Tuesday, 29 January 2013

Cái chết của những người tình (Charles Baudelaire)



Thái Linh dịch


Giường ta sẽ ngát hương thơm dìu dịu
Những ghế dài trũng xuống tựa mồ sâu
Và kỳ hoa trên kệ khoe màu,
Nở vì ta dưới trời xanh tươi đẹp

Hai trái tim ta như đuốc hồng cháy rực
Tỏa miệt mài đến hơi ấm cuối cùng
Phản chiếu đôi luồng sáng mênh mông
trong hai linh hồn, đôi gương lồng bóng.

Huyền bí sắc hồng lơ đêm nhập nhoạng
Ta trao cho nhau một tia chớp mà thôi
như nức nở trĩu dài lời vĩnh biệt;

Trung tín và hân hoan, một thiên thần sẽ đến
Rồi nhẹ nhàng khẽ mở cửa ra
Hồi sinh những tấm gương mờ, những ngọn lửa phôi pha.

(dịch từ bản tiếng Ba Lan của Bronisława Ostrowska)


Saturday, 26 January 2013

Thơ những ngày mất ngủ



Anh đâu rồi, yêu thương của em,
Trong những tháng ngày này dài quá!
Ngực rạn vỡ vì những lời xa lạ
Làn da buồn băn khoăn...

Em nhớ anh mỗi phút bảy mươi lần
Năm giác quan, nỗi nhớ là thứ sáu
Những da diết len trong từng mạch máu
Chảy về đâu cũng chạm phải yêu thương.

Tựa cánh chim chung thủy với không gian
Tựa nhành hoa lặng thầm cùng mặt đất
Em nhớ anh, cũ xưa như sự thật
Em nhớ anh, tinh khôi như sự sống trên đời.

Em vẫn nghe đâu đó tiếng anh cười
giữa phù phiếm, đam mê và minh triết...
Em thầm gọi mà anh nào hay biết,
Sa mạc, bầu trời, hơi ấm của em!

Khi ngày dài, đêm cũng dài thêm
Thu lại sang, lá vàng vì mất ngủ
Màn hình trắng như tận cùng nỗi nhớ
Anh đâu rồi, yêu thương của em?

Thái Linh

Monday, 21 January 2013

Hay, vì đau

Cuộc trò chuyện về nghệ thuật Ba Lan giữa Grzegorz Sroczyński  - phóng viên báo Gazeta Wyborcza , và giáo sư Maria Poprzęczka - chủ tịch Hội Sử gia Nghệ thuật (Ba Lan), hiện đang giảng dạy tại Đại Học Tổng Hợp Warszawa, đăng trong chuyên san Giày cao gót (Wysokie Obcasy) số ra ngày 27.10.2012. Thái Linh dịch (bản dịch đã được trích đăng tại Tuổi Trẻ Cuối Tuần)


(GS. Maria Poprzęczka)


Grzegorz Sroczyński: Càng kỳ quặc càng tốt.

Maria Poprzęczka: Nghệ thuật đương đại à? Có lẽ anh quá lời.

GS: Có một cái xô, có một thứ dung dịch màu đỏ nhỏ vào đó, xung quanh treo mấy sợi dây, từ loa phát ra tiếng nghiến kèn kẹt khủng khiếp. „Tác phẩm vô đề”. Hãy thử tỏ ra minh triết xem nào.

MP: Trong Salon de Paris trưng bày nghệ thuật chính thống nổi tiếng thế kỷ XIX, người ta treo hàng trăm bức tranh phong cảnh và các ả khỏa thân. Chán phèo.

GS: Nhưng ít ra với ả khỏa thân thì còn hiểu được người ta muốn nói gì.

MP: Thật lạ là con người không muốn đứng trước điều khó hiểu là tác phẩm của bàn tay người khác. Trước tác phẩm bất khả tư nghì của các thế lực cao siêu -Thượng đế, Chúa hay thiên nhiên – thì họ lại thích. Một số người thậm chí còn khao khát những thứ kỳ cục ấy. Nhưng khi một nghệ sỹ sản tạo ra cái gì đó khó hiểu thì lại nảy sinh nghi ngờ rằng anh ta lừa dối tôi và muốn biến tôi thành thằng ngốc.

GS: Thế anh ta có lừa dối không?

MP: Đáng tiếc là cũng thường như vậy.

GS: Tôi có mấy người bạn cạch đi xem kịch từ khi họ đi xem cái gì đó tiền vệ, ở đó họ bị đổ một thứ mỡ nâu lên người, bị ấn lên sân khấu và bắt đóng giả làm chó sói

MP: Có cách rất tốt cho tình huống này: bỏ về. Tôi đã không đi xem kịch suốt 20 năm.

GS: Cái gì cơ?

MP: Thì thế đấy. Tôi còn có cả lý thuyết về chuyện vì sao tôi không đi xem kịch. Bởi vì tôi không thích việc đóng giả. Đây nhé, người ta bắt tôi ngồi vào ghế rồi xem Holoubek và Łomnicki đang đóng giả rằng họ không phải là Holoubek và Łomicki mà là người khác, rồi tôi lại còn phải trả tiền nữa chứ!

GS: Một giáo sư về nghệ thuật đương đại có thể không đi xem kịch được sao?

MP: Như anh thấy đấy, có thể. Tôi đọc các bài phê bình trên báo chí để biết tình hình thôi.

GS: Bây giờ bà cũng không đi?

MP: Bây giờ tôi có đi, nhưng chỉ khi nào có gì đó thật đặc biệt. „Hamlet” của Klata trong Xưởng đóng tàu Gdańsk, „Macbeth” của Jarzyna trong một nhà máy cũ. Xem những thứ cổ truyền đối với tôi là mất thời gian. Thỉnh thoảng tôi bỏ về.

GS: Lần cuối cùng là khi nào?

MP: Ở Berlin, vì người ta hò hét trên sân khấu kinh quá. Không được để cho ai khủng bố mình hết, kể cả các nghệ sỹ. Nếu anh không thích cái xô kia thì khi đó anh nên bỏ ra ngoài và không quay lại nữa.

GS: Một người có văn hóa có thể không thèm quan tâm đến nghệ thuật đương đại không?

MP: Có thể. Anh ta sẽ mất chút gì đó, nhưng cũng không đến nỗi quá nhiều. Có hàng đống rác rưởi. Rất nhiều.

GS: Đặc điểm chính của cái thứ rác rưởi đương đại này là gì?

MP: Thứ cấp. Bịp bợm. Tự mãn. Sự vội vã để thành công. Và sự gây rối tri-thức-cảm-xúc. Chính là cái điều anh vừa nói: bạn không thích có nghĩa là bạn chưa đủ trình. Nếu bạn không hiểu thì biến đi mà xem tranh Matejko(1). Trong sinh hoạt nghệ thuật của chúng ta, đáng tiếc, vẫn tồn tại sự phân chia ra „chúng tôi” và „họ”.

GS: Chúng tôi là ai?

MP: Thế giới nghệ thuật và các định chế của nó, các nghệ sỹ, các nhà trưng bày, các phê bình gia, và công chúng lui tới các buổi khai mạc.

GS: Còn họ?

MP: Là số còn lại.

GS: Những người hâm mộ Lichen(2) và tranh tôn giáo hàng chợ?

MP: Cũng có họ. Mặc dù đó là sự phân chia quá đơn giản và nhầm lẫn. Giữa nghệ thuật đương đại được trưng bày và các tác phẩm tôn giáo hàng chợ trải ra một khuynh hướng rộng lớn và nhiều dòng các sản phẩm nghệ thuật. Nhưng cũng chẳng có gì phải ảo tưởng – nghệ thuật không và chưa từng là quân bình (egalitarian-ND). Sẽ mãi luôn có „chúng tôi” và „họ” nào đó, „người mình” và „người khác” nào đó. Cốt sao cho sự phân chia này không làm nảy sinh ra thù nghịch và khinh thường. Chỉ chừng ấy thôi và những chừng ấy.

GS: „Họ” muốn nghệ thuật ít nhất cũng phải hiểu được. Và có cái gì đó đèm đẹp treo trên lò sưởi.

MP: Ở Thành Cổ Warszawa có thể mua được những thứ đẹp và dễ hiểu. Tôi hoàn toàn không nói giễu ở đây. Tôi cho rằng nếu ai đó thích thứ nghệ thuật này thì không nên xấu hổ vì điều đó. Anh ta có quyền thích như thế. Tôi hay ngó nghiêng các sản phẩm này, tôi rất quan tâm đến tranh pháo ngoài dòng văn hóa chính thức. Tôi loại ra đồ lưu niệm cho khách du lịch. Sau khi sàng lọc thì hóa ra tranh phong cảnh chiếm ưu thế. Những bức „tranh phong cảnh chung chung”.

GS: „Tranh phong cảnh chung chung” là thế nào?

MP: Có cây cối xanh xanh, có sông hồ và có núi, hơi phủ tuyết một chút. Có thêm con vật gì đó vào thì càng tốt.

GS: Con hươu.

MP: Ví dụ thế. Và đây không phải là đặc sản Ba Lan chúng ta. Mười mấy năm trước Komar và Melamid – hai nghệ sỹ Nga rời Liên Xô sang phương Tây và trở nên khá thành đạt – đã làm một cuộc thăm dò trên phạm vi toàn cầu, từ Pernambuco đến Kyoto về „bức tranh được mong muốn nhất” và „bức tranh ít người thích nhất”. Họ làm thăm dò này một cách chuyên nghiệp, sử dụng các cơ quan thăm dò dư luận ở từng nước. Và trong tất cả các nền văn hóa bức tranh được mong muốn nhất đều giống nhau: mặt trời, bầu trời xanh, nước, núi và động vật. Nghĩa là thiên đường.

GS: Thế „bức tranh ít người thích nhất” ra sao?

MP: Trừu tượng – những khối hình học gì đó được vẽ bằng màu chết. Nhu cầu cần có thiên đường là thứ bẩm sinh của chúng ta, cũng có thể thấy rõ điều này trong tranh ở Thành Cổ Warszawa. Có thể đó là một cô gái tóc vàng ngực lớn, có thể đó là con ngựa – có Nguyên soái cưỡi hoặc không – nghĩa là thiên đường đã mất thời tiền chiến. Người ta có nhu cầu để cuộc sống dễ thương hơn đôi chút.

GS: Nghệ thuật đương đại thật xa xôi với nhu cầu đó.

MP: Vì nó không phục vụ nhu cầu này. Chừng nào nghệ thuật còn được hình thành theo đơn đặt hàng cụ thể – giáo sỹ cần tượng thánh cho nhà thờ, hoàng tử cần nàng Vệ nữ khỏa thân cho phòng ngủ, nhà quý tộc cần chân dung tiền nhân – tất cả đều rõ ràng. Nhưng sau đó định chế bảo tàng xuất hiện. Một không gian công chúng chuyên biệt chỉ dành cho nghệ thuật và chỉ để xem nghệ thuật. Một thay đổi căn bản. Bảo tàng và phòng trưng bày, mặc dù xuất hiện vào thế kỷ XVIII, vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong đời sống nghệ thuật ngày nay.

GS: Như thế nào?

MP: Nghệ sỹ đã không còn sáng tạo theo đơn đặt hàng của cá nhân cụ thể nữa. Nghệ thuật đương đại hình thành trước hết là để triển lãm. Walter Benjamin từ rất lâu đã đưa ra khái niệm giá trị triển lãm, dần dần nó đã thay thế tất cả các giá trị khác. Điều này đồng điệu cùng với cách hiểu hiện đại về nghệ thuật như một hiện tượng tự trị thuần túy. Như vậy nếu nghệ thuật mang tính tự trị và bị tước bỏ các chức năng khác mà người ta gọi một cách xem thường là các chức năng phục vụ, thì nó chỉ còn đủ tiêu chuẩn để triển lãm. Và để cho thị trường nghệ thuật.

GS: Giá trị triển lãm, tức những gì các phê bình gia ưa thích?

MP: Không, vì các cuộc triển lãm vẫn là dành cho công chúng. Chỉ có điều người xem đương đại không có dung nhan, không cụ thể như trước kia. Họ là vô danh, giả định và tiềm tàng.

GS: Ở nước ta thì họ còn vắng mặt nữa. Bảo tàng Tate Modern ở London mỗi năm có vài triệu lượt người xem. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Warszawa nằm trong phòng trưng bày cũ của hãng đồ gỗ Emilia và thường vắng teo.

MP: Thế anh thử đến gian trưng bày hội họa thế kỷ XVII và XVIII trong Bảo tàng Quốc gia đi. Ở đấy mới là vắng teo. Chuyện người Ba Lan thích nghệ thuật thời xưa còn nghệ thuật đương đại thì không, chỉ là ảo ảnh. Mọi loại nghệ thuật đối với chúng ta đều khá xa lạ. Ở đây sự khác biệt giữa Ba Lan và phương Tây rất rõ rệt, đáng tiếc.

GS: Từ đâu mà có sự khác biệt này?

MP: Từ lịch sử. Văn hóa Ba Lan cổ không phải là văn hóa tranh pháo, đó là văn hóa của những thứ xa xỉ, gấm vóc, xa hoa, vũ khí trang trí lộng lẫy. Người ta yêu những đồ ấy chứ không yêu tranh - thứ được xem là nghệ thuật hạng hai. Tình trạng này kéo dài rất lâu. Vào giữa thế kỷ XIX khi chúng ta có một bên là thi ca lãng mạn vĩ đại và âm nhạc Chopin, một bên là nền hội họa khiêm tốn, sự chênh lệch lớn đến nỗi Julian Klaczko đã đặt câu hỏi về „lý do tồn tại của nghệ thuật Ba Lan”. „Từ hàng thế kỷ Ba Lan đã chiến thắng bằng gươm và thập tự, chứ không phải bằng cây cọ và cái đục. - ông chứng minh, và khi đó cũng gây ra cuộc tranh cãi lớn. Ngày nay chúng ta vui mừng vì giai đoạn đó ta có Piotr Michałowski, nghệ sỹ tầm cỡ châu Âu. Nhưng ông chỉ là một nghệ sỹ không chuyên lớn. Stanisław Witkiewicz cha đã viết rằng nghệ thuật Ba Lan khoảng năm 1850 là „một con số không to tướng”.

GS: Và sau đó là cái ông Matejko khủng khiếp.

MP: Anh đừng nói thế. Nhờ Matejko mà người Ba Lan trân trọng hội họa. Chính ông là người đã chỉ ra rằng môn nghệ thuật này có thể nằm cao nhất trong thang giá trị dân tộc, thậm chí có thể lớn lên đến tầm cỡ nghệ thuật tiên tri. Các thể hệ họa sỹ tiếp theo đã được hưởng lợi từ điều đó, nhất là trong giai đoạn Ba Lan Trẻ(3), cho dù họ chẳng tri ân và còn đả kích Matejko là họa sỹ tồi.

GS: Thế Matejko của chúng ta có khá không?

MP: Nhưng từ góc nhìn nào?

GS: Từ góc nhìn đơn giản đó có phải là thứ hội họa khá không. Trên phông nền châu Âu.

MP: Đây không phải là một câu hỏi được đặt đúng cách.

GS: Sao lại không? Đơn giản là: họa sỹ khá hay tồi. Bà là phê bình gia nghệ thuật mà.

MP: Chính vì vậy mà tôi không đánh giá theo những tiêu chuẩn không phù hợp. Đó không phải là điều quan trọng trong hội họa này. Matejko không khéo tự lăng xê. Nhưng bá tước giáo sư Stanisław Tarnowski đã khắc sâu nhiều câu nói của ông, trong đó có cái câu hay bị trích dẫn này: „Tôi không vẽ như tôi hiểu các tiêu chuẩn nghệ thuật của bức tranh hoàn hảo. Tôi muốn nói đến những điều quan trọng hơn điều đó...”

GS: Chính thế đấy. Nghệ thuật xoàng, nhưng được cái đúng đắn, bởi nó „nói đến những điều quan trọng hơn”.

MP: Đó không phải là nghệ thuật xoàng. Những bức tranh ấy được vẽ rất tốt trong truyền thống mà Matejko tiếp nhận. Con ngựa là con ngựa. Khẩu súng là khẩu súng. Hiệp sỹ là hiệp sỹ. Có thể ông không thích Matejko, nhưng đó là một họa sỹ rất hay.

GS: Hay ở chỗ nào?

MP: Ở cách minh họa lịch sử. Đó là những trình diễn vĩ đại lớn lên trong trí tưởng tượng Ba Lan.

GS: Chúng không thật.

MP: Thì sao nào? Tôi dẫn thêm một câu của Matejko, nó vụng về và do đó chắc là đáng tin: „Quan trọng là bức tranh gây ấn tượng với mọi người”. Và chúng gây ấn tượng. Gần đây tôi vào blog của học sinh cấp 2 xem các em viết gì về Matejko sau khi tham quan bảo tàng. Các em viết: „Kính phục!” Nguyên văn thế đấy.

GS: Do đâu mà có sự kính phục này?

MP: Thanh niên ngày nay được giáo dục trong văn hóa hình ảnh, lóng lánh và chuyển động. Mà trong tranh Matejko có chuyển động, có sự thống thiết và hành động. Có cả sự tàn bạo và máu me. Tức là những gì nuôi dưỡng văn hóa đại chúng. Hội họa về bản chất là bất động và câm, nhưng nó lại phải thuyết phục, truyền đạt các ý tưởng, kể chuyện. Có thể viết về lịch sử hội họa châu Âu – từ thời Phục hưng – như về sự gắng sức để chiến thắng những điều bất khả ấy. Matejko với sự biểu hiện cực đoan của mình là ví dụ cho cố gắng này: phá vỡ sự bất động, bất ngôn và tĩnh lặng. Cử chỉ kia, nét mặt nọ – tất cả đều với cường độ cao nhất! Đôi khi người ta đạt được hiệu quả mạnh mẽ bằng sự trống rỗng, yên lặng và vô ngôn. Nhưng đó không phải là Matejko.

GS: Và có lẽ nói chung không phải là người Ba Lan.

MP: Chính thế.

GS: Matejko có một ưu điểm – ít ra là người ta cũng biết tranh ông vẽ cái gì. Bây giờ Phòng trưng bày Zachęta trưng bày các sản phẩm đương đại và phải tích cực giải thích chúng. Thậm chí họ phát hành cả những cuốn hướng dẫn nhỏ cho người xem với các câu hỏi thế này: „Tác phẩm có kể câu chuyện nào không?” „Trong tác phẩm này có sử dụng những dấu hiệu biểu tượng điều gì không?”, „Vì sao tác phẩm không có nhan đề?”

MP: Tốt chứ sao. Bằng cách này Zachęta mời những người xem chưa được giáo dục vào cuộc đối thoại. Đó là những câu hỏi khích động, tấn công vào thói quen tiếp thu. Bởi vì có thể người xem vẫn luôn chờ đợi „Trận chiến ở Grunwald”(4).

GS: Người xem chờ đợi rằng ít nhất cũng biết được „tất cả là về cái gì”.

MP: Thì các phê bình gia là để làm việc đó. Những người trung gian giữa nghệ sỹ và công chúng. Chúng ta phải giải thích „tất cả là về cái gì” một cách kiên nhẫn, dễ hiểu và hấp dẫn, chứ không phải cứ khinh khỉnh ngạo mạn cố thủ trong pháo đài của mình.

GS: Bởi vì nghệ thuật đương đại phải được giải thích cho những người bé mọn à?

MP: Không phải bé mọn, mà đơn giản là công chúng. Rất khó nói người Ba Lan có hiểu nghệ thuật đương đại hay không, vì họ chưa có cơ hội làm quen với nó. Mấy năm trước nước ta còn chưa có bảo tàng nghệ thuật hiện đại. Chúng ta có cả núi việc khổng lồ trong việc giáo dục và các bảo tàng cần chú trọng vào điều này. Tập hướng dẫn nhỏ của Zachęta mà anh thấy buồn cười chính là một thử nghiệm giáo dục sáng suốt. Nếu người Ba Lan đã chỉ được xem nền nghệ thuật bị cắt khúc từ năm 1914 đến năm 1945 thì khó lòng ngạc nhiên khi bây giờ họ thấy sốc khi xem Julita Wójcik gọt khoai tây trong phòng trưng bày quốc gia.

GS: Nhưng cô ấy gọt khoai tây để làm gì?

MP: Để tôn vinh cái điều vốn là thường nhật, nhất là đối với phụ nữ. Không ít người nội trợ sẽ cảm thấy vui sướng rằng việc cô ta làm hàng ngày lại có thể được đưa vào một định chế văn hóa quốc gia.

GS: Tôi e rằng Julita Wójcik chả đến được với bà nội trợ thực thụ nào. Bởi vì chỉ có Maria Poprzęcka và các bà các cô Warszawa khác mới đến phòng trưng bày để khám phá cái công việc kỳ lạ này. Lần cuối bà gọt khoai tây là khi nào?

MP: Ba ngày trước, vì sau đó tôi ăn cơm. Tôi tự nấu ăn, tôi thích đồ nấu ở nhà.
Tôi đồng ý là thiếu sự liên kết giữa „những người bình thường” với nhóm ước lệ các bà các cô Warszawa thường hay lui tới các cuộc khai mạc triển lãm kia. Tôi đấu tranh với điều này trong khả năng của mình.
(…)

GS: Thế phải xem một bức tranh trong bảo tàng như thế nào?

MP: Ai thích thế nào thì xem như thế. Tôi có thể đi hết cả phòng trưng bày và nhìn lên trần. Phải biết tự bảo vệ trước lạm phát nghệ thuật. Có lần ở khoa tôi đã dám nói rằng trong các bảo tàng, tôi thích nhất là xem bức tranh ngoài cửa sổ. Tụi sinh viên nhắc lại điều này với tôi suốt nhiều năm sau.

GS: Vì sao lại là bức tranh ngoài cửa sổ?

MP: Vì ở đó là cuộc sống. Tôi quan tâm đến con người hơn quan tâm đến nghệ thuật rất nhiều – lời thú nhận đầy thỏa hiệp của một sử gia nghê thuật.
Tôi đã nghiên cứu hội họa thế kỷ XIX trong một thời gian khá dài. Nghệ thuật hiện đại khiến tôi thấy thú vị vì trong đó có đời sống: cơ thể, con người và hoạt động. Nhiều khi là chính nghệ sỹ biến cơ thể của mình thành vật thể nghệ thuật.

GS: Bauman viết về sự bất khả của tiền vệ trong nghệ thuật hiện đại: „Không có cái mới khi không có chuẩn tắc. Không có dị giáo khi không có chính thống giáo.”

MP: Chuẩn tắc vẫn đang hiện hành, vẫn có thể phân biệt những thứ nổi bật với những thứ xoàng xĩnh mà. Trong nghệ thuật đương đại Ba Lan có một thứ mà tôi gọi là „nhóm đại diện”. Đó là các nghệ sỹ gửi tác phẩm ra nước ngoài, được trao giải thưởng, có các cuộc trưng bày dấu ấn. Đó chính là bộ chuẩn tắc này.

GS: Nó có tốt không?

MP: Không tệ.

GS: Có gì trong đó?

MP: „Kim tự tháp súc vật” của Kozyra mở ra bộ chuẩn tắc này.

GS: Đó mà là nghệ thuật lớn à? Cái con ngựa với con chó, con mèo và con gà ấy?

MP: Không phải là chuyện đó.

GS: Chính thế, lại không phải chuyện đó. Gống như Matejko.

MP: Kozyra rất tuyệt.

GS: Cũng với những nguyên tắc y như Matejko: „Bởi vì tôi nói đến điều quan trọng hơn”.

MP: Không, khác chứ. Nhưng ta hãy cho qua „Kim tự tháp súc vật” đi, nó đã được nói quá nhiều rồi. Hãy nói về tác phẩm tuyệt nhất của Kozyra - „Nghi lễ mùa Xuân”.

GS: Nhưng cơ thể già nua thực hiện các chuyển động giật cục.

MP: Một tác phẩm đầy xúc động. Nó kết nối đến nhiều truyền thống khác nhau: vở ba lê „Nghi lễ mùa Xuân” của Stravinsky, tức là tới tác phẩm khai mở âm nhạc thế kỷ XX, và sâu hơn, là truyền thống tế lễ tà giáo – cô gái được chọn làm vật hiến tế sẽ phải nhảy múa tới chết để cuộc sống mới hồi sinh. Trên các màn hình được xếp vòng tròn, ta thấy điệu múa và nghe các motiv của Stravinsky. Kozyra trung thành với biên đạo ban đầu của vở ba lê, nhưng để những người già trong viện dường lão làm vũ công, họ được chụp ảnh khỏa thân trên nền trắng, hết tấm này tới tấm khác tiếp theo nhau. Phương pháp làm phim hoạt hình cho phép những người già có thể thực hiện được các động tác cực khó ngay cả đối với những vũ công trẻ chuyên nghiệp. Giao vai này cho những người già thật là việc khó có thể chịu đựng, nhưng gây rúng động và chân thật. Họ là những người bị hiến tế trong cuộc sống của chúng ta.

GS: Theo bà tác phẩm này nói về điều gì?

MP: Nói một cách lâm li: về số phận con người. Tất cả chúng ta đều chết.

GS: Quá hiển nhiên.

MP: Không hề, thế mới nói! Ngày nay điều này hoàn toàn không hiển nhiên! Anh thử nhìn quanh mà xem. Chúng ta sống trong thế giới bị tước mất cái chết. Nó đã bị y học hóa, chúng ta chết trong các bệnh viện, giấm giúi và đầy xấu hổ. Chúng ta sống như thể không có tuổi già. Tôi không nhớ nổi một tác phẩm nghệ thuật nào đề cập đến đề tài này một cách bi kịch có thể sánh được với tác phẩm của Kozyra. Những thứ kinh dị, Zombie, những xác chết sống được văn hóa đại chúng ưa thích đến thế so với nó chỉ là trò trẻ con.

GS: Đó thật sự là tác phẩm tầm cỡ quốc tế à?

MP: Đúng. Đó là một tác phẩm hoàn hảo.

GS: Làm sao bà nhận biết được một tác phẩm hay?

MP: Như mọi người thôi: nó làm tôi xúc động hay không. Thế anh nghĩ tôi đi khắp bảo tàng và hành xác à? Ngược lại. Là trực giác vô tư thuần khiết. Một tác phẩm nghệ thuật hay khi tôi khó nói thành lời. Không thể dùng lý trí phân tích được. Không thể kể về nó được. Bởi vì cảm xúc xuất hiện xâm chiếm tôi mạnh mẽ tới mức trong khoảnh khắc tôi xóa bỏ hết toàn bộ học thức và sự tiếp thu mang tính phê bình. Khi tôi nhìn ngắm thứ gì đó và không còn là phê bình gia nghệ thuật nữa, khi đó tôi thấy rằng mình đang tiếp xúc với nghệ thuật thực thụ.

GS: Nếu đã nhìn thấy mọi thứ rồi thì khó có được niềm thích thú ấy

MP: Khó.

GS: Bà có hay thấy thích không?

MP: Ít. Tôi là người lạc quan, nhưng không phải là người nhiệt tình.

GS: Trong vòng 23 năm của nước Ba Lan độc lập thì được mấy lần?

MP: Vài lần. „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. Tranh của Tarasewicz, nhất là những bức được trưng bày chòi ra khỏi khung, bê tông màu đổ ra cầu thang và tường phòng trưng bày. Tranh của Jarosław Modzelewski.

GS: Bức nào?

MP: Ví dụ con thuyền không người neo bên bờ. Con thuyền của Charon đang chờ. Chờ tôi.

GS: Lại là về cái chết.

MP: Không có gì khác đáng nói, thật đấy.
Nếu đã là nói chuyện nghiêm túc thế này, thì tôi tin rằng nghệ thuật là hành động của con người cho phép thoát khỏi thế tục để hướng đến siêu hình. Tôi đứng trước bức tranh của Modzelewski và cứ muốn ngắm mãi. Ngắm mãi và ngắm mãi. Chỉ cần được yên tĩnh thôi.

GS: Cảm xúc thế nào?

MP: Cam chịu số phận. Khác với trường hợp „Nghi lễ mùa Xuân” - đó là một kiểu sốc.

(Con thuyền bên bờ, tranh Jarosław Modzelewski)

GS: Các nghệ sỹ đương đại Ba Lan muốn cho chúng ta xem gì?

MP: Cơ thể và sự mục ruỗng của nó. Các cơ thể già nua, tàn tật, ốm yếu, bệnh hoạn, thương tích trước đây chưa được nghệ thuật mở cửa. „Nhà tắm nữ” của Kozyra, „Cuộc đi dạo” của Żmijewski. „Những nghi lễ thầm kín” của Libera.

GS: Trong phim này Libera chăm sóc người bà của mình, thay tã, rửa ráy, lau dọn. Các nghệ sỹ Ba Lan cho chúng ta xem những thứ ấy để làm gì?

MP: Bởi đó là sự thật về thân phận con người.

GS: Cái đẹp của nghệ thuật là thế à?

MP: Nghệ thuật không ngừng hướng tới ba lý tưởng của Platon: chân, thiện, mỹ. Điều cốt yếu của tam giác này là các giá trị này liên kết chặt chẽ với nhau. Nếu điều gì đó chân thực thì nó cũng đẹp và thiện.

GS: Bà tin điều đó chứ?

MP: Tôi tin. Cơ thể già nua là chân thực, và do đó đẹp. Chỉ có điều chúng ta sống trong áp lực khủng khiếp của những cơ thể không tồn tại và không hiện thực. Không ai trông như trong Photoshop cả. Điều này quá rõ ràng, nhưng nhắc lại mãi vẫn không đủ – chúng ta trưng ra bệnh tật, sự già nua, cái chết, những thứ không nằm trong tinh thần của các pa-nô, quảng cáo và văn hóa đám đông. Nghệ thuật nhắc chúng ta nhớ đến những điều tàn bạo này.

GS: Vậy là cuối cùng chúng ta cũng biết được tại sao mọi người không đi xem nhũng thứ đó: họ xem những thứ đau xót ấy làm gì?

MP: Nếu người ta chỉ trông đợi ở nghệ thuật sự vui thích và an ủi – họ có quyền làm vậy. Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là consolatio – an ủi.

GS: Thế thứ nghệ thuật kia có an ủi bà không?

MP: Có. Bởi vì chính những cô xinh đẹp trên pa-nô mới hành hạ tôi. Đó không phải là cuộc sống thật. Đó là ảo giác, thứ ảo giác gây hại, lừa dối và hạ thấp người khác.

GS: Chúng ta sống trong một thế giới kỳ cục. Ta nhìn ngắm sự thật đáng tiếc trong các phòng trưng bày, sau đó bước ra ngoài và cần mẫn cười bằng những đôi môi tô son. Ngược lại với trước đây.

MP: Định nghĩa cổ của Aristoteles về nghệ thuật nói đến ba cách mô phỏng hiện thực. Thứ nhất, có thể mổ phỏng như nó vốn thế. Đó là lãnh địa của các nghệ sỹ duy thực. Thứ hai, có thể mô phỏng hiện thực tốt hơn là nó vốn thế, đó là nhiệm vụ quan trọng của nghệ thuật châu Âu từ thời Phục hưng. Cách mô phỏng thứ ba là thể hiện hiện thực tệ hơn là nó vốn thế. Mọi sự bóp méo, làm biến dạng, xuyên tạc nằm ở đây. Định nghĩa kinh điển không có tình huống thứ tư – cuộc sống trong hiện thực đã được tô hồng, mà nghệ thuật phải lột đi lớp son.

GS: Những gì của nền nghệ thuật chúng ta sẽ còn lưu lại?

MP: Không nhiều. Như mọi khi.

GS: Không nhiều là những gì?

MP: Tôi đã nói đến vài thứ rồi đấy: „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. „Mắt trả mắt” của Żmijewski. „Bài hát Ba Lan” của ông chắc chắn cũng vậy.(...)

GS: Còn gì nữa?

MP: Pawlak. Ví dụ bức tranh „Người Ba Lan làm quốc kỳ” của ông.

GS: Sasnal?

MP: Tôi không phải là người hâm mộ ông ấy.

GS: Ông ấy rất tuyệt.

MP: Chắc chắn là lương thiện. Mặc dù thành công về mặt thương mại – dù sao thì ông cũng là nghệ sỹ Ba Lan đắt giá nhất – ông vẫn thực hành nghệ thuật của mình một cách lương thiện, không biến thành nhà sản xuất. Tôi nghĩ ông cảm thấy rất khó khăn trong vai trò nghệ sỹ nổi danh.

GS: Có gì nữa không?

MP: „Dương bản” của Libera. Nghệ sỹ chọn một số bức ảnh gốc – các hình tượng của truyền thông thế kỷ XX đã đi vào tâm thức đại chúng. Em bé Việt Nam bị bỏng bom napal đang chạy trốn, Che Guevara bị bắn nằm trên cáng, các tù nhân trại tập trung sau hàng rào dây thép gai. Libera chụp các người mẫu y hệt như thế và làm các „dương bản” mới cho những bức ảnh đó. Thật rúng động.

GS: Bức ảnh nào gây rúng động nhất?

MP: Ảnh trại tập trung.

GS: Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi đã đứng chết lặng.

MP: Tôi cũng thế.

GS: Nhưng tôi không biết tại sao.

MP: Tôi cũng không biết. Nghệ thuật là thế, người ta không biết.

( bức ảnh trong tác phẩm Dương bản của Zbigniew Libera)

GS: Bà nói chút gì đó về bức ảnh này đi.

MP: Chúng ta nhìn thấy bức ảnh quen thuộc trong sách giáo khoa chụp các tù nhân trại tập trung, chỉ là đột nhiên có gì đó không ổn ở đây. Những người này trông như khách trọ vui vẻ của các viện an dưỡng, áo tù được thay bằng sọc áo pijama, thay vì thép gai thì chúng ta nhìn thấy những sợi dây được gắn lên đó thứ trang trí rẻ tiền nhất – dây thường xuân nhựa.

GS: Theo bà thì nó nói về cái gì?

MP: Về thế giới vui vẻ dối lừa, hồng hào như một lò sát sinh vào buổi sáng. Những người đứng sau các sợi dây cười cần mẫn vào ống kính. Đây không còn là những bộ xương bọc da sống mà chúng ta biết đến trong bức ảnh gốc. Nhưng vẫn có một thứ còn lại, đó là họ luôn đứng ở sau một cái hàng rào.

GS: Hàng rào với những dây thường xuân bằng nhựa.

MP: Phải. Chính là chúng ta đang đứng đó.

----------

Chú thích:
1. Họa sỹ Ba Lan thế kỷ XIX nổi tiếng với các bức tranh lịch sử

2. Tên một làng ở miền Trung Ba Lan, có Thánh đường Đức Mẹ – một trong những nhà thở tráng lệ nhất thế giới

3.Thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, âm nhạc và nghệ thuật Ba Lan, kéo dài từ 1891 đến 1918, chủ trương phản kháng lại chủ nghĩa thực chứng, không tin tưởng vào trật tự thế giới cũ, đề cao sự vượt trội của nghệ sỹ tới tầm vóc tiên tri, đòi tự do và tách nghệ thuật khỏi di sản văn hóa, ảnh hưởng triết học Schopenhauer, Nietzch và Bergson.

4.Tên bức tranh nổi tiếng nhất của Matejko



Thursday, 25 October 2012

Thơ M. I. Lermontov -Thái Linh dịch

Cánh buồm

Trắng lên đơn độc một cánh buồm
Trong màu biển biếc giữa mờ sương...
Buồm mải tìm chi nơi viễn xứ?
Những gì bỏ lại ở quê hương?

Gió rít, cuộn dâng lớp sóng cuồng
Cột buồm kẽo kẹt ngả nghiêng luôn...
Ôi! Buồm không kiếm tìm hạnh phúc,
Chẳng lánh niềm vui chốn dặm trường!

Luồng ngọc biếc xanh dưới cánh buồm
Trên cao tia nắng ánh vàng buông...
Nhưng buồm kiêu bạt đòi bão tố
Như thấy yên bình trong gió giông!

(1832)


Mắt huyền

Giữa ngàn sao đêm hè, ta chỉ thấy
Hai vì sao nơi đáy mắt nàng
Mắt nhung huyền, đôi mắt phương Nam!
Giờ tao ngộ là phút giờ ngang trái.

Nếu có hỏi, những vì sao đêm ấy,
Chúng chỉ nói về hạnh phúc chốn thiên đàng.
Mắt huyền ơi, nơi sao đáy mắt nàng
Tim ta thấy cả thiên đàng, địa ngục.

Trong mắt nàng ánh tình yêu sáng rực
Mắt nhung huyền, đôi mắt phương Nam!
Những vì sao ban ngày và những vì sao đêm
Từ phút ấy trong hồn ta sáng mãi.

(1830)

Thursday, 18 October 2012

Nơi đây (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Tôi chẳng hay nơi khác ra sao,
nhưng nơi đây trên Trái đất này mọi thứ đều khá bộn.
Nơi đây sản xuất ra ghế và nỗi buồn,
những cái kéo, đàn vĩ cầm, sự ân cần, máy bán dẫn,
những đập nước, những trò đùa và chén tách.

Có thể mọi thứ nhiều hơn ở nơi nào khác,
nhưng vì một số lý do, nơi ấy không có các bức tranh,
không có bánh gối, bóng hình ti vi, và mùi soa lau nước mắt.

Các địa phương kèm vùng ngoại vi ở nơi đây nhiều không kể xiết.
Anh có thể đặc biệt thích vài nơi,
đặt cho chúng tên riêng,
và bảo vệ chúng trước cái ác.

Có thế có những chốn tương tự ở nơi nào khác,
nhưng chẳng ai thấy chúng đẹp xinh.
Chẳng ở đâu, hay hiếm ở nơi đâu,
anh có riêng thân trên
với những phụ tùng cần thiết
để thêm con mình vào đám trẻ dưng.
Ngoài ra anh còn có tứ chi và cái đầu kinh ngạc.

Sự vô tri nơi đây làm việc luôn quá sức,
nó luôn đếm, đo, so sánh điều chi,
rồi từ đó rút ra kết luận và nguyên căn.

Tôi biết, tôi biết anh đang nghĩ gì.
Nơi đây chẳng có gì bền chắc,
bởi từ ngàn xưa đến ngàn sau thiên nhiên luôn thống trị.
Nhưng hãy nhìn xem – các thế lực thiên nhiên mệt mỏi dễ dàng
và đôi khi chúng phải nghỉ thật lâu
đến lần sau.

Tôi biết anh còn nghĩ đến đâu.
Chiến tranh, chiến tranh, chiến tranh.
Nhưng giữa các cuộc chiến tranh là giờ nghỉ.
Nghiêm – con người xấu xa.
Nghỉ – con người thiện hảo.
Khi nghiêm những hoang mạc được tạo ra.
Khi nghỉ nhà cửa được xây nên đẫm mồ hôi trán
và người ta nhanh chóng dọn vào.

Đời sống trên trái đất chẳng đắt đỏ là bao.
Anh chẳng phải trả xu nào cho những giấc mơ, thí dụ.
Cho ảo ảnh – chỉ khi đã mất.
Cho việc sở hữu tấm thân – chỉ bằng tấm thân.

Dường như thế vẫn còn chưa đủ,
anh quay không mất tiền trong vòng đu quay của các hành tinh,
và cùng nó quay lậu vé trong bão tuyết thiên hà,
trong thời gian chóng mặt
tới mức ở nơi đây trên trái đất
chẳng có gì thậm chí kịp run lên.

Anh hãy nhìn cho rõ mà xem:
Cái bàn nằm nơi nó hằng nằm đó,
tờ giấy trên bàn vẫn nguyên như cũ,
qua cánh cửa sổ nghiêng hờ chỉ làn gió hiu hiu,
và trên tường không có vết nứt khủng khiếp nào
có thể cuốn anh biến vào vô định.  



Tuesday, 9 October 2012

Thời mạt kỉ (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Thế kỉ XX của chúng ta lẽ ra phải tốt đẹp hơn các thế kỉ trước.
Nhưng nó không còn kịp chứng tỏ điều này,
chỉ còn vài năm đếm trên đầu ngón tay,
hơi thở thể kỉ gấp gáp,
bước chân thế kỉ liêu xiêu.

Đã xảy ra quá nhiều điều
đáng lẽ không phải xảy ra,
còn điều phải đến
lại không đến.

Lẽ ra phải tiến tới mùa xuân
và hạnh phúc, cùng những điều khác.

Nỗi sợ hãi
phải rời bỏ thung lũng và non xa.
Sự thật phải cán đích trước dối trá.

Đáng lẽ không được diễn ra
một số điều bất hạnh,
ví dụ như chiến tranh
hay nạn đói, vân vân.

Sự bất khả tự vệ của những kẻ bất khả tự vệ,
lòng tin cậy, và những điều tương tự như thế
lẽ ra phải được tôn trọng.

Ai từng muốn hân hưởng thế giới,
đang đứng trước một công việc
bất khả thi.

Trò ngốc nghếch không khôi hài.
Sự minh triết chẳng tươi vui.

Niềm hy vọng, tiếc thay
đã không còn là thiếu nữ,
vân vân và vân vân.

Thượng đế, lẽ ra, rốt cuộc đã phải tin vào con người
thiện hảo và mạnh mẽ,
nhưng thiện hảo và mạnh mẽ
vẫn luôn là hai kẻ khác nhau.

Sống ra sao? - trong thư có người hỏi tôi như thế,
đó chính là người tôi đang định hỏi
y chang.

Một lần nữa và như mọi khi,
như trên cho thấy,
không có câu hỏi nào khẩn thiết hơn
những câu hỏi thơ ngây.


Nguyên tác:

Miał być lepszy od zeszłych nasz XX wiek.
Już tego dowieść nie zdąży,
lata ma policzone,
krok chwiejny,
oddech krótki.


Już zbyt wiele się stało,
co się stać nie miało,
a to, co miało nadejść,
nie nadeszło.


Miało się mieć ku wiośnie
i szczęściu, między innymi.


Strach miał opuścić góry i doliny.
Prawda szybciej od kłamstwa
miała dobiegać do celu.


Miało się kilka nieszczęść
nie przydarzyć już,
na przykład wojna
i głód, i tak dalej.


W poważaniu być miała
bezbronność bezbronnych,
ufność i tym podobne.


Kto chciał cieszyć się światem,
ten staje przed zadaniem
nie do wykonania.


Głupota nie jest śmieszna.
Mądrość nie jest wesoła.


Nadzieja
to już nie jest ta młoda dziewczyna
et cetera, niestety.


Bóg miał nareszcie uwierzyć w człowieka
dobrego i silnego,
ale dobry i silny
to ciągle jeszcze dwóch ludzi.


Jak żyć - spytał mnie w liście ktoś,
kogo ja zamierzałam spytać
o to samo.


Znowu i tak jak zawsze,
co widać poniżej,
nie ma pytań pilniejszych
od pytań naiwnych.


Thursday, 4 October 2012

Cuộc sống nhọc nhằn cùng ký ức (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Tôi là khán giả tồi cho ký ức của mình.
Nó muốn tôi không ngừng lắng nghe giọng nó,
còn tôi thì cựa quậy không yên, gây mất trật tự,
nghe được chăng hay chớ,
đi ra đi vào, rồi lại đi ra.

Nó muốn chiếm của tôi toàn bộ tâm trí và thời gian.
Khi tôi ngủ, nó làm điều này khá dễ.
Ban ngày thì hên xui, nên nó bực mình.

Nó ấn cho tôi thư, ảnh ngày xưa một cách nhiệt tình,
nó khơi ra những chuyện linh tinh và quan trọng,
hướng mắt tôi vào những nơi bị bỏ qua, sao lãng,
và làm chúng đông đúc lên bằng những người thân đã chết của tôi.

Trong các câu chuyện của nó đương nhiên tôi luôn trẻ hơn rồi.
Điều đó cũng hay, nhưng để làm quái gì mãi cái tình tiết ấy.
Mỗi tấm gương mang cho tôi một thông điệp khác.
Nó nổi trận lôi đình khi tôi nhún vai.

Đầy thù hằn, nó lôi ra mọi lỗi lầm của tôi,
những lỗi lớn, đã được quên dễ dãi.
Nó nhìn vào mắt tôi, chờ đợi
xem phản ứng ra sao.
Rồi cuối cùng lại an ủi ngọt ngào
rằng mọi thứ còn chưa quá tệ.

Ký ức muốn tôi sống cùng và chỉ cho riêng nó.
Tốt nhất là trong căn phòng kín mít tối mò,
nhưng trong các dự định của tôi luôn có ánh nắng bây giờ,
những đám mây thời nay, những con đường hiện tại.

Đôi lúc tôi ngán nó đến tận cổ.
Tôi đề nghị chia tay. Từ nay mãi mãi.
Khi ấy nó mỉm cười thương hại,
bởi biết rằng đó cũng chính là bản án cho tôi.  


Nguyên tác:

Jestem złą publicznością dla swojej pamięci.
Chce, żebym bezustannie słuchała jej głosu,
a ja się wiercę, chrząkam,
słucham i nie słucham,
wychodzę, wracam i znowu wychodzę.
Chce mi bez reszty zająć uwagę i czas.
Kiedy śpię, przychodzi jej to łatwo.
W dzień bywa różnie, i ma o to żal.

Podsuwa mi gorliwie dawne listy, zdjęcia,
porusza wydarzenia ważne i nieważne,
przywraca wzrok na prześlepione widoki,
zaludnia je moimi umarłymi.

W jej opowieściach jestem zawsze młodsza.
To miłe, tylko po co bez przerwy ten wątek.
Każde lustro ma dla mnie inne wiadomości.
Gniewa się, kiedy wzruszam ramionami.

Mściwie wtedy wywleka wszystkie moje błędy,
ciężkie, a potem lekko zapomniane.
Patrzy mi w oczy, czeka, co ja na to.
W końcu pociesza, że mogło być gorzej.

Chce, żebym żyła już tylko dla niej i z nią.
Najlepiej w ciemnym, zamkniętym pokoju,
a u mnie ciągle w planach słońce teraźniejsze,
obłoki aktualne, drogi na bieżąco.

Czasami mam jej towarzystwa dosyć.
Proponuję rozstanie. Od dzisiaj na zawsze.
Wówczas uśmiecha się z politowaniem,
bo wie, że byłby to wyrok i na mnie.
 

Wednesday, 18 July 2012

Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông



Nguyễn Thái Linh *

Trong bối cảnh Luật Biển Việt Nam vừa được quốc hội thông qua, Việt Nam đang ở một tư thế thuận lợi hơn trong công cuộc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình trên Biển Đông. Luật Biển Việt Nam tự đặt mình dưới các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và được xây dựng phù hợp với Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. Đây là một bước tiến lớn về pháp lý, đồng thời thể hiện tinh thần tôn trọng cộng đồng quốc tế và luật pháp quốc tế của Việt Nam. Nếu được áp dụng tốt, Luật Biển Việt Nam sẽ là một công cụ tích cực trong việc bảo vệ chủ quyền và quản lý biển.

Trước tình hình các tranh chấp trên Biển Đông ngày một phức tạp, với các động thái ngày một ngang ngược của Trung Quốc, Việt Nam càng cần tỏ ra bình tĩnh nhưng cương quyết, sử dụng những biện pháp hòa bình theo đúng tinh thần của Luật Biển và luật pháp quốc tế, tránh gây xung đột và căng thẳng không cần thiết. Khi Trung Quốc dùng sức mạnh vũ lực, hung bạo và trắng trợn bất chấp pháp lý, thì sức mạnh của Việt Nam chính là „sức mạnh mềm” ở thế đối lập, sức mạnh của lẽ phải, dựa vào pháp luật đến cùng, trừ phi bị tấn công bằng võ lực và có bằng chứng hiển nhiên. Một điều quan trọng là phải chứng minh việc vi phạm pháp luật của đối phương ở tọa độ nào, thời gian nào, mức độ vi phạm đến đâu với đầy đủ tư liệu minh chứng rõ ràng và những biện pháp truyền thông phù hợp và kêu gọi truyền thông quốc tế đưa tin, bài. Việt Nam cần kiên quyết và kiên nhẫn với các biện pháp này đến cùng.

Một mặt, nhà nước Việt Nam cần liên tục khẳng định chủ quyền và phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc bằng các tuyên bố chính thức đến cộng đồng quốc tế, Liên Hiệp Quốc và các cơ quan liên quan.

Mặt khác, cần tích cực tìm cách giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình theo đúng luật quốc tế như đàm phán, thương lượng, đưa ra trọng tài hay tòa án quốc tế. Tuy nhiên, khi yêu sách và tham vọng của Trung Quốc quá vô lý và ngang ngược, khó có thể đàm phán và thương lượng một cách công bằng. Trung Quốc cũng chưa bao giờ chịu chấp nhận thẩm quyền của bất cứ tòa án hay trọng tài quốc tế nào cho các tranh chấp trên Biển Đông nên điều cấp thiết là Việt Nam cùng các bên liên quan cần tìm cách ràng buộc Trung Quốc bằng một bộ quy tắc ứng xử (COC) có giá trị pháp lý. Việc Trung Quốc từ chối đàm phán COC và hội nghị bộ trưởng ASEAN không ra được tuyên bố chung vì các mâu thuẫn liên quan đến vấn đề Biển Đông vừa qua cho thấy các nước ASEAN không đủ đoàn kết và sức mạnh để tạo sức ép với Trung Quốc và chế độ concensus của ASEAN (cơ chế đồng thuận – một vấn đề chỉ được thông qua khi được tất cả các nước ASEAN tán thành, không có nước nào phản đối) cần phải điều chỉnh. Do vậy, rất cần tranh thủ sự ủng hộ của các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc... để họ tạo sức ép đối với Trung Quốc trong quá trình đàm phán COC. Hội nghị thượng đỉnh Đông Á là một khả năng cực kỳ thuận lợi có thể xét đến.

Việt Nam cần củng cố các cơ quan chấp pháp như cảnh sát biển, lực lượng hải quan, biên phòng, kiểm ngư v.v.... để có thể nắm rõ và chủ động xử lý các vi phạm trong vùng biển chủ quyền của mình, đồng thời hoàn thiện hệ thống quản lý hoàn thiện trên biển hiện đại có vệ tinh hỗ trợ và có khả năng phục vụ nhu cầu truyền thông chính đáng của VN ra quốc tế bằng nhiều thứ tiếng . Đây là phần Việt Nam còn rất yếu, cần tập trung nỗ lực để cải thiện.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là Việt Nam cần ý thức được tư thế chính đáng của mình trước thái độ bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc để xử lý các xâm phạm ngày một gia tăng của Trung Quốc một cách chủ động, bình tĩnh nhưng kiên quyết. Trong các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể xử lý theo đúng các qui định của luật Biển và luật quốc tế. Điều 73 khoản 1 của Công ước của LHQ về luật Biển ghi rõ: „Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước.' Đối với các hành động xâm phạm mang tính chất kinh tế, dân sự và bán dân sự của Trung Quốc, Việt Nam có thể sử dụng các biện pháp pháp lý như truy đuổi, yêu cầu ngừng hành vi, phạt hành chính, khám xét, bắt giữ, lập biên bản, dẫn độ và khởi tố theo các điều khoản của Luật Biển và luật quốc tế. Từ trước tới nay Việt Nam chưa sử dụng các biện pháp chính đáng này. Với thái độ ngày một hung hăng và ngang ngược của Trung Quốc, đây là lúc Việt Nam cần kiên quyết và dứt khoát thực hiện các biện pháp trong khuôn khổ luật pháp cho phép để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Việt Nam cũng có thể học tập kinh nghiệm của Phillippines, đơn phương kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Các biện pháp quân sự chỉ được sử dụng trong trường hợp phòng vệ chính đáng, khi bị tấn công bằng vũ lực.

Ngoài ra việc phổ biến và giáo dục Luật Biển (khi đã chính thức có hiệu lực), UNCLOS 1982 và các kiến thức về luật pháp cho ngư dân, các lực lượng cảnh sát, võ trang và các giới chấp pháp cũng là điều rất cần thiết. Khi nắm vững luật pháp, các ngư dân và người làm công tác biển sẽ tự tin hơn khi đối phó với kẻ xâm phạm biển. Đặc biệt khi các động thái này được sự hỗ trợ của truyền thông ra quốc tế.

Việt Nam cũng cần đầu tư thêm vào việc tranh thủ dư luận nước ngoài. Bộ Ngoại Giao Việt Nam nên có trang web phân tích pháp lý khi có sự kiện như cát cáp, TQ đuổi Ấn Độ khỏi lô 127, 128, CNOOC đấu thầu 9 lô dầu khí, vv... Như vậy các nhà báo và các nhà bình luận sẽ chuyển quan điểm của Việt Nam tới thế giới. Cần đầu tư thêm vào việc dùng báo chí quốc tế để nêu quan điểm của Việt Nam.


(*)Tác giả chân thành cảm ơn TS. Lê Vĩnh Trương và TS. Duơng Danh Huy đã góp ý cho bài viết này.