Friday, 31 July 2009

Cẩn thận kẻo nghiện

(Tặng các friends ở Facebook :))

Thời nay, hơn bao giờ hết, chúng ta có thể bị nghiện một thứ gì đó. Nghiện rượu, nghiện ma túy, nghiện tình dục, cờ bạc ... đã là những căn bệnh xa xưa. Bây giờ, thê giới hiện đại làm chúng ta nghiện internet, nghiện chơi game, nghiện solarium, nghiện mua sắm, nghiện các thứ máy móc... Các bác sỹ tâm lý nói rằng một bệnh nhân nghiện thường nghiện vài thứ cùng một lúc, hiếm khi gặp trường hợp chỉ nghiện một thứ duy nhất.

Khi nào thì một người bị coi là mắc bệnh nghiện dưới góc nhìn của các bác sỹ? Theo định nghĩa, nghiện là khi nếu không chữa trị, tình trạng đó sẽ dẫn đến cái chết. Một người mắc bệnh nghiện, dù là nghiện ma túy hay nghiện internet cũng đều nguy hiểm như nhau. Thật khó tin, phải không? Người ta thường cho rằng nghiện rượu, nghiện ma túy hay các hóa chất mới là bệnh, còn nghiện internet, nghiện cờ bạc... chỉ là vấn đề ý chí không đủ mạnh. Nhưng một người nghiện internet sẽ ngồi lỳ bên máy tính cho đến khi các cơ bụng và xương sống của anh ta biến mất, anh ta sẽ không buồn ăn ngay cả miếng pizza đặt qua điện thoại, những người nghiện solarium sẽ chết vì ung thư da, người nghiện trò chơi cờ bạc sẽ tự tử vì phá sản hoặc thậm chí vì tình trạng mê sảng (delirium): anh ta nhìn thấy các ảo ảnh, ròi bọ, chuột bạch v.v nếu bị ngắt ra khỏi trò chơi, giống như tất cả các con nghiện khác khi bị ngắt ra khỏi thứ mình nghiện. Tất cả các loại bệnh nghiện đều có cùng một cơ chế như nhau.


Thời điểm khi người ta bắt đầu nghiện một thứ gì đó thường bị bỏ qua, người ta không nhận thấy nó. Khi ta bắt đầu sử dụng/chơi với một thứ gì đó (vật dụng, hóa chất, hành xử) lâu hơn cần thiết, ta luôn có rủi ro sẽ vĩnh viễn ở lại cùng nó. Người ta thường bỏ lỡ mất thời điểm khi có thể dừng lại được. Khi không thể dứng dậy rời khỏi internet, người ta tìm đủ mọi lý do để biện bạch cho mình và biện bạch với người xung quanh. Trong giai đoạn đầu tiên, người ta mất cảm giác về thời gian. Họ có cảm tưởng như mình chỉ làm việc đó một chút thôi, rất nhanh, nhưng người ngoài lại nói rằng họ đã làm việc đó hàng giờ đồng hồ. Họ bắt đầu sử dụng thời gian khác đi, đi muộn giờ, quên các cuộc gặp, giả vờ ốm để nghỉ việc ở nhà v.v...

Trong giai đoạn thứ hai, người ta bắt đầu vay mượn tứ tung, ăn cắp, ăn trộm. Người ta trở thành những kẻ dối trá, lừa đảo, trộm cắp. Các giới hạn đạo đức bị phá vỡ. Những người nghiện đánh mất bản ngã (identity) của mình, họ không còn biết gì về bản thân mình nữa. Việc chữa nghiện đồng thời cũng là việc xây dựng lại bản ngã của họ từ đầu.

Người ta thường cho rằng chỉ những người yếu đuối, kém ý chí mới bị nghiện một thứ gì đó. Không hẳn là như vậy. Chỉ cần bạn thường xuyên lặp đi lặp lại một hành động nào đó với liều lượng lớn, bạn sẽ nghiện nó, bất kể bạn có cá tính như thế nào. Vì vậy, cần tránh làm một việc gì đó vào giờ nhất định trong ngày, lặp đi lặp lại, với liều lượng lớn, nếu bạn không muốn nghiện nó.

Thời xưa, khi một nguời bị nghiện một thứ gì đó, anh ta không có nhiều điều kiện để truyền bá nó. Ngày nay, chúng ta có vô số cách để liên lạc với nhau dễ dàng. Chỉ cần một người nghiện làm quiz trên mạng xã hội Facebook chẳng hạn, anh ta sẽ dễ dàng rủ rê rất nhiều người khác cùng chơi trò đó với mình. Thêm vào đó, việc gây nghiện cho người khác đã trở thành một công nghệ tinh vi, đằng sau nó là những ngành công nghiệp, những món tiền lớn mà người ta không dễ dàng bỏ qua. Bà Luba Szawdyn, một chuyên gia chữa nghiện người Ba Lan kể rằng có lần bà đi dự một hội nghị quốc tế và vào nhầm phòng họp của một chương trình lớn nhằm sản xuất những vật dụng gây cám dỗ, bà gặp ở đó các nhà tâm lý học, xã hội học tên tuổi tầm cỡ quốc tế. Họ được nhận những khoản tiền lớn cho việc nghĩ ra phương pháp khiến người ta phải nghiện sản phẩm.

Đâu đâu cũng đầy cám dỗ và càng ngày các cám dỗ càng khó cưỡng lại, thế giới hiện đại là như vậy, vì thế chúng ta luôn phải thật cương quyết đặt ra cho mình các giới hạn, và luôn nhớ rằng có rất nhiều nguời muốn điều khiển chúng ta, đừng để họ làm được điều đó.

Và cuối cùng, ta cũng nên biết rằng: có thể bị nghiện cả.... bác sỹ chữa nghiện!

Tuesday, 7 July 2009

10 năm Chương trình Dịch thuật Copyright Poland



Chương trình Dịch thuật Copyright Poland của Viện Sách (Book Institute) đã hoạt động từ 10 năm nay. Hiện nay Copyright Poland đã trở thành biểu tượng của văn học Ba Lan ở nước ngoài. Chương trình có thể tài trợ cho các nhà xuất bản đến 100% chi phí dịch sách và mua bản quyền, giúp đỡ tiếp thị và tổ chức các cuộc gặp gỡ với tác giả. Trong 10 năm hoạt động, chương trình đã tài trợ cho việc xuất bản 800 cuốn sách ở hơn 40 nước trên thế giới, với số tiền tài trợ lên đến 8 triệu zloty (khoảng gần 2 triệu Euro).

Theo tổng kết của Chương trình Dịch thuật Copyright Poland, các tác giả được dịch nhiều nhất theo thứ tự là:

1. Olga Tokarczuk và Andrzej Stasiuk
2. Ryszard Kapuściński
3. Witold Gombrowicz
4. Zbigniew Hebert
5. Tadeusz Rożewicz
6. Czesław Miłosz
7. Paweł Huelle
8. Magdalena Tulli và Marek Krajewski
9. Leszek Kołakowski và Andrzej Sapkowski
10. Gustaw Herling-Grudz, Hanna Krall, Wójciech Kuczok, Stanisław Lem, Dorota Masłowska, Sławomir Mrożek, Jerzy Pilch, Wisława Szymborska, Dorota Terakowska, Michał Witkowski.

Các cuốn sách được dịch nhiều nhất:

1. Đi đến Babadag (Andrzej Stasiuk) và Thời cổ xưa và những thời khác (Olga Tokarczuk)
2. Du hành cùng Herodotus (Ryszard Kapuściński)
3. Gỗ mun (Ryszard Kapuściński)

Những ngôn ngữ được dịch ra nhiều nhất:

1. Đức (86)
2. Ukraine (78)
3. Nga (68)
4. Séc (62)
5. Pháp (59)
6. Hungary (56)
7. Tây Ban Nha (47)
8. Anh (43)
9. Litva (43)
10. Bulgary (35)

Wednesday, 1 July 2009

Hội nghị quốc tế bà mẹ trẻ em tại Paris :)


Hội nghị được tổ chức vào những ngày cuối tháng 6 năm 2009, nhằm mục đích thúc đẩy ngành kinh doanh dưa lê của các bà mẹ trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo điều kiện cho trẻ em phát triển về thể lực cũng như văn hóa bằng các hoạt động cụ thể, sinh động. Đến dự hội nghị có các đại biểu chính là Hà Dương (từ Hà Nội), Bích Kiều (Vienna), Thái Linh (Warszawa) và Lan Thương (Paris) và các đại biểu nhí là An, Hy và Bonbon.

Trong những ngày diễn ra đại hội, các đại biểu đã có các hoạt động bổ ích và lý thú. Sau đây là một vài hình ảnh:


Thăm bảo tàng Louvre



Hóng gió sông Seine




paris03

Lê la khắp chốn cùng nơi


Di tích lịch sử: nơi làm việc của đại biểu Hà Dương :))

Dưới bầu trời Paris



Thăm viện bảo tàng tiến hóa


dinner2

dinner3

Ăn tối ở quán Le Sud (đặc sản miền Nam)...

banParis06

banParis07

và bữa khác ở Le Procope (quán ăn cổ nhất Paris)


Hội nghị đã thành công rực rỡ, hàng tấn dưa lê được thanh lý, các đại biểu nhí được luyện tập thể lực với các bài tập đi bộ và trèo lên trèo xuống metro, đã có tiến bộ rõ rệt.

Friday, 19 June 2009

Hai mươi năm cuộc đời

Ngày này cách đây đúng hai mươi năm, 19.6.1989, tôi đặt chân đến Ba Lan.

Khi đó tôi mười bốn tuổi. Từ Hà Nội, tôi đi máy bay một mình sang Moscow, ở đó vài ngày chờ một đoàn công tác rồi cùng họ đi tàu sang Warszawa. Mẹ đón tôi ở sân ga trung tâm, khi đó gần như là ga tàu hoành tráng nhất Đông Âu. Tôi bước xuống tàu, bước vào một cuộc sống mới, một khúc ngoặt của đời mình.

Khi đó tôi còn quá nhỏ để nhận thức được những gì đang xảy ra quanh mình, để hiểu rằng những ngày ấy, đất nước Ba Lan đang trải qua những giờ phút lịch sử. Hai mươi năm sau, ngày tôi dự lễ khai mạc Hội nghị thế giới các dịch giả văn học Ba Lan ở Kraków cũng chính là ngày các nhân vật quan trọng của châu Âu đến đây, kỷ niệm 20 năm người dân Ba Lan giành được tự do: ngày 4.6. Đêm hôm đó, sau buổi gặp gỡ các dịch giả Kapuściński, chúng tôi nâng cốc uống mừng tự do, mừng Ba Lan, trong một niềm ngất ngây khó tả. Đó cũng chính là 20 năm kể từ ngày người ta xuất bản rộng rãi các tác phẩm của Kapuściński - nhà văn, nhà báo vĩ đại của thế kỷ.

Hai mươi năm qua, tôi chứng kiến những đổi thay bằng cặp mắt của một đứa trẻ, của một cô gái, rồi của một phụ nữ. Ngày tôi mới sang Ba Lan, người Việt chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay: các nhân viên thương vụ, sứ quán, và vài sinh viên, nghiên cứu sinh. Có lần, mẹ tôi đi thăm một cơ sở ở tỉnh nọ, nhân viên của cả cơ quan đó kéo đến để nhìn xem... người Việt Nam đầu cua tai nheo ra sao! Bây giờ thì đồng bào tôi đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm trên đất nước này, với bao chuyện buồn có, vui có, cay đắng và tủi nhục cũng có...

Cộng đồng người Việt đã trải qua mấy thời kỳ, từ những ngày „đánh” quần bò, máy tính, đồng hồ... sang Nga, tạo nên một thế hệ các „tướng”, các „soái” đầu tiên. Đó cũng là thời kỳ mà những người Ba Lan tháo vát, nhanh nhẹn, biết nắm cơ hội của kinh tế thị trường... giàu lên nhanh chóng. Rồi đến thời kỳ khởi đầu bằng cuộc „xuống đường” bán hàng của các cô thợ may Việt Nam ở Łodź. Đây thực sự là một cuộc cách mạng. Từ đó, cộng đồng người Việt ở Ba Lan bắt đầu biết thế nào là bán hàng. Nhưng bán hàng thời đó cũng khác bây giờ. Chỉ cần có một tấm ni lông trải ra, đổ hổ lốn lên đấy linh tinh đủ các thứ hàng „quốc hồn quốc túy” như áo phông, áo xoa, áo pi-lot, tượng gỗ, áo ki-mô-nô, vòng ốc... những thứ mà bây giờ có cho người ta cũng còn phải suy nghĩ xem có lấy hay không, thế là người ta xúm lại, vòng trong vòng ngoài, tíu ta tíu tít, chỉ một buổi là bán hết cả túi hàng to, và mỗi buổi như thế người bán hàng có thể lãi được vài trăm đô la. Thời đó vẫn còn là cái thời của „cơn mưa vàng”. Rồi đến thời kỳ hoàng kim của chợ Sân Vận Động, người Việt bán hàng „có tổ chức” ở khu chợ trời lớn nhất Đông Âu. Từ ngày Sân Vận Động „tấc đất tấc vàng”, để có quyền thuê một cái ki ốt sắt bé tí cũng phải tốn cả chục, thậm chí cả trăm ngàn đô la, đến bây giờ đã gần như tan rã, chỉ còn sót lại những người nghèo nhất, chậm chân nhất. Những ai nhanh chân và có chút vốn đều đã chuyển vào các khu trung tâm thương mại. Khang trang, lịch sự, hiện đại, theo tiêu chuẩn châu Âu, so với nhưng tấm ni lông trải ngoài chợ năm xưa thì một trời một vực. Nhưng thị trường cũng đã thay đổi một trời một vực, khó khăn hơn rất nhiều, người ta kiếm tiền vất vả hơn rất nhiều, các tệ nạn, những chuyện lừa đảo, „bùng” nợ... cũng ngày một nhiều hơn. Những ngày này chính là thời điểm rất khó khăn của cộng đồng người Việt ở Ba Lan, trong bối cảnh khó khăn chung và khủng hoảng toàn cầu, dù không đến mức bi đát như ở các nước Đông Âu khác, hay như ở Nga, nhưng tôi cũng luôn nghe thấy những chuyện đau lòng.

Hai mươi năm, xã hội Ba Lan cũng đã thay đổi rất nhiều. Và tôi cảm thấy mình may mắn vì được làm chứng nhân cho những thay đổi ấy, điều mà không phải ai cũng có được. Hai mươi năm cuộc đời, không phải là quá dài nhưng cũng thừa đủ để một đứa trẻ sơ sinh trở thành người lớn. Hai mươi năm trưởng thành của tôi, những năm tháng quan trọng nhất trong đời mình, tôi đã trải qua ở đây, trên mảnh đất Ba Lan thân yêu này, đất nước của Chopin, của Szymborska và Kapuściński. Ở đây tôi đã có những tình yêu, một gia đình, một mái ấm, những công việc mình yêu thích và những người bạn. Có cả những dại khờ, va vấp. Nhưng nếu phải nói gọn lại trong một câu, thì tôi sẽ nói rằng: đó là hai mươi năm hạnh phúc của đời tôi.

(Vài dòng lộn xộn, để ghi nhớ một ngày quan trọng trong đời.)

Monday, 15 June 2009

Chiếc áo của Apollo

Láng giềng của Simon là Apollo – một người không đoán được tuổi, gầy và ít nói. Anh đứng trước nhà và đang là áo trên bàn. Anh có chiếc bàn là than to, cũ và rỉ sét. Cái áo còn cũ hơn. Để miêu tả nó, phải dùng đến ngôn ngữ của các nhà phê bình nghệ thuật, của những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại đỏng đảnh, các chuyên gia của chủ nghĩa tuyệt đỉnh, nghệ thuật thị giác và chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng. Đó chính là tuyệt tác của nghệ thuật ghép vải, nghệ thuật phi hình, nghệ thuật cắt dán và nghệ thuật quần chúng, là màn biểu diễn trí tưởng tượng tót vời nhất của những người thợ may mà chúng tôi đã đi ngang trên đường từ Kampala đến đây. Bởi vì chiếc áo này hẳn đã phải thủng không biết bao nhiêu lần, có không biết bao nhiêu miếng và mẩu của đủ thứ vải, màu và chất liệu khác nhau, đến mức không cách gì xác định được màu sắc và chất vải của cái áo thủy tổ nguyên bản đầu tiên, cái áo đã khởi đầu cho cả quá trình sửa đổi, biến hình dài lâu mà kết quả của nó giờ đây đang nằm trước mặt Apollo trên cái bàn dùng để là quần áo.

(Trích Gỗ Mun, R. Kapuściński)

Sunday, 14 June 2009

Ảnh mới nhận



Xem ra dư âm của hội nghị vẫn còn :) Đây là 2 bức ảnh chụp các dịch giả Kapuściński mình vừa nhận được (click vào ảnh thì xem được rõ hơn). Ảnh của Book Institute, do Marta Jedras chụp. À, ở trong tấm ảnh bên trên có chị người Hàn Quốc đứng sau lưng mình tên là Estera Choi, hơn mình 4 tuổi, Head of the Literature Translation Department, Hankuk University of Foreign Studies. Chị này đã dịch Gỗ mun, bây giờ đang dịch Du hành cùng Herodotus, ngược với mình, nên 2 chị em trò chuyện rất nhiều. Bạn Marcus hết mong mình đoạt chức hoa hậu nhé :) Thôi an ủi bạn là mình chắc chắn đoạt chức á hậu của đoàn Việt Nam :))

Wednesday, 10 June 2009

Giày số 19


(Một bức ảnh ở bảo tàng Auschwitz-Birkenau chụp cảnh những người Do Thái khi vừa mới đến trại)



Giày số 19
Đôi giày đầu tiên của con.

Mẹ ghé môi hôn
Gót chân con ấm hồng
Mẹ ghì sát vào lòng
Bàn chân con ngón thơm.

Triệu triệu tế bào thơ ngây
Reo mừng, hối hả
Kể cho mẹ nghe
Ước mơ về miền đất xa
Về những chân trời con sẽ đến
Những khát khao bay nhảy
“Con sẽ đứng sẽ đi sẽ vùng vẫy
Sẽ huy hoàng như một giọt sương sa”.(*)


Giày số 19
Nhỏ nhất trong các số giày.


Giày số 19
Dành cho những đôi chân
Đang chập chững tập đi
Những bước đầu tiên
Trên đời.

*
Oświęcim
Bảo tàng Auschwitz
Mẹ đứng lặng im
Nhìn hàng vạn đôi giày sau tủ kính
Đôi gần nhất (có lẽ là):
Giày số 19.

Thái Linh
(Oświęcim, 6-2009)

(*) Thơ Bùi Giáng

Tuesday, 9 June 2009

Monday, 8 June 2009

Các dịch giả của Kapuściński



Trên thế giới hiện nay có khoảng 60 dịch giả dịch các tác phẩm của Kapuściński. Trong đại hội lần này, các dịch giả có mặt đã có một buổi gặp gỡ rất thân mật với công chúng tối ngày 4.6.2009 tại trường Đại Học Sân Khấu nhân dịp xuất bản cuốn sách "Du hành cùng Ryszard Kapuściński, chuyện kể của mười bốn dịch giả". Khi kết thúc buổi gặp gỡ, các dịch giả và bà Bożena Dudko, người chủ biên cuốn sách, đã chụp ảnh lưu niệm.

Hàng đầu tiên (ngồi) từ trái sang phải:

  1. Giáo sư Silvano De Fanti (sinh năm 1949), chuyên ngành lịch sử văn học Ba Lan tại Đại học Udine. Dịch văn học Ba Lan từ 30 năm nay.
  2. Anna Rubio Rodon (1960), nhà sử học, giảng viên khoa Thư viện và Tư liệu Đại học Barcelona.
  3. Agata Orzeszek (1953), nhà phê bình văn học, giảng viên văn học Nga tại Đại học Barcelona. Hơn 20 năm dịch thuật.
  4. Giáo sư Wu Lan (ngồi phía sau), giảng dạy tại Trung tâm Ngôn ngữ và Văn Hóa dành cho Ngoại giao đoàn tại Bắc Kinh.
  5. Bożena Dudko (1963), nhà ngôn ngữ học, nhà báo, biên tập viên NXB Znak, người chủ biên 2 tập sách „Du hành cùng Ryszard Kapuściński”
  6. Abel A. Murcia Sorano (1961) nhà thơ Tây Ban Nha, hiện là giám đốc Viện Cervantes ở Kraków, tác giả của nhiều cuốn từ điển. Thành viên danh dự của Hội Nhà văn Ba Lan.
  7. Thái Linh

Hàng sau (đứng) từ trái qua phải:

  1. Ljubica Rosic (1944), nhà ngôn ngữ học, giảng viên văn học và ngôn ngữ Ba lan tại Belgrad, biên tập viên tạp chí dịch thuật „Mostovi”
  2. Szymaniak Włodzimierz (đứng phía sau), nhà ngôn ngữ học, phê bình văn học, giảng viên đại học ở Cộng hòa Cabo Verde
  3. Veronique Patte (1951), giáo viên tiếng Nga ở Paris
  4. Ewa van den Bergen-Malaka (1953)(đứng phía sau), dịch giả đến từ Hà Lan
  5. Erzsébet Szenyán (1943), giáo viên, biên tập viên văn học ở Budapest, đã dịch khoảng 40 cuốn sách văn học Ba Lan.
  6. Vera Verdiani (1935) người Ý, dịch văn học Ba lan từ 50 năm nay.

  7. Kovács István (đứng phía sau), giáo sư sử học ở Budapest.
  8. Biserska Rajcic (1940) người Serbia, 45 năm dịch thuật, đoạt giải Transatlantyk năm 2009 và nhiều giải thưởng khác.
  9. Giáo sư Nguyễn Chí Thuật, hiện đang giảng dạy tại Đại học Poznań, Ba Lan.
  10. Bozena Antoniuk, Ukraina
  11. Tomasz Barciński (1936), hiện đang sống ở Mỹ.
  12. Jurij Czajnikow, hiện đang sống ở Moscow.
  13. Ksenia Starosielska (1937), nhà phê bình văn học, biên tập viên ở Moscow, đoạt giải Transatlantyk năm 2008.
  14. Jerzy Sławomirski (1956) (đứng phía sau), nhà ngôn ngữ học, hiện đang sống tại Barcelona.
  15. Anders Bodegard (1944), nhà ngôn ngữ học, hơn 20 năm dịch thuật, hiện đang sống ở Thụy Điển. Nhờ các bản dịch của ông mà Wisława Szymborska đoạt giải Nobel văn học. Ông được trao tặng giải thưởng Transatlantyk năm 2007.
  16. Diana Kuprel (1963), biên tập viên, nhà văn, hiện đang sống tại Toronto, Canada.
  17. Nikolaj Jez (1948), phó giáo sư ngành văn học Ba Lan ở Đại học Lublana, thành viên ban giám khảo giải thưởng Gặp gỡ Văn học Quốc tế Vilenica.
Còn đây là ảnh (tranh thủ) chụp trong thời gian diễn ra các buổi thảo luận của đại hội:

Với GS. Nguyễn Chí Thuật, GS. Wu Lan và GS. Szymaniak Włodzimierz

Với Anders Bodegard (Transatlantyk 2006)


Sunday, 7 June 2009

Giải thuởng TRANSATLANTYK


TRANSATLANTYK là giải thưởng thường niên quan trọng nhất của Book Institute dành cho dịch giả có nhiều đóng góp trong việc quảng bá văn học Ba Lan, trị giá 10.000 Euro. Giải thuởng Transatlantyk năm nay đuợc trao cho Biserka Rajcic, nữ dịch giả người Serbia, vượt qua 58 ứng cử viên. Bà sinh năm 1940. Trong sự nghiệp dịch thuật suốt 45 năm của mình, bà đã dịch 80 cuốn sách (trong số đó 70 cuốn đã đuợc in) với đủ các thể loại: thơ, văn xuôi, tản văn, các cuốn sách triết học, sân khấu học, chính trị học, sử học v.v. Bà đã dịch khoảng 300 tác giả Ba Lan xuất sắc nhất thuộc mọi thế hệ, trong đó có: Wisława Szymborska, Ryszard Kapuściński, Czesław Miłosz, Tadeusz Rózowicz, Zbigniew Herbert, Julia Hartwig, Leszek Kołakowski, Jerzy Stempowski, Tadeusz Miciński, Jan Kott, Witkacy, Tadeusz Kantor, Jerzy Grotowski, Maria Janion, Stanisław Lem, Adam Zagajewski, Ewa Lipska, Stanisław Baranczak, Ryszard Krynicki, Janusz Szuber…


Lễ trao giải Transatlantyk được cử hành long trọng tại Nhà Hát Cổ, Krakow đêm 5.6.2009. Tới dự buổi lễ có các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các nhà hoạt động văn hoá xuất sắc nhất Ba Lan cùng toàn bộ các dịch giả tham dự Đại hội quốc tế các dịch giả văn học Ba Lan lần thứ II.