Sunday, 6 May 2012

Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế


Nguyễn Thái Linh*

(Bài viết đã đăng trên tạp chí Tia Sáng phần Iphần II và phần III)

Tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể xem như một trong những tranh chấp phức tạp, lâu dài nhất trong lịch sử luật quốc tế. Các tranh chấp đã kéo dài cả trăm năm và ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Thực tế tranh chấp với nhiều khía cạnh lịch sử, pháp lý, chính trị v.v… đòi hỏi một nỗ lực tổng thể khi tìm hiểu. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, một cách khái quát, chúng tôi muốn trình bày và cân nhắc luận thuyết của các bên tranh chấp dưới ánh sáng luật pháp quốc tế.

Trong tranh chấp Hoàng Sa, các bên tranh chấp là Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều đòi hỏi chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo.

Tranh chấp Trường Sa bao gồm các bên Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phillippines, Malaysia và Brunei, trong đó Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đòi hỏi chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, Phillippines (mới tham gia tranh chấp từ năm 1951) và Malaysia (từ năm 1978) đòi hỏi chủ quyền với một phần quần đảo, còn Brunei chỉ đòi hỏi một đảo (Louisa Reef, từ năm 1984).

I. Luận thuyết của Việt Nam:

1. Từ thế kỷ XVI, Việt Nam đã có danh nghĩa pháp lý đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius).

Theo luật quốc tế, bản thân quyền phát hiện đầu tiên một lãnh thổ vô chủ không đủ để tạo ra danh nghĩa pháp lý cho quốc gia phát hiện. Muốn thụ đắc chủ quyền, quốc gia này phải tiếp tục chiếm cứ hiệu quả lãnh thổ đó. Hai nguyên tắc cơ bản trong việc thụ đắc chủ quyền là nguyên tắc thực sự, tức là chiếm hữu thực sự lãnh thổ vô chủ, coi nó như một bộ phận lãnh thổ của mình và thực thi quyền hạn nhà nước, quản lý hành chính trong một thời gian hợp lý; và nguyên tắc công khai – việc chiếm hữu phải được các quốc gia khác công nhận.1 Một cá nhân hay một công ty không thể thụ đắc chủ quyền lãnh thổ.

Ngoài yếu tố vật chất (corpus), việc chiếm hữu thực sự đồng thời còn đòi hỏi yếu tố tinh thần (animus) nghĩ là ý chí của quốc gia muốn chiếm hữu lãnh thổ vô chủ.

Để chứng minh cho quyền phát hiện và chiếm hữu thực sự của mình, Việt Nam đã đưa ra các luận cứ sau:

- Nhà nước Việt Nam đã biết đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi đó được gọi dưới tên chung là Đại Trường Sa, Hoàng Sa hay Vạn Lý Trường Sa và coi chúng là một phần lãnh thổ của mình.
- Trong suốt ba thế kỷ từ XVI đến XIX, chính quyền Việt Nam đã thực thi liên tục chủ quyền của mình ít nhất là trên quần đảo Hoàng Sa bằng cách thường xuyên cử các đội thuyền Hoàng Sa và Bắc Hải đến các đảo này hàng năm, trong nhiều tháng, để khảo sát, đo đạc, khai thác tài nguyên một cách có hệ thống, thu lượm các tài sản chìm đắm, xây miếu dựng đền và trồng cây như các biểu tượng khẳng định chủ quyền, tổ chức thu thuế, cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn. Việc thực thi chủ quyền này diễn ra hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, và có đầy đủ cả yếu tố vật chất (corpus) lẫn tinh thần (animus).

Để chứng minh cho luận cứ này, Việt Nam đã đưa ra các nguồn tài liệu chính thức của nhà nước như Đại Nam thực lục tiền biên (1600-1775), Toàn tập Thiên Nam thống chí lộ đồ thư (1630-1653), Phủ biên tạp lục (1776), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách địa lý lịch sử chung của Đại Nam 1865-1882), Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876), các châu bản triều Nguyễn về các bản tấu, phúc tấu, các dụ của các Vua, và hàng loạt bản đồ, tài liệu của nước ngoài thời kỳ đó.2

Các tác giả Jaseniew Vladimir và Stephanow Evginii trong cuốn “Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay”, sau khi trình bày các sự kiện cho thấy việc thực thi chủ quyền liên tục của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng nhấn mạnh: “từ lâu đời, chính quyền phong kiến Việt Nam đã sát nhập các quần đảo như Hoàng Sa và Trường Sa vào bên trong biên giới lãnh thổ nhà nước Việt Nam”.3

2. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ tại Việt Nam, Pháp đã đại diện cho Việt Nam trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo.

Năm 1899, toàn quyền Paul Doumer ra đề nghị chính phủ Pháp một hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, công việc này không thực hiện được vì thiếu ngân sách.

Ngày 8 tháng 3 năm 1925, toàn quyền Đông Dương tuyên bố Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước Pháp.4 Các chuyến khảo sát và nghiên cứu khoa học đã được thực hiện ở quần đảo Hoàng Sa từ năm 1925 và ở Trường Sa từ năm 1927.5

Năm 1930, chính quyền Pháp ở Đông Dương cử phái đoàn đến treo cờ trên quần đảo Trường Sa. Sau đó, từ năm 1930 đến 1933, các đơn vị hải quân Pháp đã chiếm cứ các đảo chính của quần đảo này: đảo Trường Sa (13.4.1930), đảo An Bang (7.04.1933), đảo Ba Bình (10.4.1933), nhóm Hai Đảo (10.4.1933), Loai Tạ (11.4.1933), Thị Tứ (12.4.1933) cùng các đảo nhỏ xung quanh các đảo nói trên. Việc chiếm cứ này được thông báo trong Công báo của Cộng Hòa Pháp ngày 26 tháng 7 năm 1933 và Công báo Đông Dương ngày 25 tháng 9 năm 1933. Việc chiếm cứ này không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía Trung Quốc, Phillippines, Hà Lan (khi đó đang chiếm Brunei) hay Mỹ. Nước Anh yêu cầu giải thích và tuyên bố thỏa mãn với hồi đáp của Pháp.6

Ngày 2 tháng12 năm1933, Thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Ngày 30 tháng 3 năm1938 hoàng đế Bảo Đại đã ra chiếu chỉ sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Ngày 15 tháng 6 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương J. Brévié ra nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại Hoàng Sa. Sau đó chính phủ Pháp tiến hành chiếm cứ thực sự toàn bộ quần đảo. Một đội quân cảnh vệ được cử đến đồn trú thường xuyên tại đây. Vào năm 1938, bia chủ quyền được dựng lên với dòng chữ “Cộng Hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa, 1816 – đảo Hoàng Sa – 1938”. Một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến được đặt trên đảo Hoàng Sa.7

Năm 1939, Nhật chiếm đóng Trường Sa, đổi tên quần đảo thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan). Tháng 4 năm1939, Pháp gửi công hàm phản đối các hành động quân sự của Nhật và khẳng định quần đảo này là một phần lãnh thổ của An Nam.8

Ngay sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, chính quyền Pháp đã lập tức khôi phục lại sự có mặt của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1946, một phân đội của Pháp đã đổ bộ lên Hoàng Sa để chiếm lại quần đảo. Tháng 10 năm 1946, chiến hạm của Pháp mang tên “Chevreud” đã đến Trường Sa và đặt bia chủ quyền trên đảo Ba Bình.9

Cuối năm 1946, khi Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), Pháp đã phản đối và yêu cầu họ rời khỏi quần đảo.

Như vậy, với tư cách nhà nước bảo hộ đại diện cho quyền lợi của An Nam, chính phủ Pháp không hề từ bỏ mà vẫn thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa một các liên tục. Đối với Trường Sa, Pháp coi đây là lãnh thổ vô chủ và đã chiếm cứ thực sự trước khi các nước khác có mặt trên quần đảo này mà không gặp sự phản đối đáng kể nào từ phía các quốc gia khác.

3. Chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được thực thi và bảo vệ sau khi Pháp rời khỏi Đông Dương
Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý hai quần đảo.

Trong phiên họp thứ 7 tại Hội nghị hòa bình San Francisco vào ngày 7.9.1951, đại diện Quốc Gia Việt Nam (chính quyền Bảo Đại) là thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Trần Văn Hữu đã chính thức tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có một phản đối hay bảo lưu nào từ phía 51 nước tham dự Hội nghị. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều vắng mặt trong hội nghị này.10 Tuy nhiên, Trung Quốc bảo lưu yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15 tháng 8 năm 1951.

Sau Hiệp ước Geneva năm 1954, hai quần đảo được Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. Ngày 22 tháng 8 năm1956, sau khi quân Pháp rút đi, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa và đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp này.11

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, với tư cách người thừa kế danh nghĩa pháp lý cùng các quyền và yêu sách của Pháp, đã liên tục tiến hành quản lý hành chính, khảo sát, khai thác và bảo vệ hai quần đảo bằng các hành động như: cắm cờ, lập bia chủ quyền trên quần đảo Trường Sa (8.1956), sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam (7.1961), khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo bằng thông cáo của Bộ Ngoại Giao ngày 15 tháng 7 năm 1971, sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy (9.1973), cấp phép cho khai thác phân chim, bắt giữ nhóm quân Trung Quốc giả dạng ngư dân xâm chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa (2.1959). Tháng 1 năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ các đảo Hoàng Sa, chính quyền đã phản ứng mạnh mẽ và tận dụng mọi cơ hội để khẳng định chủ quyền của mình như: gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo An và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đề nghị can thiệp, tuyên bố khẳng định chủ quyền tại Hội nghị Ủy ban Kinh tế Viễn Đông (3.1974) và tại Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp Quốc về Luật Biển tại Caracas (7.1974), công bố sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa (2.1975).

4. Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời ngày 2 tháng 7 năm 1976 là bên kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó, tiếp tục sở hữu danh nghĩa pháp lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho đến nay.
Thực thi chủ quyền của mình, Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (12.1982), lập thị trấn Trường Sa bao gồm quần đảo Trường Sa, thị xã Cam Ranh và các đảo phụ cận (4.2007), liên tục có quân đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Các lãnh đạo của Việt Nam tiến hành các chuyến đi thăm và khảo sát quần đảo Trường Sa nhằm khẳng định chủ quyền như: các chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Quyết, tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Đoàn Khuê vào tháng 5.1988, chuyến thăm của ủy viên Bộ Chính trị Phạm Thế Duyệt vào tháng 4.1998.

II. Luận thuyết của Trung Quốc và Đài Loan

Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong phần dưới đây.

1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius)
Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN).12 Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao, “phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác.”13 Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn.14
Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính), các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số 1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam).15

Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật quốc tế đòi hỏi.

Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:
  • các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ sở Vũ Kinh tổng yếu (chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông).16 Theo Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.
  • Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn, trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.
  • Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.
  • Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý.17

Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của luật quốc tế. “Chúng không chứng minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền”.18

Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả, giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: “dù sao đi nữa, luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung Quốc.”19

2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945

Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc.20 (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát.21

Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các cường quốc công nhận.

Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan).

Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.

Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.

3. Thời kỳ sau 1945

Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6 năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào tháng 1 năm 1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.

Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền.

Tháng 10 năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5 năm 1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.

Tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh)22.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm này (tháng 1 năm 1974) „Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó.”23
Tháng 2 năm 1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo trên quần đảo Trường Sa.24

Tháng 3 năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo nào cho mãi đến tận năm 1988.25

Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 5 năm 1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.26

Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ của Phillippines trên quần đảo Trường Sa.

Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24 tháng 10 năm 1970 cũng đã ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá trị pháp lý:

Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian chiến tranh 1954-1975. Các tuyên bố đó là:
  • Ngày 15 tháng 6 năm 1956 thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng các quần đảo này về mặt lịch sử là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được biên bản cuộc họp mà họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.27
  • Công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 tán thành tuyên bố về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc mà không có bảo lưu gì đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Ngày 9 tháng 5 năm1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn về luật quốc tế. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan điểm của mình.

Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin.28

Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế, như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời điểm 30 tháng 4 năm 1975.

Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?

Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c) bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và trường kỳ.29

Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các tuyên bố đó.

Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

III. Luận thuyết của các nước khác

1) Luận thuyết của Phillippines

Philippinnes có yêu sách đối với khoảng 60 đảo, đá và bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa.30 Yêu sách đầu tiên được Thomas Cloma, một công dân Phillippines, đưa ra vào năm 1947 khi ông tuyên bố phát hiện ra một nhóm đảo, đá nằm cách bờ Tây đảo Palawan 300 hải lý.

Ngày 17 tháng 5 năm 1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo của quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines. Tuyên bố này đã bị các nước có liên quan phản đối.

Mãi đến tháng 3 năm 1956, Thomas Cloma mới tiếp tục việc “phát hiện” nhóm đảo này. Ông cử một nhóm 40 thủy thủ đổ bộ lên các đảo của quần đảo Trường Sa với mục đích tiến hành chiếm hữu chính thức. Họ cắm cờ Philippines lên một số đảo, trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba)31. Ngày 11 tháng 5 năm 1956, họ tuyên bố các đảo họ đã chiếm đóng được đặt tên là Kalayaan (Đất Tự do), còn Thomas Cloma tự phong mình là Chủ tịch Hội đồng Tối cao Nhà nước Kalayaan32. Tuyên bố này đã bị các nước liên quan phản đối.33

Ngày 15 tháng 5 năm 1956, Thomas Cloma gửi thư cho bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Philippines thông báo về việc chiếm giữ vùng lãnh thổ rộng 64.976 dặm vuông ở phía Tây Palawan, nằm ngoài các vùng nước của Philippines và không thuộc quyền tài phán của bất cứ nước nào và yêu sách chiếm hữu vùng lãnh thổ này dựa trên quyền phát hiện và chiếm đóng, đồng thời gửi kèm theo bản đồ. Tuy tên của các đảo bị thay đổi hoàn toàn, nhưng bản đồ cho thấy Kalayaan bao gồm phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.34

Trong họp báo ngày 19 tháng 5 năm 1956, bộ trưởng ngoại giao Philippines khẳng định rằng nhóm đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa phải thuộc chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Sài Gòn, Bắc Kinh và Đài Loan đều phản đối tuyên bố này. Đài Loan có ý định cử thủy quân đến Trường Sa. Manila lập tức thông báo với Đài Loan và Việt Nam rằng Philippines chưa có yêu sách chính thức về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này.

Ngày 6 tháng 7 năm 1956, Thomas Cloma lại gửi thư yêu cầu chính phủ Philippines cho Kalayaan được hưởng chế độ bảo hộ. Trong công văn trả lời T. Cloma, bộ trưởng ngoại giao Philippines cho rằng ngoài nhóm 7 đảo mà quốc tế gọi là Trường Sa (Spratly), các đảo khác đều là lãnh thổ vô chủ (terra nulius), do đó mọi công dân Philippines cũng như công dân các nước khác đều có quyền tự do khai thác kinh tế và định cư.

Đáp trả “sự kiện T. Cloma”, Việt Nam đã cử tàu tuần tra đến quần đảo Trường Sa vào tháng 8 năm 1956.

Ngày 1 tháng 10 năm 1956 xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa hải quân Đài Loan và nhóm người của T. Cloma ở North Danger Shoal. Người của T. Cloma bị tịch thu hết vũ khí. Chính phủ Philippines hoàn toàn không can thiệp.

Vào thời kỳ 1970-1971, các đơn vị thủy quân Philippines theo lệnh của tổng thống F. Marcos đã chiếm một số đảo của Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn và South Rock. Philippines cũng tổ chức tuần tra trên một loạt đảo và đá nhỏ ở phía Đông Bắc quần đảo.35 Năm 1971, Phillipines một lần nữa cố chiếm đảo Ba Bình nhưng thất bại. Chính quyền Phillippines phản đối sự chiếm đóng của Đài Loan với các lý do: a) Phillippines có danh nghĩa chủ quyền dựa trên sự phát hiện của T.Cloma; b) Trung Quốc chiếm đóng de facto một số đảo nằm dưới sự kiểm soát của các nước đồng minh mà không cho các nước này được biết; c) nhóm đảo Trường Sa nằm trong vùng nước quần đảo của Phillippines36. Cùng với sự phản đối, Phillippines tăng cường quân số trên các đảo lên 1000 người. Một sân bay đã được xây dựng trên đảo Thị Tứ.

Năm 1974 Thomas Cloma chuyển giao “chủ quyền” Kalayaan cho chính phủ Philippines. Đến thời điểm này, Philippines kiểm soát 4 đảo.37

Năm 1978, Philippines đặt quân đội trên 7 đảo của Trường Sa. Ngày 11 tháng 6 năm 1978, tổng thống Philippines sát nhập 7 đảo này vào lãnh thổ Philippines bằng sắc lệnh số 159638, sắc lệnh này đồng thời khẳng định các đảo này “về mặt pháp lý không thuộc bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, giờ đây phải thuộc về Phillippines và nằm dưới quyền tài phán của Phillippines nhờ sự chiếm cứ và quản lý hiệu quả theo đúng luật quốc tế”. Sắc lệnh cũng quy định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo này.39

Ngày 14 tháng 9 năm 1979, tổng thống Philippines tuyên bố rõ Philippines sẽ tiếp tục yêu sách chủ quyền đối với 7 đảo họ đang chiếm đóng chứ không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa. Trong cuộc họp báo này, tổng thống Phillippines nhắc lại nhóm 7 đảo này là vùng lãnh thổ chưa có người chiếm đóng, chưa được biết đến và chưa có người ở, thậm chí chưa được đánh dấu trên các bản đồ trước Thế chiến II, và Phillippines chiếm cứ chúng như lãnh thổ vô chủ (terra nullius).

Ngày 10 tháng 3 năm 2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng hoà 9522 về đường cơ sở, đưa phần lớn các đảo Trường Sa vào quy chế đảo của Philippines. Hành động này của Phillippines lập tức bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối.

Luận thuyết của Phillippines không vững vàng ở chỗ nước này cho rằng các đảo mà mình chiếm giữ là lãnh thổ vô chủ và chưa được biết đến, nhưng trên thực tế, chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Ngay cả khi bỏ qua các giai đoạn lịch sử xa xưa, quần đảo này đã được Pháp chiếm cứ hữu hiệu từ những năm 1930 (quân đội Pháp có mặt trên đảo Thị Tứ từ tháng 4 năm 1933) và sau đó trao lại cho Việt Nam khi Pháp rời khỏi Đông Dương mà không gặp bất cứ sự phản đối nào từ phía các nước, trong đó có Phillippines. Luật quốc tế cũng không quy định một lãnh thổ phải thuộc về một quốc gia chỉ vì nằm gần quốc gia đó nhất. Ngoài ra, việc chiếm đóng và các yêu sách của Phillippines đối với nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay từ ban đầu luôn gặp sự phản đối từ phía các nước khác có liên quan, do đó khó lòng có thể nói đến một sự chiếm cứ hiệu quả và không có tranh chấp theo đúng các nguyên tắc của luật quốc tế.

2) Luận thuyết của Malaysia

Năm 1978, Malaysia đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo An Bang, Đá Kỳ Vân và đá Công Đo dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa.

Năm 1979, Malaysia công bố bản đồ trong đó một số đảo của Trường Sa được đánh dấu là lãnh thổ Malaysia.

Tháng 6 năm 1983, Malaysia chiếm đóng quân sự đảo đầu tiên - Đá Hoa Lau - trong khu vực yêu sách. Tháng 9 năm 1983, Malaysia chính thức tuyên bố nước này quyết định chiếm cứ bãi san hô ngầm James Schoal, Đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, Đá Kỳ Vân và khẳng định các đảo này nằm trong vùng được gọi là “vùng kinh tế biển” của Malaysia.40 Tháng 12 năm 1986, quân đội Malaysia chiếm đảo Đá Kỳ Vân và Kiêu Ngựa.

Tháng 6 năm1999, Malaysia mở rộng chiếm đóng ra Đá Én Ca và bãi Thám Hiểm, nâng tổng số các đảo bãi chiếm đóng của mình ở quần đảo Trường Sa lên bảy đảo, bãi.

Luận thuyết của Malaysia dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế về thềm lục địa. Tuy nhiên, điều 76 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ghi rõ: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biểnlòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”, hoàn toàn không liên quan đến các đảo, đá nổi lên mặt biển trong vùng thềm lục địa. Luận thuyết của Malaysia hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Yêu sách của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử nào.

3) Luận thuyết của Brunei

Brunei chỉ yêu sách chủ quyền đối với đảo Louisa Reef, với luận thuyết đảo này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Brunei. Tuy nhiên, Công ước LHQ về Luật Biển 1982 chỉ công nhận quốc gia ven bờ có “chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió”, quyền tài phán trong việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị về công trình, quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học biển cũng như bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (điều 56). Việc yêu sách chủ quyền đối với các đảo chỉ vì chúng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế là một diễn giải sai lệch các quy định của Công ước. Do đó, luận thuyết của Brunei, tương tự như trường hợp Malaysia, là thiếu thuyết phục và không có cơ sở.

Ở đây, một câu hỏi có thể nảy sinh là: Louisa Reef có phải là một đảo theo qui định của luật quốc tế hay không? Bởi một quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền và thụ đắc chủ quyền đối với đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước). Nếu Louisa Reef là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, Brunei và các nước khác đều không thể yêu sách chủ quyền41. Khi đó nó sẽ là một phần vùng đặc quyền kinh tế mà Brunei có thể có các quyền giới hạn như đã nêu trên. Trong trường hợp này, một vấn đề nữa sẽ phải đặt ra là vùng đặc quyền kinh tế của Brunei có chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Malaysia đòi hỏi hay không.

  1. Kết luận

Những phân tích trên đây cho thấy trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thực tế tranh chấp dai dẳng và phức tạp cũng như ý muốn của các bên khiến việc giải quyết tranh chấp bằng con đường pháp lý hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa, tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì tính chất phức tạp của nó, đòi hỏi một giải pháp tổng thể với các yếu tố pháp lý, lịch sử, chính trị, kinh tế. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, yếu tố pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông cần rất nhiều nỗ lực và thiện chí của các bên liên quan, đặc biệt là Trung Quốc, nước luôn phản đối việc đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án quốc tế bất chấp nhiều lần đề nghị của Việt Nam.

-------

*Thạc sĩ ngành Công pháp quốc tế, Đại học Warszawa
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các góp ý của TS. Dương Danh Huy, TS. Nguyễn Đức Hùng và TS. Lê Vĩnh Trương cho bài viết này.


Tài liệu tham khảo:

1Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.
2Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế, sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988
3 Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền hiện nay, Moscow, 1982
4Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit international, vol.21, 1975
5Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998
6 Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press nr.7574, ngày 27.11.1971
7Monique Chemillier-Gendreau, sđd
8Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa, 1990
9 Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982
10Rowiński Jan, sđd
11Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật kinh tế biển Monaco 2000
12 Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994
13Nguyễn Hông Thao, sđd
14Monique Chemillier-Gendreau, sđd,
15Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302 )
16Monique Chemillier-Gendreau, sđd,
17Nguyến Hồng Thao, sđd
18Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91, tr.40.
19Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981, tr.8-13
20Monique Chemillier-Gendreau, sđd
21Nguyễn Hồng Thao, sđd
22Monique Chemillier-Gendreau, sđd
23Rowiński Jan, sđd
24Monique Chemillier-Gendreau, sđd
25Rowiński Jan, sđd
26Monique Chemillier-Gendreau, sđd
27Dương Danh Huy, „Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai quốc gia Việt Nam trên hai miền Bắc, Nam”, trang web Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ngày 9.11.2011 (http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1288-trong-chin-tranh-54-75-co-mt-hay-hai-quc-gia-tren-hai-min-bc-nam )
28Dương Danh Huy, sđd
29Từ Đặng Minh Thu, „Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.
30Michael Hindley, James Bridge, “South China Sea: the Spratly and Paracel Islands Dispute”, The World Today, London, vol.50 (June 1994), tr.111
31Quốc Tuấn, „Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoaliên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975
32Jan Rowinski, sđd
33Lee G. Cordner, “The Spratly Island dispute and the Law of the Sea”, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994, trang 62
34Samuels Marwyn S., sđd
35Jan Rowiński, sđd
36Lee G. Cordner, sđd
37 International Herald Tribune, số ngày 28.3.1974
38 Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”. South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91
39Lee G. Cordner, sđd
40Jan Rowiński, sđd
41Xem các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp giữa Quatar và Barhan (http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7029.pdf ) và chủ quyền đói với đảo South Ledge trong tranh chấp giữa Malaysia và Singapore (http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14506.pdf )

Saturday, 21 April 2012

Linh hồn bé mọn (Zbigniew Herbert)




Tôi không thấy ở bất cứ đâu Freud vượt lên được tâm lý học của chính mình, và tôi chẳng rõ bằng cách nào ông muốn giải thoát những người bệnh khỏi sự đau đớn mà bản thân ông, như một bác sỹ, cũng đang phải chịu đựng. (Carl Gustav Jung)

Tôi không còn nhớ rõ mình đã bắt gặp văn bản ấy như thế nào. Có lẽ đó là vào thời gian tôi viết tiểu luận về Akrópolis, do công việc rất chật vật nên như thường lệ, tôi trốn vào thư sách, đọc các tiểu luận, các bài viết, bài báo rải rác trong các tạp chí khảo cổ học chuyên ngành và lập các ghi chép về chúng, dẫu lòng vẫn hồ nghi chẳng biết chúng có ích lợi gì không. Rõ ràng là tôi đã tự dối mình. Như thể tôi muốn biện minh rằng mình không vô công rồi nghề, rằng mình không rơi vào trạng thái tinh thần kiệt quệ, bởi vậy tôi làm một công việc thay thế, vô ích và chán ngán, với hy vọng từ sự vô ích và chán ngán đó tia sáng cảm hứng bất chợt lóe lên. Trong khi đó, mỗi ngăn kéo mục lục chuyên đề trong các thư viện tôi viếng thăm đều chứa hàng trăm tựa sách bằng các thứ tiếng khác nhau, hồ như muốn nói: „Anh vất vả mà làm gì, mọi thứ đều đã được viết ra, chẳng có gì để bổ sung trong lĩnh vực này. Vai trò duy nhất mà anh có thể làm là vai trò của người biên soạn”.

Chính trong thời gian bất an và lúng túng này, tôi bắt gặp bức thư Sigmund Freud gửi Romain Rolland nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông. Bức thư, theo như tính chất của nó, được dành để đưa vào cuốn sách lưu niệm mà bạn bè thân thiết xuất bản nhằm bày tỏ lòng trân trọng với nhà văn lớn.

Bỏ qua hình thức thư tín của phần mở đầu và kết thúc, có thể xem bức thư của Freud như một tiểu luận, và nó càng thú vị hơn khi người khởi thảo môn phân tâm học sử dụng phương pháp này với chính mình, hay nói chính xác hơn, với một tình tiết của trải nghiệm bản thân. Tình tiết này cách thời điểm viết thư hơn ba mươi năm và nhìn bề ngoài thì hoàn toàn nhàm chán, nó xuất hiện một cách dai dẳng và ngoan cố trong vùng ý thức – như Freud thú nhận - mà chẳng có nguyên nhân hay lý do nào rõ rệt.

Đó là năm 1904, như vào mỗi cuối tháng tám đầu tháng chín hàng năm, Freud và em trai quyết định nghỉ hè bên bờ Địa Trung Hải. Nhưng lần này kỳ nghỉ của họ ngắn hơn, nên họ thôi không du hành nước Ý như mọi khi, thay vào đó họ đến Trieste, rồi từ đó định ra đảo Corfu nghỉ vài ngày. Một người quen tình cờ gặp ở Trieste khuyên họ không nên thực hiện dự định ấy. Vào thời gian đó trên đảo rất nóng – anh ta nói – một chuyến tham quan Athens sẽ dễ chịu hơn nhiều. Đi bằng tàu thủy sẽ rất có lợi, vì còn dư ba ngày để thăm thú thành phố.

Đề nghị xem ra sáng suốt và hấp dẫn này – thật kỳ cục – lại khiến tâm trạng hai anh em trở nên khá u ám. Họ lang thang trong thành phố, không mấy dứt khoát, và thảo luận về dự định đi Athens chẳng lấy gì làm sôi nổi, họ chỉ nhìn thấy rặt những trở ngại. Nhưng tới giờ văn phòng Lloyd mở cửa, họ vẫn xuất hiện bên quầy và mua vé, như thể tạm quên đi trong chốc lát những khó chịu vừa qua.

Vào buổi chiều hôm chúng tôi đến, khi đang ở Akropolis và ngắm nhìn bao quát phong cảnh, đột nhiên một ý nghĩ kỳ cục này chợt đến với tôi: „Vậy là tất cả những điều này thực sự tồn tại, y như ta đã được học ở trường”. Nhận xét đó không mấy đặc biệt, nhưng thể hiện chính xác cảm nhận của tất cả những người lần đầu đứng trước Colosseum, trước tượng thần Vệ nữ thành Milo hay bức chân dung nàng Mona Lisa. Và Freud đưa ra một thăm dò mang tính phân tích vào sâu trong trải nghiệm và cảm nhận này, để chỉ ra rằng nó hoàn toàn không thông thường như người ta tưởng.

Theo người khởi thảo môn phân tâm học, ở đây xảy ra trường hợp đặc biệt đồng tồn tại trong cùng một tâm thức hai thái độ trái ngược và hai phản ứng hoàn toàn khác nhau đối với thực tại nảy sinh từ chúng. Dĩ nhiên đó không phải là một sự phân hóa bệnh lý của cái tôi, nhưng trong cá nhân hình thành một khe nứt bất an và mối quan hệ đơn giản giữa chủ thể và đối tượng trở nên bị xáo trộn. Ta hãy xem xét kỹ hơn hiện tượng này.

Phản ứng đặc trưng nảy sinh từ thái độ thứ nhất là sự ngạc nhiên, rằng Akropolis đang được nhìn thấy kia thật sự tồn tại, như thể trước đó sự hiện hữu thực sự của nó vốn bị nghi ngờ; ngược lại, phản ứng đặc thù của thái độ thứ hai là „ngạc nhiên vì sự ngạc nhiên đó”, bởi vì hiện thực Akropolis chưa bao giờ từng là đối tượng của hoài nghi.

Để minh họa cho thái độ thứ nhất, Freud nói rằng có thể so sánh nó, với đôi chút cường điệu, với phản ứng của một người đang lướt trên hồ Loch Ness ở Scotland thình lình nhìn thấy thân hình con quái vật nổi tiếng bị kéo lên bờ, khi ấy anh ta buộc phải công nhận: nó tồn tại thực sự, cái con quái vật biển mà ta chưa bao giờ tin ấy. Thái độ thứ hai, ngược lại, gần với chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, chấp nhận vô điều kiện chứng thực của các giác quan, hoàn toàn mở ngỏ và không bị xáo trộn bởi bất cứ phản chiếu nào của thích thú hay kinh sợ.

Diễn giải tự nhiên nhất của hai cảm giác „kình địch” này là khẳng định rằng có sự khác biệt cơ bản giữa điều ta trải nghiệm trực tiếp và điều ta được nghe hay biết qua sách vở, và rằng chính sự chồng lấp của kiến thức với sở thị dẫn đến những cảm giác mâu thuẫn đó cùng sự xáo trộn cảm nhận thực tại. Song Freud không chấp nhận diễn giải này bởi theo ông nó quá sáo mòn và chẳng giải thích được điều gì.

Freud cố gắng truy dấu tại sao ở Trieste ông lại chối bỏ viễn cảnh đi Athens hấp dẫn đến thế, và tại sao ở Akropolis niềm vui sướng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ trực tiếp với tuyệt tác kiến trúc lại bị bóng đen nặng nề của chủ nghĩa hoài nghi che phủ. „Theo chứng thực của các giác quan, giờ đây tôi đang ở Akropolis, chỉ là tôi không thể nào tin được điều đó”, hay chính cảm giác đó được thể hiện một cách rõ ràng hơn: „Điều bây giờ tôi đang nhìn thấy không phải là thực”.

Chủ nghĩa hoài nghi – chính xác là từ đó. Không chỉ là một từ – theo Freud – mà còn là điều gì đó lớn hơn nhiều, bởi đây là một cơ chế tâm lý ăn sâu trong con người. Chúng ta biết rõ hoạt động của cơ chế tâm lý này từ kinh nghiệm thông thường. Mỗi khi gặp bất hạnh, chúng ta cự tuyệt nó bằng tiếng kêu: „không, không thể thế được!”, như thể ta cố gắng loại trừ phần hiện thực này, chối bỏ nó khỏi phạm vi ý thức của chúng ta. Và tác giả dẫn ra một ví dụ văn học – trích đoạn trường ca „Ay de mi Alhama”, trong đó phản ứng phòng vệ này được biểu lộ rõ ràng. Vua Boabdil nhận được tin Alhama thất thủ. Ngài hiểu rõ rằng điều đó có nghĩa là vương triều của ngài chấm dứt. Song vì không muốn biết điều đó, ngài xử sự với tin chẳng lành như thể nó chưa đến được với mình, như thể việc chối bỏ nó có thể thay đổi được diễn biến tình hình.

Cartas le fueron venidas,
de que alhama era ganada
Las cartas echó en el fuego
y al mensagero mataba.

Có thể dễ dàng hiểu được hành xử và tâm trạng nhà vua. Đơn giản là ngài cố gắng chiến thắng sự bất lực của mình, chiến thắng cảm giác rằng quyền lực của ngài không còn vô biên như xưa nữa, bởi vậy ngài ném bức thư báo tin thất bại vào lửa và ra lệnh giết các sứ giả. Không thể thay đổi số mệnh, ngài hủy diệt phương tiện thông tin.

Phản ứng phòng vệ này không khó lý giải và có thể được minh họa bằng hàng loạt ví dụ ít cực đoan hơn, trong đời thường cũng như trong văn học, gần gũi hơn với kinh nghiệm thông thường. Freud chú ý đến mặt thứ hai của chính sự vận hành cơ chế tâm lý này, như ông khẳng định, cái mặt tối, phi lô gích và mâu thuẫn với bản năng sinh tồn. Và ông cố gắng chỉ ra rằng con người cũng phản ứng tương tự như trong trường hợp bất hạnh – nghĩa là chối bỏ hiện thực - khi đột nhiên gặp hạnh phúc bất ngờ, gặp vận may, phần thưởng lớn, được người con gái mình thầm yêu chấp nhận lời cầu hôn. Phản ứng này được biểu lộ rõ trong câu tục ngữ có mặt trong mọi ngôn ngữ châu Âu: „quá tốt đẹp nên không thể là thực”. Trong khi sự phòng vệ chống lại mệnh rủi là điều hiển nhiên, thì vì sao chúng ta lại có phản xạ hoài nghi và không tin vào điều mang lại niềm vui, là nụ cười của số phận – Freud hỏi. Ông gọi tình thế mâu thuẫn này là „tình thế thất bại bởi thành công” và cho rằng con người mắc bệnh không chỉ vì không đạt được những khao khát trong đời, mà cả khi những khao khát mãnh liệt được thỏa mãn.

Việc tự phân tích tâm lý này sẽ thiếu sót nếu cụ già tám mươi tuổi Sigmund Freud vào thời điểm viết bức-thư-tiểu-luận này không quay trở lại thời thơ ấu và thời hoa niên trong ký ức. Ông nhớ lại sự nghèo khổ của gia đình, không khí ngột ngạt, đầy cấm đoán, tuổi trẻ với các khả năng và chân trời bị hạn chế.

Không, Freud không bao giờ nghi ngờ sự tồn tại của Akropolis, nhưng ông chưa từng có chút hy vọng rằng khi nào đó mình sẽ được tận mắt nhìn thấy nó. Và trong cái ngày điều đó xảy ra, ông những muốn nói với em trai: „Em có nhớ thời trẻ của chúng mình không? Hàng ngày mình cứ mãi đi đến trường trên một con đường, còn chủ nhật thì đến Prater hoặc xó xỉnh nào mình biết rõ trong thành phố. Thế mà bây giờ mình đang ở Athens, trên đỉnh Akropolis! Mình đã trải qua chặng đường mới dài làm sao!” - „Và nếu có thể so sánh những điều nhỏ bé với những điều lớn lao – ông viết tiếp – liệu Napoleon I trong ngày lên ngôi ở Notre Dame có nói với em trai rằng: „Cha của chúng ta sẽ nói gì nếu bây giờ ông có thể có mặt ở đây nhỉ?”.”

Đó là biểu hiện của niềm vui sướng tự hào, nhưng nó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc và gần như ngay lập tức bị xáo trộn bởi ý thức về việc vượt qua điều cấm kỵ, việc hái trái cấm, cảm giác tội lỗi sâu thẳm. Cảm giác tội lỗi ư? Phải, Freud đáp.

Có lỗi với ai? Cha Freud là một tiểu thương không giàu có lắm, học vấn không nhiều, và Akropolis chẳng có mấy ý nghĩa đối với ông. Nhưng các con trai đã hơn cha. Họ thật quá vượt trội so với cuộc hiện sinh bình thường của ông, họ „truất ngôi” ông và chính trong sự xâm phạm vào thần tượng người cha này cần truy dấu cảm giác tội lỗi đó, cảm giác đã tước đoạt đi niềm vui lẽ ra phải là một phần của những người đang tiếp xúc với tuyệt tác nghệ thuật.

Tại đây xuất hiện những lời phê bình của Freud : „Phải chăng mặc cảm người cha đã ngấm hết hoàn toàn vào quan điểm của trường phái Freud và chứng minh rằng nó chẳng thực hiện được bất cứ sự giải phóng đáng kể nào cho con người khỏi thuyết định mệnh của „câu chuyện gia đình”? Mặc cảm này với tất cả sự cứng nhắc định mệnh của nó và tính dễ kích động thái quá là một chức năng tôn giáo bị hiểu sai...”.

Trong bức-thư-luận-văn được viết vào cuối đời này, có lẽ chủ nghĩa bi quan sâu sắc của tác giả thể hiện nhiều hơn ở các thư văn khác. Đây không chỉ là chủ nghĩa bi quan thuộc về nhận thức, mà còn liên quan đến ngay chính bản chất con người, đến sự bất lực căn bản của anh ta trong việc đạt được hạnh phúc.

*

Tôi cố gắng tóm tắt một cách khả dĩ trung thành dòng tư duy của người khởi thảo môn tâm lý học chuyên sâu trong thử nghiệm nhỏ qua thư của ông nhằm giải thích một hiện tượng tâm lý cụ thể. Bởi thử nghiệm này được viết ra tuyệt hay và đầy khơi gợi, tôi bắt đầu suy nghĩ xem mình đã từng gặp điều gì đó tương tự hay chưa. Giống như khi đọc những cuốn sách giáo khoa bệnh học tâm thần, ta nhận ra ở mình, qua thấu cảm, những căn bệnh khác nhau được mô tả trong đó.

Trước hết tôi tự hỏi cảm giác tội lỗi của tôi trước các tuyệt tác như thế nào. Câu trả lời không hề dễ dàng, sự thú nhận đánh thức con quỷ của chủ nghĩa chủ quan, bắt ta phải nghĩ về thời thơ ấu, về những thất bại trong cuộc sống hay những người yêu dấu đã vắng xa, những người thân đã khuất của chúng ta, những người không được chia sẻ niềm vui sướng tuôn trào khi ta được trải nghiệm những điều đẹp đẽ.

Và nó là thế này: khi đứng ở Akropolis, tôi tưởng đến linh hồn những người bạn thua thiệt của mình, thương tiếc cho số phận họ, không phải vì tử thần nghiệt ngã, mà thương cảm vì họ đã bị tước đoạt mất sự huy hoàng vô tận của thế giới. Tôi đã gieo một hạt anh túc lên nấm mồ bị lãng quên.

Sở dĩ tôi dẫu sao cũng đã không bị rơi vào chủ nghĩa hoài nghi mà Freud miêu tả, vào nỗi xáo trộn của niềm tin về sự tồn tại thực sự của những gì tôi nhìn thấy, thì đó là vì một số nguyên nhân chính. Một khi tôi đã được chọn – tôi nghĩ – và điều đó chẳng vì công lao gì sất, được chọn trong trò chơi số phận mù lòa, vậy thì tôi phải ban cho lựa chọn đó một ý nghĩa, tước đi tính ngẫu nhiên và tùy tiện của nó. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là đối đầu với sự lựa chọn và biến nó thành của tôi. Tưởng tượng rằng tôi là người đại diện hoặc đại biểu của tất cả những người đã không được toại nguyện. Và giống như khi là người đại diện hay đại biểu, phải quên chính mình đi, dốc ra tất cả sự nhạy cảm và năng lực hiểu của mình, để Akropolis, các giáo đường, Mona Lisa tái diễn trong tôi, dĩ nhiên trong chừng mực giới hạn của trí óc và trái tim tôi. Và để tôi có thể truyền đạt lại cho người khác những gì mình lĩnh hội được từ chúng.

Việc mình luôn cảm thấy không tự tin trước các tuyệt tác, tôi cho là chuyện tự nhiên. Các tuyệt tác có cái quyền tốt đẹp là phá vỡ lòng tự tin kiêu ngạo và truy vấn tầm quan trọng của chúng ta. Chúng lấy đi một phần hiện thực của tôi, bắt tôi phải im lặng và ngừng tất bật vì những chuyện linh tinh, ngu ngốc. Chúng cũng không cho phép „tôi – như thánh Thomas More nói - cứ lúng túng mãi quanh chuyện vượt lên một thứ được gọi là „cái tôi” „. Nếu chấp thuận gọi tất cả những điều này là cuộc giao dịch, thì đó là một giao dịch có lợi nhất có thể. Vì sự khiêm nhường và yên lặng, các tuyệt tác đổi cho tôi „mật ngọt và ánh sáng” mà tự tôi không thể tạo ra trong chính mình.

Một trong những tội lỗi chí tử của văn hóa đương đại là nó tránh đương đầu trực tiếp với các giá trị tối cao, cũng như lòng tin đầy ngạo mạn rằng chúng ta có thể tồn tại không cần các khuôn mẫu (thẩm mỹ cũng như đạo đức), bởi vị thế của chúng ta trong thế giới được cho là phi thường và không gì sánh được. Chính vì vậy ta chối bỏ sự trợ giúp của truyền thống, bì bõm trong nỗi cô đơn của mình, đào bới trong những ngóc ngách tăm tối của linh hồn bé mọn bơ vơ.

Một quan điểm sai lầm đang tồn tại là truyền thống giống như khối tài sản thừa kế và người ta thừa kế nó một cách máy móc, không cần gắng sức, bởi vậy những người phản đối việc thừa kế cùng những ưu tiên vô lý đứng ra phản đối truyền thống. Trong khi đó, mỗi tiếp xúc với quá khứ thực chất đòi hỏi nỗ lực, công sức, do đó nó khó khăn và không thú vị, bởi „cái tôi” nhỏ bé của chúng ta kêu lên và tự vệ trước điều đó.

Tôi luôn tha thiết muốn giữ niềm tin rằng các tác phẩm tinh thần vĩ đại khách quan hơn chúng ta. Và chúng sẽ phán xét chúng ta. Ai đó đã nói rất chí lý rằng không chỉ chúng ta đọc Homer, xem bích họa Giotto, nghe Mozart, mà Homer, Giotto và Mozart đang chăm chú nhìn, nghe chúng ta, khẳng định sự phù phiếm và ngu ngốc của chúng ta. Những kẻ không tưởng tội nghiệp, những kẻ đốt đền, những kẻ thanh lý quá khứ giống như những kẻ điên tàn phá các tác phẩm nghệ thuật, bởi họ không thể tha thứ cho sự bình yên, phẩm giá và hơi mát tỏa ra từ chúng.

(Thái Linh dịch từ tập tiểu luận "Mê cung bên bờ biển", Nhà xuất bản Tập san Văn học, Warszawa 2000)