Wednesday, 30 March 2011

Bàn về sự dối trá (Leszek Kołakowski)

(prof. Leszek Kołakowski, ảnh của Gazeta Wyborcza)

Thái Linh dịch

Việc truyền đi các thông tin giả dường như là chuyện bình thường trong tự nhiên. Bướm nói với chim: „Tôi không phải là bướm đâu, tôi là chiếc lá đang đung đưa đấy!” Ong bắp cày nói với ong mật canh gác tổ: „Tôi không phải là ong bắp cày, tôi là ong mật” Ta thấy ngay sự khác nhau giữa hai lời dối trá này. Ta khen con bướm giả làm chiếc lá để tự bảo vệ mạng sống của mình trước con thú có thể xé xác nó. Ta khó chịu về mánh khóe của con ong bắp cày giả làm ong mật để vào được tổ ong và ăn cướp thức ăn mà đám ong mật cần cù đã gom góp được.

Sự dối trá của con người mà chúng ta đánh giá bằng đạo đức cũng tương tự như vậy: một số là tồi tệ, số khác chúng ta cho rằng được phép. Một số triết gia bảo vệ việc nghiêm cấm tuyệt đối nói dối, ví du như thánh Augustine(1) và Kant. Việc cấm nói dối trong bất kỳ trường hợp nào, trước sự phức tạp của cuộc sống con người, không những vô vọng mà tồi tệ hơn, đôi khi còn trái ngược với các lợi ích xã hội có căn cứ hay với lòng tử tế dành cho người thân. Ta hãy bỏ qua trường hợp chiến tranh, khi việc lừa dối kẻ thù đã là một phần không thể thiếu của binh pháp. Ta hãy bỏ qua cả ngoại giao và kinh doanh. Thí dụ đơn giản và thiết thực, rõ ràng nhất từ thời bị chiếm đóng: nếu một người Do Thái trốn ở đâu đó và khi đám sen đầm Đức đến hỏi có người Do Thái nào sống ở đây không, có ai còn một chút lương tâm có thể nói rằng: vì nguyên tắc „không dối trá” cao quý, phải giao một con người vào con đường chết cho đám đao phủ?

Các chính phủ thường nói dối với nhân dân mình, thẳng thừng hoặc bằng cách ỉm đi các sự vụ khi mà sự ỉm đi đó tạo ra bức tranh sai lạc về hiện thực. Đó thường là những sự dối trá nhằm bao che cho chính phủ trước các chỉ trích và giấu đi sự bất hợp pháp hay sai lầm của họ. Nhưng đôi khi đó là những sự dối trá chính đáng; ngoài những chuyện luôn phải bí mật vì an ninh quốc gia, có những sự dối trá thực sự là vì lợi ích xã hội: ví dụ nếu chính phủ muốn phá giá tiền tệ, khi bị hỏi về điều này thì họ phải chối, báo trước về việc phá giá tiền tệ sẽ khiến cho quốc gia bị thiệt hại nặng nề vì những kẻ đầu cơ tài chính như đám châu chấu sẵn sàng lao ngay vào món lợi dễ dàng.

Hơn thế nữa, các đức hạnh trong quan hệ bạn bè, như sư kín đáo hay lịch sự, thường liên quan đến sự dối trá, nhưng khó lòng không công nhận rằng nếu không có các đức hạnh ấy, cuộc sống cộng đồng sẽ tồi tệ hơn rất nhiều, và đó không phải vì ta sẽ hít thở bầu không khí trong lành của sự thật mà vì ta sẽ sống trong thô lỗ. Và chúng ta luôn coi, dù đúng dù sai, những người luôn nói thật không suy nghĩ là thô lỗ.

Thỉnh thoảng tôi tranh luận về việc các bác sỹ có nên thông báo cho người bệnh về tình trạng vô vọng của họ hay không (trường hợp này là nói dối thẳng thừng hoặc giấu giếm): trong chuyện này ở các nước khác nhau có các thông lệ khác nhau, và mặc dù có thể dễ dàng tìm được lý lẽ cho cả phe này lẫn phe kia, các lý lẽ đó thường là vì lý do nhân đạo, lợi ích của bệnh nhân hoặc gia đình họ, chứ không phải vì chính giá trị của sự thật.

Tóm lại, có thể công nhận theo lương năng rằng có những hoàn cảnh phải nói dối vì điều tốt và toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ phải định nghĩa cái „điều tốt” đó. Bởi vì chúng ta sẽ dễ dàng có xu hướng đem nguyên tắc này ra sử dụng theo kiểu tất cả mọi thứ nằm trong lợi ích cá nhân của ta đều là „điều tốt”, mà rất khó nghĩ ra một quy định lường trước mọi trường hợp cụ thể có thể xảy ra.

Những người bảo vệ việc cấm nói dối tuyệt đối cho rằng: nếu ai cũng nói dối tùy tiện hoặc khi mình thích, niềm tin đối với người khác sẽ hoàn toàn bị hủy hoại, mà sự tin tưởng là điều kiện cần cho mọi trật tự và sự chung sống của con người; như thế - họ nói thêm – sự dối trá sẽ chống lại những kẻ nói dối, bởi vì dù sao thì cũng chẳng ai tin được ai.

Đây không phải là một lý lẽ vô nghĩa, nhưng nó không thuyết phục nếu là lý do cho việc cấm nói dối tuyệt đối. Nếu ta không bao giờ có thể tin người khác nói thật, cuộc sống sẽ là không thể chịu đựng nổi. Nhưng có lẽ sự phá sản hoàn toàn lòng tin tưởng lẫn nhau không đe dọa chúng ta. Nói chung chúng ta biết khi nào có thể tin vào các thông tin người khác chuyển cho ta, còn khi nào phải cảnh giác vì ta nghi ngờ rằng người đối diện đắc lợi khi lừa gạt chúng ta và anh ta có thể có ý định đó. Người ta ít khi nói dối không vụ lợi. Quả là có những người nói dối nổi tiếng: ví dụ tôi biết một nhà văn, không bao giờ có thể tin được anh ta, vì anh ta thích đắm chìm vào các câu chuyện luôn luôn thay đổi tùy vào hoàn cảnh hay người nói chuyện; nhưng anh làm vậy một cách sáng tạo và ngộ nghĩnh đến mức nghe anh nói rất thú vị, mặc dù ai cũng biết không nên coi các câu chuyện đó là nghiêm túc; do đó không cần lo ngại rằng việc thiếu vắng đức hạnh thật thà trong tính cách anh sẽ gây hậu quả cho người khác. Chúng ta cũng biết các trường hợp những kẻ nói dối bệnh lý, họ không thể nói bất cứ điều gì thật mà cứ bóp méo và làm sai lệch mọi thứ không có lý do, cũng chẳng có sáng tạo. Nhưng họ là những người bị xem thường và các điều dối trá của họ ít có hại, bởi vì dù sao thì cũng chẳng có ai tin họ.

Ngay cả những điều dối trá rất phổ biến trong chính trị, kinh doanh hay trong chiến tranh cũng không phá hủy lòng tin trong quan hệ giữa người với người, bởi vì ai hoạt động trong các lĩnh vực này cũng cảnh giác, biết ai có thể lừa mình và tại sao. Thậm chí sự dối trá trong quảng cáo cũng ít có hại hơn là người ta tưởng. Tất cả các nước đều có các quy định pháp lý ngăn chặn việc đưa ra các thông tin dối trá về sản phẩm được quảng cáo; đơn giản là không được phép bán nước máy trong các chai ghi rằng đây là thứ thuốc hiệu nghiệm chữa ung thư. Nhưng được phép nói rằng xà phòng Phép Màu hay bia Humbug là tốt nhất thế giới. Trong trường hợp này mục đích của quảng cáo không phải là khiến cho tôi, khi nghe trên ti vi thông tin rằng xà phòng Phép Màu tốt nhất thế giới, đi đến kết luận là nó tốt nhất thế giới; không, mục đích là để tôi ghi nhớ hình ảnh xà phòng Phép Màu và khi phải chọn xà phòng trong cửa hàng, tôi sẽ lấy sản phẩm mà tôi thấy quen thuộc sau nhiều lần xem cùng một quảng cáo. Quảng cáo trông đợi, không phải là vô lý, vào chủ nghĩa bảo thủ tự nhiên của chúng ta, trông đợi rằng tôi sẽ có cảm giác mình đã biết đến xà phòng Phép Màu ngay cả khi tôi hoàn toàn chẳng biết gì về nó.

Nhưng khi nói về sự dối trá chính trị, cần phải có sự phân biệt quan trọng. Dối trá chính trị thường gặp nhưng bị hạn chế bởi tự do ngôn luận và phản biện trong các nước dân chủ không làm ảnh hưởng tới sự khác biệt giữa sự thật và dối trá. Một bộ trưởng có thể nói mình không biết chuyện gì đó mặc dù ông ta biết. Ông ta nói dối và dù có vạch trần sự dối trá của ông ta hay không, sự khác biệt giữa sự thật và điều dối trá vẫn còn nguyên. Ở các quốc gia toàn trị thì khác, nhất là chủ nghĩa cộng sản thời hưng thịnh, nghĩa là thời Stalin. Ở đó sự khác biệt giữa sự thật và những gì đúng chủ trương hoàn toàn bị xóa bỏ, đến mức là người dân khi lặp lại những lời „đúng chủ trương” trong nỗi sợ hãi, chỉ tin một nửa vào chúng. Các lãnh tụ nhiều khi cũng trở thành nạn nhân những điều dối trá của chính mình. Mục đích là làm cho sự khác biệt giữa sự thật và dối trá bị tẩy sạch trong tư tưởng người dân đến mức người ta biết phải nói điều gì là đúng chủ trương và quên đi sự khác biệt này, để có thể xuyên tạc sự thật lịch sử và bằng cách đó, không chỉ đơn giản là nói dối, mà triệt tiêu chính khái niệm sự thật trong nghĩa bình thường của từ này. Mục đích này đã không đạt được hoàn toàn, nhưng sự tàn phá tư tưởng mà hệ thống này đã gây ra là rất lớn, nhất là ở Liên Bang Xô Viết, ở Ba Lan nơi chế độ toàn trị chưa bao giờ lên tới mức độ đó, thì ít hơn. Tự do ngôn luận và phản biện không thể loại bỏ dối trá chính trị, nhưng có thể trả lại ý nghĩa bình thường của từ „dối trá”, „sự thật” hay „nói thật”.

Từ việc cho rằng nói dối có lúc là được phép và có thể nói dối vì điều tốt, chúng ta không được nâng lên thành công thức „dối trá đôi lúc là tốt, đôi lúc là xấu”, vì công thức đó mập mờ đến nỗi trên thực tế nó có thể biện minh cho mọi sự dối trá của chúng ta. Điều trên cũng không dẫn đến việc có thể giáo dục trẻ em tinh thần đó ngay từ ban đầu. Sẽ an toàn hơn nếu dạy trẻ rằng nói dối đơn giản là xấu, không có ngoại lệ, để bằng cách đó tạo ra cho trẻ phản xạ khiến chúng cảm thấy khó chịu khi nói dối. Những điều còn lại chúng sẽ tự học được – một cách nhanh chóng, dễ dàng, không cần sự trợ giúp của người lớn.

Nếu như việc cấm nói dối tuyệt đối vừa là vô hiệu, đôi khi lại vừa trái ngược với các điều răn khác quan trọng hơn, làm sao tìm được một nguyên tắc chung cho phép dối trá? Một nguyên tắc chung giải quyết thấu đáo mọi trường hợp cụ thể như vậy, tôi nhắc lại, là không có. Nhưng ta được phép dùng một số quy tắc đạo đức có thể giúp ích.

Quy tắc đạo đức thứ nhất là nên cố gắng để không dối trá với chính mình, nghĩa là ví dụ như nói dối biết rằng mình đang nói dối. Tự dối mình là một đề tài riêng và quan trọng mà ở đây tôi phải để sang một bên. Là đủ khi phát biểu rằng khi ta nói dối và cho là mình làm vậy vì điều tốt, ta phải biết rõ rằng nó chính là như thế. Thứ hai, chúng ta phải nhớ rằng sự tự bào chữa và khái niệm về „điều tốt” của ta, điều làm cho sự dối trá của ta trở nên cao quý, luôn là một khái niệm đáng ngờ, nếu „điều tốt” ấy chỉ là lợi ích cá nhân của ta. Thứ ba, ta có thể nhớ rằng dối trá không phải là một điều tốt về mặt đạo đức ngay cả khi nó được phép hoặc được khuyến khích nhân danh các giá trị khác quan trọng hơn.

Thứ tư, nên biết rằng sự dối trá thường làm hại người khác, nhưng lại làm hại những kẻ nói dối nhiều hơn, vì nó làm trống rỗng nội tâm anh ta.

Nhớ các quy tắc này không khiến chúng ta – hay phần lớn chúng ta - trở thành thánh nhân và vô tội, nó cũng không tiêu diệt sự dối trá ở trên đời, nhưng có thể dạy chúng ta sự thận trọng khi sử dụng vũ khí nói dối ngay cả khi việc dùng nó là cần thiết.

(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008)


------

Chú thích:
1) tức Augustine of Hippo

Wednesday, 23 February 2011

"Lễ hội mùa xuân", tác phẩm sắp đặt video của Katarzyna Kozyra

(Katarzyna Kozyra và tác phẩm "Lễ hội mùa xuân" tại Nhà trưng bày nghệ thuật quốc gia Zachęta, ảnh lấy từ internet)

Rất tình cờ và may mắn, tôi được xem triển lãm của Katarzyna Kozyra  vào đúng ngày bế mạc tại Nhà trưng bày nghệ thuật quốc gia Zachęta. Katarzyna Kozyra được xem là một trong những nghệ sỹ đương đại Ba Lan nổi tiếng nhất trong vòng hai thập niên trở lại đây. Những tác phẩm của bà - rất đa dạng, từ nhiếp ảnh, sắp đặt video, phim, và các tác phẩm pha trộn giữa các thể loại này... - đã kéo tôi từ cơn sốc này qua cơn sốc khác, từ sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác, từ nỗi ám ảnh này đến nỗi ám ảnh khác, những trạng thái cảm xúc hiếm hoi trong cuộc sống dường như đã quá đỗi bình thản này. 

Tôi sẽ không viết về các tác phẩm sắp đặt video Nhà tắm nữ và Nhà tắm nam, nơi dường như vị thế của „kẻ ngắm nhìn” và „người bị ngắm nhìn” hoàn toàn đảo ngược. Tôi sẽ không viết về Kim tự tháp súc vật - tác phẩm tốt nghiệp của bà và những tranh cãi sóng gió xung quanh nó những năm 90. Tôi cũng sẽ không viết về tác phẩm video Hình phạt và tội ác với những câu hỏi ám ảnh về ranh giới và sự đảo lộn của những khái niệm ấy; hay về một Olympia không phải của Manet, cũng đầy thách thức với những câu hỏi được đẩy xa hơn, một Olympia trần trụi, đau yếu, bệnh tật, một lần nữa lại đảo lộn các „chuẩn tắc thẩm mỹ” về cơ thể phụ nữ khi được/bị đem phơi bày trước công chúng, rằng họ luôn là „kẻ bị nhìn ngắm” bằng đôi mắt đàn ông... Không, tôi sẽ không đủ sức viết hết về những tác phẩm bằng những cách rất khác nhau đã để lại trong tôi ngổn ngang ấn tượng và dư âm ấy.

Tôi sẽ chỉ viết chút ít, như ghi lại một kỷ niệm, về „Lễ hội mùa xuân”- tác phẩm sắp đặt video khiến tôi xúc động nhất.

„Lễ hội mùa xuân” là tác phẩm Katarzyna Kozyra thực hiện với cảm hứng xuất phát từ vở ballet nổi tiếng cùng tên của Stravinsky với phần biên đạo của Vaslav Nijinski (1913). Do âm nhạc và biên đạo đều quá khó, bất chấp mọi nguyên tắc, vượt quá giới hạn mà nghệ thuật múa ballet cổ điển có thể chấp nhận, vở ballet đã thất bại. „Lễ hội mùa xuân” kể về một tục lệ cổ xưa của người xla-vơ, nơi một trinh nữ phải khiêu vũ cho đến chết để đánh thức sức sống của đất đai, mang lại mùa màng. Nijinski đã hoàn toàn từ bỏ kỹ thuật ballet cổ điển, các vũ công của ông nhảy múa như những con rối, thực hiện những động tác nằm ở tận cùng ranh giới khả năng của con người. Sự gắng sức đến mức gần như bất lực của họ là điều người xem phải thấy rõ. Các động tác không mềm mại, trơn tru, vũ điệu phải trở nên cứng nhắc, co giật.

Trong tác phẩm sắp đặt video của Katarzyna Kozyra, các màn hình được xếp đặt thành hai vòng tròn, vòng ngoài chiếu vũ điệu của đám đông, các màn hình vòng trong chiếu vũ điệu của một vũ công duy nhất, người „được chọn” phải nhảy múa đến chết. Các vũ công nhảy múa theo đúng phần biên đạo của Nijinski. Điều đáng nói ở đây là các thước phim không phải được quay, mà được dựng từ các bức ảnh chụp họ trong các tư thế nằm trên sàn nhà, rồi ghép lại như phim hoạt hình. Để có một phút phim, cần phải chụp hơn một nghìn bức ảnh. Những nhân vật trong tác phẩm đều là vũ công đã giải nghệ. Trong „Lễ hội mùa xuân” của Kozyra, họ hoàn toàn trần truồng, nhảy múa trong một khung cảnh trần trụi, trên nền màn hình trắng tinh, hoàn toàn không có dàn dựng. Tất cả các màn hình được bóng tối dày đặc bao quanh, bóng tối được lấp đầy bằng âm nhạc của Stravinsky.

Với tôi, đầu tiên là cảm giác sốc. Trong bóng tối nổi bật lên hình ảnh các vũ công trần truồng, những cơ thể già nua bị thời gian tàn phá, những cơ thể tạm bợ vì đã bị đổi giới tính (các nam nữ vũ công đều được gắn bộ phận sinh dục giả của giới kia). Rồi một cảm giác căng thẳng, cái căng thẳng khi những giới hạn của cơ thể bị đẩy đến tận cùng, trong những điệu vũ giật cục. Nhưng rồi những cảm giác ấy qua đi, chỉ còn lại một sự thương cảm sâu xa. Những ranh giới về tuổi tác, giới tính bị xóa nhòa, những cơ thể trần trụi thật thà không „tô vẽ”, không lung linh dưới "ánh đèn màu" như chúng đã từng tỏa sáng trên những sân khấu ballet thủa nào, giữa những vòng tròn sống-chết, chính là bức tranh tuyệt vọng và đầy xúc động của nhân sinh. Chính ở đó là nỗi buồn sâu thẳm, chính ở đó là nỗi-kinh-sợ-thiêng-liêng, chính ở đó sự-thật hiển lộ, chính ở đó bắt đầu thi ca...

„Chỉ khi khiêu vũ, ta mới biết cách nói lên ẩn dụ về những điều cao nhã tuyệt vời nhất”, Zarathustra đã nói như thế.

Và tôi nhớ đến Zorba, nhớ đến sự-im-lặng-đang-được-vang-lên.

Trong vũ điệu của  "Lễ hội mùa xuân” này, một cách xót xa và nhức nhối, những sự im lặng đã được vang lên.

(Thái Linh)

Saturday, 5 February 2011

Giã từ quang cảnh (Wisława Szymborska)



Em không oán trách mùa xuân
vì mùa xuân lại tới.
Em chẳng đem mùa xuân ra bắt lỗi
khi nó làm tròn bổn phận của mình
như vẫn thế, hàng năm.

Nỗi buồn của em
không ngăn được cỏ cây, em hiểu.
Ngọn cỏ kia có liêu xiêu xao động
cũng chỉ là trong gió mà thôi.

Em chẳng đau đâu anh ơi,
khi những bụi cây bên bờ nước
lại có điều gì để xào xạc lả lơi.

Em ghi nhận lại rồi,
rằng có một bờ hồ nào đấy
vẫn đẹp không khác gì thủa ấy -
như thể anh còn sống trên đời.

Em không mếch lòng phật ý mảy mươi
với quang cảnh, khi nó trông ra vịnh
lấp lánh ngời lên trong ánh mặt trời.

Thậm chí em mường tượng nổi những người
không phải hai ta
giờ đây đang ngồi đó
trên khúc cây bạch dương bị đổ.

Em tôn trọng cái quyền của họ
được cười và được thầm thì,
được hạnh phúc lặng yên chẳng nói năng chi.

Thậm chí em còn suy
rằng giữa họ là tình ân ái
rằng chàng trai đang ôm cô gái
trong vòng tay tràn ngập sức xuân.

Tiếng chim nào thanh tân
liu siu trong lau sậy.
Mong sao họ nghe thấy,
em cầu chúc chân thành.

Em không đòi thay đổi đâu anh,
những con sóng ở ven bờ ấy,
con sóng nào xô nhanh, con sóng nào trễ nải
những con sóng ngoan hiền chẳng phải với em.

Em không đòi hỏi gì thêm
ở vực nước ven rừng
lúc đen
lúc mang sắc xanh lam
khi biếc màu ngọc thạch.

Chỉ một điều em không chấp nhận
là trở về nơi ấy chốn xưa.
Cái đặc ân được quyền có mặt -
em xin khước từ.

Ngần ấy sống cùng anh vừa đủ,
và chỉ vừa đủ thôi,
để tưởng nhớ từ xa xôi.

(Thái Linh dịch)

Friday, 7 January 2011

Tình hạnh phúc (Wisława Szymborska)



Tình hạnh phúc. Có bình thường không nhỉ?
Có nghiêm túc không, có ích lợi gì –
Từ hai kẻ yêu nhau thế giới sẽ được chi,
những kẻ không nhìn ra thế giới?

Họ tôn vinh nhau lên bục cao vời
chẳng vì thứ công lao gì sất.
Được chọn ngẫu nhiên từ muôn triệu người, nhưng họ tin thành thật
rằng mọi điều không thể khác đi –
Họ được thưởng ban vì lý do gì?
Không gì hết.
Ánh sáng từ nơi không ai biết
sao chỉ chiếu soi riêng họ mà thôi?
Điều đó có bất công không? Có chứ, hẳn rồi.
Có vi phạm những tháp ngà nguyên tắc?
Có hạ bệ ngôi cao đạo đức?
Đương nhiên.

Hai con người hạnh phúc ấy, hãy nhìn xem:
Giá như họ che giấu đi đôi chút,
vờ rầu rĩ để bạn bè không thấy bực!
Nghe xem họ cười dễ ghét biết chừng nào,
thứ ngôn ngữ họ dùng mới lừa mị làm sao!
Những lễ nghi, những hành vi nhỏ nhặt,
những nghĩa vụ đối với nhau mà họ cố tình bày đặt,
tựa một âm mưu sau lưng cả loài người!

Mọi sự sẽ đi tới đâu, ai đoán nổi hở trời,
nếu người ta noi theo gương họ.
Tôn giáo và thi ca biết lấy gì nương tựa?
Những gì được nhớ ghi, những gì bị chối từ?
Ai còn giữ mình trong giới hạn khư khư?

Tình hạnh phúc. Phải chăng cần thiết?
Sự tế nhị và khôn ngoan
khuyên ta không nói gì về nó hết,
như lặng im về một chuyện lôi thôi
trong giới thượng lưu của Cuộc đời.
Những đứa trẻ tuyệt vời vẫn sinh ra chẳng cần nó đấy thôi.
Nó có bao giờ khiến trái đất này trở nên đông đúc,
Nó xảy ra là chuyện thật hiếm hoi.

Hãy để cho những người
chưa từng biết đến tình hạnh phúc
khăng khăng chẳng nơi đâu thứ tình này có thực.

Với niềm tin ấy
họ sống nhẹ nhàng và chết nhẹ nhàng hơn.

(Thái Linh dịch)


Tuesday, 4 January 2011

Imperium (trích, R. Kapuściński)

Ở trường, chúng tôi học bảng chữ cái tiếng Nga ngay buổi học đầu tiên. Chúng tôi bắt đầu bằng chữ „s”. Sao lại bằng chữ „s”? Có bạn nào đó trong lớp hỏi. Phải bắt đầu từ “a” chứ! Các em, thầy giáo (người Ba Lan) nghiêm giọng nói, các em hãy nhìn vào bìa cuốn sách của chúng ta. Chữ đầu tiên trên đó là gì? Chữ “S”! Petrus người Bạch Nga có thể đọc cả dòng: Stalin. “Những câu hỏi của chủ nghĩa Lenin”. Đó là quyển sách duy nhất mà chúng tôi dùng để học tiếng Nga, bản duy nhất của cuốn sách ấy. Trên bìa cứng bọc vải xám có những chữ lớn mạ vàng óng ánh.

“Khi vĩnh biệt chúng ta, đồng chí Lenin đã dạy...” anh bạn Władysław nhỏ bé và ít lời ngồi bàn đầu lắp bắp đọc. Tốt hơn hết là không hỏi Lenin là ai. Các mẹ đã kịp dặn chúng tôi không được hỏi gì hết. Mà thực ra những lời đe nẹt ấy cũng chẳng cần thiết. Tôi không thể tả được, không biết là tại sao, nhưng trong không khí có một cái gì đó thật đáng sợ, thật căng thẳng và nặng nề, đến mức cái thành phố nơi chúng tôi vẫn quậy tưng bừng như quỷ sứ bỗng trở thành bãi mìn nguy hiểm và phản trắc. Ngay đến thở mạnh chúng tôi cũng sợ sẽ làm mọi thứ nổ tung.

Mọi trẻ em đều sẽ vào Đội! Một hôm, chiếc xe con của trường đỗ vào sân, có mấy ông mặc quân phục màu xanh lam bước ra. Ai đó nói rằng họ là NKVD. NKVD là gì thì không rõ lắm, nhưng có điều chắc chắn rằng một khi người lớn hạ giọng thì thầm lúc nhắc đến cái tên ấy, thì NKVD hẳn phải là quan trọng nhất, vì quân phục của họ lịch lãm, mới tinh, y như vừa được may xong. Bộ đội bình thường luôn ăn mặc rách rưới, họ đeo túi vải thay vì ba lô, thường là những chiếc túi rỗng, buộc túm buộc tó lại, còn giày thì hình như cả đời không đánh, nhưng nếu có ai đó là người của NKVD đang đến thì từ xa cả cây số đã thấy ánh đèn báo hiệu màu xanh nhấp nháy trên xe ông ta.

Những người của NKVD ấy mang cho chúng tôi áo sơ mi trắng và khăn quàng đỏ. Nếu có buổi lễ quan trọng, thầy giáo nói với giọng sợ sệt và buồn rầu, mỗi học sinh sẽ mặc áo trắng và đeo khăn quàng đến trường. Họ cũng đem đến và phát cho chúng tôi rất nhiều huy hiệu. Trên mỗi huy hiệu là hình một ông khác nhau. Một số người có ria, những người khác thì không. Một ông có râu, còn hai ông khác thì hói. Hai hay ba ông đeo kính. Một người của NKVD đi xuống các bàn và phát huy hiệu. Các em, thầy giáo nói, đây là các lãnh tụ của các em. Có chín lãnh tụ. Họ tên là: Andreyev, Voroshilov, Zhdanov, Kaganovich, Kalinin, Mikoyan, Molotov, Krushchev. Lãnh tụ thứ chín là Stalin. Huy hiệu hình ông to gấp đôi các ông khác. Nhưng điều đó cũng dễ hiểu thôi. Cái ông đã viết quyển sách “Những câu hỏi của chủ nghĩa Lenin” dày như thế (mà chúng tôi dùng để học đọc) ắt phải có huy hiệu to hơn các ông khác rồi.

Phải đeo huy hiệu lên ngực áo, phía bên trái, nơi người lớn hay đeo huy chương. Nhưng chẳng mấy chốc thì bắt đầu có chuyện: thiếu huy hiệu. Lý tưởng nhất, thậm chí gần như bắt buộc, là đeo hết các lãnh tụ, bắt đầu bằng huy hiệu to của Stalin. Các ông ở NKVD cũng bắt thế: phải đeo hết! Trong khi đó, hóa ra người có Zhdanov thì không có Mikoyan, hoặc có người có hai Kaganovich mà không có Molotov. Một hôm Janek mang đến những bốn Krushchev để đổi lấy một Stalin (trước đó có người đã lấy cắp mất Stalin của cậu).Trong bọn chúng tôi, Petrus thực sự là một tay giàu sụ - cậu có những ba Stalin. Cậu thường lôi chúng ra khỏi túi, giơ lên khoe.

Có lần, Chaim - cậu bạn ngồi bàn bên cạnh – lôi tôi ra một góc. Cậu muốn đổi hai Andreyev lấy Mikoyan, nhưng tôi bảo cậu là Andreyev rẻ lắm (sự thật là thế, vì chẳng ai biết ông Andreyev này là ai) và không đồng ý. Hôm sau Chaim lại lôi tôi ra một góc. Câu lôi từ trong túi ra Voroshilov. Tôi run lên. Voroshilov là mơ ước của tôi! Ông mặc quân phục, nghĩa là đầy vẻ chinh chiến, mà tôi đã biết mùi chiến tranh rồi, nên tôi cảm thấy ông có vẻ gần gũi. Tôi đổi cho cậu Zhdanov, Kaganovich và cho thêm Mikoyan nữa. Nói chung Voroshilov rất chạy. Molotov cũng thế. Một Molotov có thể đổi được ba ông khác, vì người lớn nói rằng Molotov quan trọng. Kalinin cũng có giá, vì trông giống một ông lão Ba Lan. Ông có chòm râu bạc và chỉ có ông là có cái gì đó như thể nụ cười.

(Thái Linh dịch)


Sunday, 2 January 2011

Những người trên cầu (Wisława Szymborska)


(Sudden Shower over Ohashi Bridge and Atake, 1857, Hiroshige Utagawa)

Một hành tinh lạ lùng và những người kỳ dị.
Họ lệ thuộc thời gian nhưng không thừa nhận thời gian.
Họ có cách tỏ bày lòng phản kháng. 
Họ vẽ những bức tranh, ví dụ bức tranh này:

Thoạt nhìn không có gì đặc biệt ở đây.
Thấy một dòng sông.
Thấy một bờ của dòng sông ấy.
Thấy một chiếc bè gắng sức bơi ngược dòng nước chảy.
Thấy chiếc cầu trên sông và những người ở trên cầu.
Những người rõ ràng đang rảo bước thật mau,
bởi từ đám mây đen
mưa bắt đầu quất mạnh.

Điều đáng nói ở đây là chẳng có gì xảy ra kế tiếp.
Đám mây không đổi thay hình dạng, sắc màu.
Mưa chẳng tạnh đi cũng chẳng rơi mau.
Chiếc bè bơi bất động.
Người trên cầu đang chạy
chính tại nơi họ đã chạy rồi, một lát trước đây. 

Khó tránh khỏi đưa ra lời nhận xét này:
Đây không hề là bức tranh vô tội.
Thời gian ở đây đã bị làm ngừng lại.
Đã không còn theo quy luật của nó rồi.
Đối với các diễn biến, than ôi,
Nó đã bị tước đi uy lực.
Bị khinh khi và sỉ nhục

Do một kẻ nổi loạn,
một ông Hiroshige Utagawa nào kia,
(một hữu thể, thật ra,
đã đi qua thế giới này từ lâu và thuận lẽ),
thời gian đã sẩy chân, vấp ngã.

Có thể đây chỉ là trò chơi khăm chẳng nghĩa lý gì,
một trò ngông trong phạm vi vài thiên hà ít ỏi,
nhưng để đề phòng mọi điều mọi nỗi,
ta bổ sung như sau:

Ở đây có một bức tranh được đánh giá cao
đã bao đời khiến người ta mê say, xúc động,
và điều ấy vẫn được xem là đúng.

Một số người thế vẫn chưa thỏa mãn.
Họ còn nghe được cả tiếng mưa tuôn,
Cảm thấy cái lạnh của những giọt nước trên cổ, trên lưng,
Họ nhìn cây cầu và những người trên đó
như thể đang nhìn thấy chính mình
trong cuộc chạy kia chẳng lúc nào ngừng
trên con đường thiên thu bất tận
và họ tin tráo trơ, ngạo mạn
rằng đó là chuyện thật hiển nhiên.
 
(Thái Linh dịch)

Thursday, 30 December 2010

Viện bảo tàng (Wisława Szymborska)


Đĩa ở đây, nhưng ngon miệng nào đâu.
Nhẫn nơi này, mà không tình giai ngẫu
đã qua rồi thấm thoắt ba trăm năm.

Quạt nơi đây – đâu má ửng nét hồng lan?
Đây kiếm gươm – đâu rồi cơn uất hận?
Đàn lia dưới ánh tà phím chẳng một lần ngân.

Vì sự vĩnh hằng vắng bóng chốn trần gian,
người ta gom về đây mười nghìn đồ cổ.
Bác thầy ký mốc meo mơ màng trong giấc ngủ
Râu rủ trên tủ kính trưng bày.

Gốm sứ, lông chim, kim loại nơi đây
Vượt thời gian âm thầm chiến thắng.
Riêng chiếc trâm cài từ miền Ai Cập
đang khẽ khúc khích cười.

Chiếc vương miện hoài công chờ đợi một đầu người
Bàn tay thua găng tay, và chiếc giày bên phải
đã chiến thắng bàn chân.

Còn tôi, tôi đang sống, xin bạn hãy vững tâm.
Cuộc chạy đua của tôi với chiếc váy dài vẫn đang tiếp diễn.
Ôi chiếc váy thật là bướng bỉnh!
Nó như muốn trường tồn bất chấp kỷ niên!

(Thái Linh dịch)

Tuesday, 7 September 2010

Per Wästberg: Chúng tôi đã không kịp trao giải Nobel cho Kapuściński


(Anders Bodegard tại Đại hội Quốc tế các dịch giả văn học Ba Lan lần thứ II, Krakow 6/2009)


"Nhiều khi tử thần nhanh chân hơn chúng tôi. Calvino, Sebald, Kapuściński, tất cả họ đều đã kịp qua đời." Nhà văn Per Wästberg nói trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ báo lớn nhất Thụy Điển "Dagens Nvheter". Từ năm 1997, ông ngồi trong ban giám khảo trao giải Nobel văn học (ghế số 12).


‎"Chúng tôi đã biết việc Viện Hàn Lâm không kịp vinh danh Ryszard - Anders Bodegard tiết lộ, ông là đại sứ của văn học Ba Lan tại Thụy Điển, dịch giả 5 cuốn sách của Kapuściński và thành viên ban giám khảo giải thưởng dành cho phóng sự văn học mang tên Kapuściński - nhưng đây là lần đầu tiên điều này được nói trước công chúng. Chuyện như vậy đã từng xảy ra với Gombrowicz, người mất tháng 7 năm 1969 và khi đó Beckett được nhận giải Nobel. Chín năm nữa chúng ta sẽ được biết các chi tiết liên quan đến Gombrowicz, còn trong trường hợp Kapuściński thì phải tận sau năm 2057"


nguồn: http://wyborcza.pl/1,75475,8327123,Per_W%C3%A4stberg__spoznilismy_sie_z_Noblem_dla_Kapuscinskiego.html

Saturday, 28 August 2010

Ai là thi sĩ? (Tadeusz Różewicz)

Thái Linh dịch

Thi sĩ là người viết những bài thơ
và là người không viết những bài thơ

Thi sĩ là người tháo bỏ trói buộc
và là người trói buộc chính mình

Thi sĩ là người có được đức tin
và là người không còn tin nổi

Thi sĩ là người nói dối
và là người bị dối lừa

Thi sĩ là người có miệng để cất lời
và là người nuốt đi sự thật

là người ngã xuống
và là người đứng lên.

Thi sĩ là người từ bỏ ra đi
và là người không thể ra đi được.

(Thái Linh dịch)

Friday, 20 August 2010

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về


(Bầu trời Baltic)


Từ lần cuối cùng tôi nghỉ hè bên bờ biển Baltic, đã hơn mười năm trôi qua. Trong vòng hơn mười năm ấy, dĩ nhiên đã có những lần gặp gỡ ngắn ngủi khác, nhưng chỉ là thoáng chốc và không trọn vẹn. Tôi cũng chẳng nhớ nhung, Baltic quá gần để nhớ nhung. Khi chuẩn bị cho chuyến đi này, tôi không có cảm giác mình đang lên đường. Có chút gì đó như hờ hững như thờ ơ như không hề mong đợi. Mặc dù sẽ đến một thành phố xa lạ, nhưng tôi biết rằng ở đó sẽ chẳng có gì quá xa lạ với mình. Vẫn là thứ ngôn ngữ đang vây bọc tôi hàng ngày. Ngôn ngữ không thay đổi thì dường như chẳng có gì để mà hồi hộp, để tò mò và ngạc nhiên, để cảm thấy mình sẽ khám phá những điều mới lạ.

Vậy mà tôi đã ngạc nhiên, đã khám phá những điều mới lạ, không phải ở nơi nào xa xôi mà chính trong lòng mình. Vì thế, tôi sẽ không tả cảnh, không kể chuyện, tôi sẽ chỉ viết về những nỗi ngạc nhiên, về những ngỡ ngàng và thích thú.

Tôi ngạc nhiên sao mình lại xúc động đến thế khi trên con tàu băng qua Ba Lan, tôi mải mê ngắm nhìn như mới thấy lần đầu những bình nguyên xanh mướt, những vườn táo lấm tấm quả, những cánh đồng vàng rượi sau mùa gặt, những rừng bạch dương âm u trong mây mù...,những gì tôi tưởng đã quá thân quen. Một cảm giác bình yên lan tỏa, từ từ và lặng lẽ, nhẹ nhàng và mềm mại. Để rồi khi tất cả dần chìm vào làn mưa, cảm giác bình yên ấy như một làn ánh sáng dần sáng lên quanh tôi. Mưa càng nặng hạt, gió càng tạt mạnh vào con tàu, bầu trời càng sầm tối thì ánh sáng ấy càng rực rỡ. Như thể bao nhiêu ấm áp, bao nhiêu êm ả của những bình nguyên vườn táo cánh đồng khu rừng đã dồn hết về đây, trong toa tàu này, để thắp cho các ngọn đèn mỗi lúc một sáng hơn. Giữa tâm ánh sáng ấy, tôi ngồi thật lặng im khi con tàu lao nhanh trong mưa gió, bất động trong chuyển động, và, hơn bao giờ hết, lòng thăm thẳm bình yên.

Baltic trong mưa. Trước phòng tôi, từ ban công nhìn ra, biển xa hút tầm mắt. Bước một cái là xuống biển, vậy mà tôi vẫn chưa thể chạm vào biển. Baltic nấp sau tấm màn mưa xám đục, bắt người ta phải chờ đợi và kiên nhẫn. Tôi ngạc nhiên sao mình không chán nản mà thậm chí còn thấy dễ chịu. Tôi vui thích lắng nghe tiếng mưa đổ xuống hòa cùng tiếng sóng biển và tiếng gió cuộn trong những vòm cây tạo thành một khối âm thanh rì rào đặc sánh, thứ âm thanh tôi chưa từng được nghe. Những nhạc cụ ướt lạnh lướt thướt ấy - mưa, gió và sóng biển – kỳ lạ thay, lại làm nên một bản hòa tấu ấm áp, hài hòa, khiến người ta có cảm giác êm ả như trong đêm tất niên của thời thơ ấu ngồi nghe nồi bánh chưng sôi.

Baltic mưa và tôi ngồi đọc Nhiệt đới buồn. Tôi gặp lại Kapuściński trong những trang viết của Claude Lévi-Strauss, ở Ấn Độ, ở Nam Mỹ, ở những suy tư và đào xới sâu hơn là du ký, ở cái nỗ lực để thấu hiểu và cảm thông với những Người khác. Tôi nhớ Kapuściński, nhớ mơ ước chưa thành của ông là làm một chuyến du hành trên biển theo dấu chân Bronisław Malinowski (nhà nhân học Ba Lan kiệt xuất, người thường được coi là một trong những nhà nhân học quan trọng nhất của thế kỷ 20).

Khi mưa tạnh, những tia nắng đầu tiên dịu dàng xuyên qua bầu trời đầy mây rọi vào phòng, nghe tiếng còi tàu đầu tiên vang lên ngoài biển, tôi nhìn ra ban công và thấy những cánh chim đầu tiên bắt đầu chao liệng trong không trung trên mặt biển lấp lánh ướt, giống như nụ cười đang từ từ bừng nở trên gương mặt bé thơ còn long lanh nước mắt. Từ ban công này, trong xa vắng Địa Trung Hải, trong thương nhớ những đám mâybầu trời của Szymborska, tôi sẽ còn nhiều lần nhìn ngắm trời mây Baltic với nỗi ngạc nhiên tinh khôi nhất. Trong một ngày mùa hè, bầu trời Địa Trung Hải luôn xanh thẳm. Nhưng bầu trời Baltic thì khác, nó sinh động và biến đổi không ngừng. Vẻ đẹp bầu trời Địa Trung Hải là vẻ đẹp của sự ngưng đọng và tĩnh lặng, của mãn nguyện và bình yên, thanh thản, vẻ đẹp của huyền thoại và quá khứ, của vĩnh cửu và hoàn hảo. Bầu trời Baltic mang vẻ đẹp của chuyển động và thay đổi, của ngạc nhiên, mong đợi và tuơng lai, vẻ đẹp của khoảnh khắc và cái mong manh vô thuờng, của sự bất toàn và day dứt, như chính cuộc sống.

Những ngày nằm dài trên bãi biển, tôi thích thú nghe tiếng rao của những người đi bán dạo. Những tiếng rao! Tuổi thơ của tôi làm sao có thể thiếu những âm thanh mời gọi và vui vẻ ấy, ngày tháng xa xưa ở Việt Nam. Thật bất ngờ khi các con tôi bây giờ vẫn còn được nghe những tiếng rao trong muôn vàn âm thanh của cuộc sống. Rất lạ là hơn mười năm trước, không có những người bán dạo trên bãi biển. Cứ như mọi thứ đi ngược thời gian. Hay đúng hơn, có những dòng chảy ngược xuôi thời gian đan xen vào nhau. Vì tôi chìm trong một cảm giác mới lạ khác khi nghe xôn xao quanh mình không chỉ là tiếng Ba Lan,tiếng Việt, mà cả tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga... Mười năm trước, bức tranh ngôn ngữ đơn điệu hơn nhiều. Và giữa những dòng ngược xuôi thời gian ấy, tôi luôn tròng trành trong cảm giác lạ mà quen, quen mà lạ, vừa là trở lại vừa là ra đi.

Ngày trở về, tàu lại băng qua những cánh đồng và những bình nguyên giờ đây ngập nắng, những rừng bạch dương lấp lánh thân bạc, những trảng cỏ xanh miên man có đàn bò sữa màu lông loang lổ trắng đen... Giữa không gian tươi sáng ấy, tôi ngỡ ngàng nhận ra các nhà ga trông vẫn tồi tàn và cũ kỹ làm sao, không khác gì hơn mười năm trước. "Ga nhỏ ồn ào, hồi hộp nỗi riêng chung / Ta sẽ nhớ khung cảnh này mãi mãi."(*) Những sân ga lưu giữ bao ký ức nhọc nhằn của người Việt trên mảnh đất Ba Lan một thời đã xa, những sân ga bao giờ cũng khiến sống mũi như cay, bất chấp bao thay đổi của cuộc sống, của thời đại, như đã vĩnh viễn dừng lại ở một điểm nào xa lắc trong quá khứ. Và một lần nữa, tôi lại thấy mình đang trở về trong chuyến đi xa.

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về.


---

(*) thơ B.Kornilov,Thụy Anh dịch