những điều mình sẽ nói, rằng mọi điều đã được xuống bút viết sẵn rồi. Tôi thích những khi một đoạn nhạc đang dần hình thành dưới nhưng ngón tay của người chơi tưởng như rời khỏi anh ta, khiến chính anh ta phải ngạc nhiên và mời chúng ta đến với niềm vui thích của mình. Thưa dương cầm thủ, anh muốn tôi phải trải nghiệm cảm xúc gì ngay cả trong một bản nhạc táo bạo như Etude op. 25 no 11 cung La thứ mãnh liệt và bão táp, nếu chính anh chẳng trải nghiệm một cảm xúc nào hết và cũng không khiến tôi cảm thấy anh đang trải nghiệm khi bất thần bước vào La giáng trưởng, ngay sau đó là Mi trưởng tựa tia nắng mặt trời đột nhiên kết thúc bão táp mưa sa, nếu bằng sự khẳng quyết của mình anh khiến tôi hiểu rằng anh biết trước điều đó, rằng rất cả đều đã được chuẩn bị sẵn? Mỗi sự chuyển điệu trong âm nhạc Chopin, không bao giờ nhàm chán và luôn luôn bất ngờ, đều phải ẩn chứa và giữ gìn cái tinh khôi ấy, thậm chí là cảm xúc e sợ đồng hành với điều mới mẻ kinh ngạc, với niềm bí ẩn của sự quyến rũ sét đánh, nơi tâm hồn được đặt trước những con đường chưa vết chân qua, nơi từ đó bức tranh phong cảnh sẽ dần hé lộ.

Bởi vậy, hầu như khi nào tôi cũng thích âm nhạc của Chopin nói với chúng ta bằng giọng khe khẽ, gần như thì thầm, không bùng nổ (tất nhiên ngoại trừ một vài tác phẩm, chủ yếu các bản scherzo và polonez), thiếu vắng sự khẳng quyết khó ưa của người biểu diễn, cái sự khẳng quyết sẽ cướp đi nét quyến rũ dễ thương. Những người từng được nghe Chopin đàn kể rằng ông đã chơi như thế. Dường như ông luôn luôn không đi hết tiếng đàn. Tôi muốn nói rằng ông hầu không bao giờ để cây đàn chắt ra âm thanh tròn đầy, do đó thính giả của ông thường cảm thấy thất vọng, họ nghĩ „mình không trả tiền để nghe như thế”.

Chopin đề nghị, giả thiết, gợi ý, thuyết phục; hầu như không bao giờ khẳng quyết.

Còn chúng ta, chúng ta càng chăm chú lắng nghe tư tưởng của ông, nó càng vuột mất. Tôi liên tưởng đến „sắc thái xưng tội” mà Laforgue đã ca ngợi ở Baudelaire.

Ai chỉ biết đến Chopin qua những người biểu diễn quá điêu luyện có thể xem ông như người cung cấp các bản nhạc chói sáng và hiệu quả mà có lẽ tôi sẽ chẳng thể chịu đựng nổi nếu chính tôi không đến được với ông sâu hơn, nếu ông đã không biết nói thầm với tôi: „Đừng nghe họ. Vì họ mà anh không còn có thể nói được điều gì nữa. Những gì mà họ đã gây ra còn khiến tôi đau khổ hơn anh. Tôi thà là một kẻ vô danh còn hơn bị nhìn nhận như người không phải là tôi.”

Tôi cảm thấy nực cười với những thính giả ngây ngất trước một số người chơi Chopin nổi tiếng. Có điều gì đáng thích thú trong cách chơi của họ? Chỉ còn lại những gì phổ biến và thế tục. Không còn gì nữa, như tiếng chim hót của Rimbaud, „lẽ ra phải bắt ngắt đi và điểm thêm một cái đỏ mặt”.

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối

Monday, 26 September 2011

Khát vọng tình yêu


Ca khúc Wojciech Młynarski viết dựa theo bản Waltz No 19 in A Minor của F. Chopin

Lời Việt: Thái Linh

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Mộng lành như ánh sao vút trên trời xa
Nguyện tình nồng trong tim ta đó
Xóa nhòa đi những tháng ngày buồn

Vệt lệ nào nhòe trên trang giấy
Và niềm khao khát đắm say trong tim bừng lên
Để một lần xin yêu dấu
Tơ hồng vương bước đường trần

Này đây trong gió loang khi ban mai vừa chớm sang
Liễu ru hồn rì rào, khúc ca nào riêng mình
Này đây đêm đảo xa trong chiếc áo choàng thẫm đen
Nỗi buồn vẫn một gương mặt quen

Ngày trần gian không muốn ban cho ta tình ước ao
Tim muôn phần dạt dào, ta vẫn càng khát khao
Đồng nho xanh lai láng nơi bao nốt nhạc vút cao
Xin dâng một phút nồng say

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Hỏi lòng ta ôi mãi vẫn riêng mình ta
Trần gian ơi sao xa xôi quá
Đâu rồi yêu dấu trong đời?

Giọt lệ nào mặn nơi khóe môi
Và niềm đau xót xa trong tim mù khơi
Chẳng màng chi bao danh tiếng
Bởi vì đâu? Vì đâu ai hỡi?

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Mộng lành như ánh sao vút trên trời xa
Nguyện tình nồng trong tim ta đó
Xóa nhòa đi những tháng ngày buồn

Nhịp tim như chim xanh vỗ cánh
Mãi còn khao khát nồng nàn
Và dấu yêu luyến thương cho đôi lòng còn vương vấn

Trong tim này luôn mãi hoài mong

Bởi vì đâu? Ai hỡi vì đâu?

...