Wednesday, 4 June 2014

Bàn về tự do (Leszek Kołakowski)


(Thái Linh dịch)
Có hai phạm vi tư duy nơi vấn đề tự do được suy xét, cả hai đều rất rộng; chúng độc lập với nhau về lô-gíc tới mức việc bản thân từ „tự do” thích hợp với cả hai không còn là điều hiển nhiên. Phạm vi tư duy thứ nhất là cuộc vật lộn vĩnh cửu với câu hỏi: ”con người có tự do không?”, tự do từ chính bản chất loài người của mình, từ bẩm sinh đã được hưởng tự do bất khả tước đoạt? Tự do theo nghĩa này - tức là, thí dụ, khả năng chọn lựa, sự chọn lựa hoàn toàn không bị cưỡng bách bởi bất cứ thế lực nào ngoài nhận thức con người – đã vừa bị nghi vấn vừa được công nhận nhiều như nhau trong lịch sử văn hóa. Tranh cãi này có liên quan nhưng không đồng nhất với tranh cãi về tất định luận phổ thông. Nếu mỗi sự kiện đều đã được định sẵn tuyệt đối bởi toàn bộ các điều kiện nơi nó xảy ra, thì việc bàn về tự do lựa chọn chẳng còn nghĩa lý gì. Nếu từ bản chất, luật nhân quả chung là tuyệt đối đến thế thì chúng ta hẳn đã bị buộc phải đưa ra những kết luận đầy nghịch lý. Điều được định sẵn hoàn toàn bởi các điều kiện thì cũng khả lường - „trên nguyên tắc”, mặc dù không nhất thiết „thực hiện được”. Bởi vậy ta có thể tưởng tượng rằng, khi kỹ năng tiên đoán của chúng ta được hoàn thiện đúng mức, một ngày nào đó, trên cơ sở tất định luận, ta có thể đọc, thí dụ, một tin như sau trên báo: „hôm qua Janek Kowalski đã sinh ra ở Piotrkow, người sau này sẽ trở thành nhà soạn nhạc kiệt xuất. Để chào mừng sự kiện này ngày mai Dàn nhạc Giao hưởng Warszawa sẽ chơi bản giao hưởng số 3 mà anh sẽ sáng tác vào năm 37 tuổi.”

Song tự do không chỉ là sự lựa chọn giữa những khả thể sẵn có, mà còn là sự sáng tạo, làm ra những điều hoàn toàn mới mẻ, hoàn toàn bất ngờ.

Trước kia cả các nhà vật lý lẫn các triết gia đều tin vào tất định luận cứng nhắc; họ không có chứng cớ cho nó, nhưng họ cho rằng niềm tin này là sáng suốt hiển nhiên, chỉ có những kẻ lầm lẫn mới nghi ngờ và nó là cơ sở tất yếu của tư duy khoa học và duy lý. Trong thế kỷ của chúng ta, niềm tin này bị bẻ gãy, chủ yếu nhờ ngành cơ học lượng tử, và gần đây nhất nhờ cả thuyết hỗn độn. Các nhà vật lý đã vứt bỏ giáo điều tất định luận. Tất nhiên từ đây không thể kết luận rằng con người được ban tặng ý chí tự do – các điện tử không có ý chí tự do – mà chỉ có thể khẳng định rằng niềm tin vào ý chí tự do không bị vật lý học xóa sổ hay làm cho vỡ mộng. Không. Có thể, thậm chí theo tôi là cần phải, tin vào sự tự do lựa chọn – theo nghĩa trên – và vào sự sáng tạo lựa chọn mới; tự do là một trải nghiệm sơ đẳng của chúng ta, trải nghiệm của mỗi người; nó sơ đẳng tới mức không thể tách ra thành các phần để có thể phân tích riêng rẽ, do đó có thể cảm tưởng rằng tự do là một thực tại phi chứng minh. Không có lý do nào để không tin vào trải nghiệm này, dẫu chính vì nó sơ đẳng. Chúng ta thật sự là thủ phạm của các hành động mà ta thực hiện, chứ không chỉ là công cụ của các thế lực khác nhau quét qua thế giới, dẫu rằng, tất nhiên, chúng ta bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên. Chúng ta cũng thật sự đặt ra cho mình các mục tiêu, tốt hay xấu, mà chúng ta hướng tới. Các điều kiện ngoại giới hay những người khác có thể khiến mong ước của chúng ta tan vỡ, chúng ta có thể, thí dụ, bị hạn chế về thể lực tới mức không có khả năng thực hiện hiệu quả bất cứ lựa chọn nào, nhưng chúng ta vẫn không bị lấy mất năng lực lựa chọn, mặc dù bị mất đi khả thể sử dụng thứ tự do này.

Như vậy là thứ tự do này được ban cho con người đồng thời với nhân tính của họ, là nền tảng của nhân tính ấy, tạo ra con người như một điều gì đó đặc biệt từ bản chất.

Ở đây không có lý do gì để chúng ta khẳng định theo thánh Augustin và Kant, rằng chúng ta chỉ tự do khi lựa chọn cái tốt chứ không chọn cái xấu, do đó tự do của chúng ta được xác định qua nội dung sự chọn lựa chứ không phải bản thân khả năng chọn lựa. Khẳng định như vậy nghĩa là gói gọn các học thuyết luân lý vào chính khái niệm tự do.

Song ta cũng nói về thứ tự do không hiện hữu trong bản chất tồn tại của chúng ta, mà lại là tác phẩm của văn hóa, của đời sống tập thể và pháp luật. Tự do theo nghĩa này là phạm vi các hành động của con người mà tổ chức xã hội không cấm cũng không bắt buộc, do đó con người có thể chọn những gì họ thích, làm hay không làm điều gì đó mà không gây ra nguy cơ bị trả đũa. Tự do theo nghĩa này tất nhiên là có mức độ, nó có thể nhiều hay ít hơn và ta thường so sánh các thể chế chính trị khác nhau bằng thước đo tự do – từ những thể chế nơi tự do gần bằng không, tức các thể chế toàn trị với hình thức cực đoan (ví dụ nước Nga thời Stalin, Trung Quốc thời Mao Trạch Đông và các chế độ cộng sản châu Á khác, Đức Quốc xã), đến các thể chế nơi các lệnh cấm và mệnh lệnh được giới hạn đến tối thiểu. Các chế độ toàn trị luôn có tham vọng điều chỉnh mọi hành vi của con người và không để cho các cá nhân có quyền chọn lựa. Các chế độ độc tài nhưng không toàn trị thì muốn lấy đi tự do của con người trong mọi lĩnh vực nơi tự do có thể là mối đe dọa cho chính quyền, nhưng trong các vấn đề không ảnh hưởng đến việc giữ chính quyền thì chúng không hướng tới việc kiểm soát tuyệt đối và không cần phải có một hệ tư tưởng toàn diện, bao quát.

Dễ thấy là mặc dù tự do theo nghĩa này có thể bị giảm thiểu đến bằng không, song nó lại không thể trở thành vô hạn. „Tình trạng tự nhiên” giả định mà trước đây các lý thuyết gia về đời sống xã hội xét đến, nơi không có bất cứ quyền lợi, luật lệ, bất cứ tổ chức đời sống tập thể nào, mà chỉ là cuộc đấu tranh không dứt của tất cả chống lại tất cả, chưa từng tồn tại, nhưng nếu tình trạng này có tồn tại đi chăng nữa, thì nó cũng sẽ không bao giờ là tình trạng tự do vô hạn. Không thể nói rằng trong một thế giới như thế „mọi thứ đều được phép” (hay „được làm mọi thứ”), vì một điều có thể được phép hay không là bởi một luật lệ nào đó. Nơi không có luật thì cũng không có tự do, từ này sẽ mất ý nghĩa; nói cách khác tự do trong thế giới của chúng ta luôn bị giới hạn. Robinson Crusoe không hưởng thụ sự tự do vô hạn, nói cho cùng thì anh ta không hưởng thụ chút tự do nào hết. Tự do – lớn hơn hay nhỏ hơn – chỉ có thể có được ở nơi có gì đó được phép và có gì đó bị cấm (xin nhắc lại, để vấn đề được sáng tỏ hơn, một câu tiếu lâm mà tôi không biết của ai, có từ thời chiến tranh thế giới thứ nhất: ở Áo những gì không bị cấm là được phép, ở Đức những gì không được phép là bị cấm, ở Pháp mọi thứ đều được phép kể cả những gì bị cấm, ở Nga tất cả mọi thứ đều bị cấm kể cả những gì được phép).

Qua đây chúng ta thấy rằng, mặc dù hai nghĩa trên của từ „tự do” rất khác nhau, tới mức có thể có tự do theo nghĩa thứ nhất mà không có tự do theo nghĩa thứ hai, song chúng có liên hệ với nhau ở mức độ ta có thể sử dụng cùng một từ mà không ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới, miễn là chúng ta không trộn lẫn các nghĩa đó với nhau. Trong cả hai trường hợp đều nói đến khả năng lựa chọn: trong nghĩa thứ hai là về các điều kiện tình thế của sự lựa chọn, về những gì nói chung tổ chức xã hội và luật pháp chừa lại cho chúng ta lựa chọn; trong nghĩa thứ nhất là về các điều kiện tinh thần của chính chúng ta cho sự lựa chọn và sáng tạo, về bản thân thực kiện rằng chúng ta có quyền năng lựa chọn và sáng tạo, mặc dù khả năng này của chúng ta không giả định bất cứ điều gì về phạm vi các lợi ích mà ta có thể thực sự lựa chọn.

Có hai sai lầm phổ biến cần chú ý khi nói về tự do. Sai lầm thứ nhất chúng ta mắc phải khi đổ vấy khái niệm tự do cho mọi đòi hỏi của con người và mọi lợi ích mà người ta khao khát. Thật ra cũng chẳng có gì không ổn trong câu: „tôi đã tự giải phóng khỏi cơn đau” hay „cơn đói”; nhưng mặc dù không bị đau hay bị đói là đòi hỏi cơ bản nhất của con người, thì cũng không đúng nếu nói rằng khi đòi hỏi này được thỏa mãn, chúng ta sẽ được hân hưởng một thứ tự do cụ thể nào đó. Khi đó nói về „tự do” là nhẫm lẫn bởi vấn đề ở đây không phải là phạm vi cũng như khả thể chọn lựa hay sáng tạo bất cứ thứ gì. Cơn đau qua đi và như vậy là tốt, loại bỏ cơn đau là lợi ích vô cùng đáng khao khát; lợi ích đáng khao khát cũng có thể là quả táo cho người đang đói hay giấc ngủ cho người mệt mỏi hay bất cứ thứ gì mà con người thèm muốn. Nhưng loại bỏ cơn đau hoặc ăn táo không phải là một thể loại tự do, mà là lợi ích đáng khao khát. Biết bao người trong thế kỷ chúng ta, và trước kia nữa, đã hy sinh đời mình trong cuộc đấu tranh cho tự do đúng nghĩa, nên việc kéo giãn ý nghĩa của từ này ra cho bất kỳ thứ gì bất kỳ khi nào con người khao khát sẽ làm mờ tối mạng lưới khái niệm của chúng ta và tước đi năng lực của từ chuẩn; cốt lõi của khái niệm bị đánh mất. Sự phân biệt phổ biến giữa „tự do đối với cái gì đó” và „tự do để làm điều gì đó” là không cần thiết.

Sai lầm thứ hai là khi cho rằng tự do theo nghĩa pháp lý thứ hai sẽ không có ý nghĩa nếu các đòi hỏi khác không được đáp ứng. Đây là một lý lẽ trước kia được những người theo chủ nghĩa cộng sản sử dụng phổ biến: „việc nhà nước có tự do chính trị thì giúp được gì cho một người thất nghiệp đói khát?” Nhưng nó giúp được đấy. Cái đói có thể là một cảm giác cấp bách hơn sự thiếu tự do chính trị , song khi các tự do này hiện hữu, những người thất nghiệp đói khát có nhiều cơ hội hơn rất nhiều để phấn đấu cải thiện số phận, họ có thể tố chức đấu tranh cho lợi ích của mình và có thể đòi hỏi quyền lợi nếu thấy mình bị thiệt thòi.

Do vậy, nếu việc gọi mọi lợi ích đáng khao khát là tự do là sai (dầu sao thì một trại tập trung không có nạn đói là điều có thể hình dung, nhưng sẽ là mạo hiểm nếu khẳng định rằng trại tập trung này bảo đảm cho các tù nhân các tự do nhất định, trong khi đó một thể chế tự do bảo đảm các tự do khác), thì không có gì phải nghi ngờ rằng tự do trong nghĩa pháp lý cũng là một ích lợi rất đáng khao khát; ở đây nó là lợi ích tự thân, không chỉ bởi nó là công cụ và điều kiện để đạt được các lợi ích khác.

Ít nhất từ đây dẫn đến kết quả là càng nhiều tự do (theo nghĩa này) càng tốt. Nguyên tắc này không thể được chấp nhận một cách vô hạn định. Chắc chắn phần đông trong chúng ta cho là tốt khi nhiều hành vi trước kia bị trừng phạt giờ đây không còn bị trừng phạt nữa, ít nhất là ở các nước văn minh (ví dụ đồng tính luyến ái hay phép thuật). Nhưng không ai có tư duy lành mạnh lại đòi hỏi tự do đi xe bên phải hoặc bên trái đường tùy thích. Ở nhiều nước có những ý kiến cho rằng trẻ em ở trường có quá nhiều tự do, quá ít kỷ luật và điều đó ảnh hưởng tới cả chất lượng giảng dạy lẫn giáo dục đạo đức và công dân. Hơn nữa hoàn toàn không chắc là trẻ em từ những tuổi nhỏ nhất muốn có càng nhiều không gian chọn lựa càng tốt, mặc dù khao khát này lớn lên theo tuổi tác; có lẽ trẻ nhỏ chấp thuận một cách tự nhiên rằng người lớn bảo cho chúng biết cần phải làm gì và chúng không đòi hỏi người lớn để chúng tự lựa chọn. Chính người lớn chúng ta trong nhiều việc cũng dễ dàng nghe theo sự lựa chọn của người khác; chúng ta không tự tin và chờ đợi lời khuyên của các chuyên gia dẫu biết rằng không phải chuyên gia nào cũng xứng đáng được tin tưởng. Ta biết rằng sự chọn lựa tốt thường phụ thuộc vào hiểu biết về sự vật, và không ai có thể khoe mình có kiến thức đầy đủ trong mọi chuyện khi cần chọn lựa. Chúng ta có tự do nhưng thà không sử dụng nó đối với những việc chúng ta không thành thạo.

Tóm lại, không có một nguyên tắc quan trọng chung xác định tự do nhiều hơn hay ít hơn bao nhiêu là tốt đối với chúng ta. Đôi khi chúng ta có cơ sở cho rằng tự do cũng có thể quá nhiều, không chỉ quá ít, và rằng tự do vượt ra ngoài một số khuôn khổ sẽ gây hại. Chắc hẳn sẽ an toàn hơn nếu luật pháp mắc tội khi cho phép quá nhiều hơn là quá ít tự do để công dân tự quyết, nhưng ngay cả nguyên tắc này cũng không thể được thừa nhận vô hạn chế.

(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi", NXB Znak, Kraków 2008)

Monday, 2 June 2014

Ấn tượng từ nhà hát (Wisława Szymborska)


(Thái Linh dịch)


Trong vở bi kịch, hồi sáu với tôi là quan trọng nhất:
cuộc phục sinh từ những cảnh chiến trường,
tóc giả, xiêm y được chỉnh đốn sửa sang
con dao được rút ra từ lồng ngực,
cổ được tháo đi chiếc dây thòng lọng
đứng cùng người sống xếp hàng ngang
hướng mặt về người xem.

Những màn cúi chào chung, những màn cúi chào riêng:
bàn tay trắng trên trái tim thương tích,
cái nhún chân của cô gái quyên sinh
thủ cấp đã bị chặt nghiêng đầu.

Những cặp đôi cúi chào cùng nhau:
sự dịu hiền khoác tay giận dữ
nạn nhân hân hoan nhìn tên đao phủ,
tên phiến loạn chẳng hề hấn gì cùng bạo chúa sánh vai.

Cái giẫm lên vĩnh cửu của mũi giày.
Vành mũ tròn đuổi xua đạo đức.
Sự sẵn sàng khiếm khuyết
để bắt đầu lại từ ngày mai.

Đi hàng một tiến vào những người chết từ trước rất lâu
ở hồi ba, hồi tư và giữa các hồi trong vở.
Sự trở lại tuyệt vời của những người bặt tín vô âm.

Ý nghĩ rằng họ không cởi bỏ phục trang,
chẳng tẩy rửa phấn son,
kiên nhẫn đứng sau cánh gà chờ đợi,
khiến tôi xúc động hơn nhiều lời kịch tràng giang.

Nhưng thực long trọng uy nghiêm chính là lúc hạ màn
và những gì dưới rèm nhung còn thấy được:
đây một bàn tay nhặt vội bông hoa,
bàn tay khác ở kia chụp thanh gươm rớt
Chỉ khi đó bàn tay vô hình thứ ba
mới thi hành bổn phận:
nắm lấy cổ họng tôi siết nghẹt.


 Nguyên tác:

Wrażenia z teatru 

Najważniejszy w tragedii jest dla mnie akt szósty:
zmartwychwstanie z pobojowisk sceny,
poprawianie peruk, szatek,
wyrywanie noża z piersi,
zdejmowanie pętli z szyi,
ustawianie się w rzędzie pomiędzy żywymi
twarzą do publiczności.

Ukłony pojedyncze i zbiorowe:
biała dłoń na ranie serca,
dyganie samobójczyni,
kiwanie ściętej głowy.

Ukłony parzyste:
wściekłość podaje ramię łagodności,
ofiara patrzy błogo w oczy kata,
buntownik bez urazy stąpa przy boku tyrana.

Deptanie wieczności noskiem złotego trzewiczka.
Rozpędzanie morałów rondem kapelusza.
Niepoprawna gotowość rozpoczęcia od jutra na nowo.

Wejście gęsiego zmarłych dużo wcześniej,
bo w akcie trzecim, czwartym, oraz pomiędzy aktami.
Cudowny powrót zaginionych bez wieści.

Myśl, że za kulisami czekali cierpliwie,
nie zdejmując kostiumu,
nie zmywając szminki,
wzrusza mnie bardziej niż tyrady tragedii.

Ale naprawdę podniosłe jest opadanie kurtyny
i to, co widać jeszcze w niskiej szparze:
tu oto jedna ręka po kwiat śpiesznie sięga,
tam druga chwyta upuszczony miecz.
Dopiero wtedy trzecia, niewidzialna,
spełnia swoją powinność:
ściska mnie za gardło.

Sunday, 1 June 2014

(ballet) Don Quixote

(Kitri trong vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng) 


 Có thể nói Don Quixote một trong những chủ đề xuyên suốt lịch sử ballet. Vở ballet đầu tiên với chủ đề này được trình diễn vào năm 1614, đúng 400 năm trước trong hoàng cung Pháp với nhan đề „Le ballet de Don Quichot”. Kể từ đó, Don Quixote liên tục trở đi trở lại trên sân khấu, là nguồn cảm hứng của biết bao thế hệ vũ công và biên đạo, từ thời ballet cung đình baroque, qua thời phục hưng, lãng mạn và hậu lãng mạn, cho tới tận ballet tân cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại. Hầu hết các nhà biên đạo ballet lừng danh đều đã dựng vở Don Quixote của mình, từ Louis-Jacques Milon, Charles-Louis Didelot, Paul Taglioni... qua August Bournonville, Marius Petipa, Aleksandr Gorski, Ninette de Valois tới George Balanchine, Rudolf Nuriejew, Alexei Fadeyechev... Trong số đó, Don Quixote do Marius Petipa dàn dựng với âm nhạc của Ludwig Minkus đã trở thành một kinh điển lớn của nghệ thuật ballet.

Có lẽ không cần giới thiệu nhiều về Marius Petipa, nhà biên đạo người Pháp, là cha đẻ và một tên tuổi gắn liền với thời hoàng kim của ballet Nga mà bất cứ người nào có đôi chút quan tâm đến ballet đều không thể không biết, tác giả của các vở ballet nổi tiếng như Hồ thiên nga, Công chúa ngủ trong rừng, Kẹp hạt dẻ, Faust, Raymonda, La Bayadère... Nhưng còn Ludwig Minkus? Nhạc sĩ người Áo gốc Do Thái này là một trong những nhà soạn nhạc ballet sáng tác dồi dào nhất, với gần 30 vở, gắn bó gần như cả cuộc đời mình với nước Nga và ballet Nga. Nhưng tên tuổi của ông không vượt ra ngoài khuôn khổ các vở ballet, và Don Quixote là một trong những tác phẩm khiến ông không bị rơi vào quên lãng sau khi qua đời năm 1917 tại cố quốc trong đói nghèo và cô đơn, mộ phần bị quân quốc xã san phẳng năm 1939. Bi kịch của ông là đã sống và sáng tác trong thời đại mà các nhà biên đạo chủ yếu chú trọng đến các vũ điệu và tính kể chuyện, sự hoàn hảo về trang trí hơn là các yêu cầu nghệ thuật khác cao hơn trong ballet. Âm nhạc của ông phục vụ những mục đích ấy, nơi nhà soạn nhạc phải ưu tiên các vũ công và nhà biên đạo và do đó, không được các nhà âm nhạc học thời nay đánh giá cao. Nhưng chúng ta còn nhớ, vào thời đó, khi các vở Công chúa ngủ trong rừng hay kẹp hạt dẻ được trình diễn lần đầu, các nhà phê bình đã không tiếc lời chê bai âm nhạc củ Tchaikovsky là vứt đi, hay „không thể múa được”.

Don Quixote của Marius Petipa, mặc dù dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, thật ra không phải là một phản chiếu sắc nét của chủ đề văn học này. Nhân vật Don Quixote mờ nhạt, thậm chí chỉ là cái cớ để các vũ công trình diễn các vũ điệu nối tiếp, liên tục. Xét về nội dung, có thể nói đây là một vở ballet không mấy phong phú hay sâu sắc. Nhưng về mặt biên đạo, đây là một vở ballet xuất sắc và kiểu mẫu (nhất là sau khi được Aleksander Gorski bổ sung thêm). Marius Petipa dựng Don Quixote khi đã là một nhà biên đạo dày dạn kinh nghiệm, sau khi đã tự mình biên soạn các vũ điệu không ai bì kịp theo trường phái ballet divertissement thời kỳ đỉnh cao với tính chất tân cổ điển. Trong Don Quixote tràn ngập những vũ điệu Tây Ban Nha mà Marius Petipa thông thạo hơn ai hết, bởi ông đã dựng các vở ballet đầu tiên của mình ở Madrid, và chính ông đã học múa các vũ điệu dân gian Tây Ban Nha trong những năm 1845-1847. Màn múa giấc mơ của Don Quixote trong hồi 2 là một trong những tuyệt tác của biên đạo ballet. Tiết mục múa đôi (pas de deux) của Kitri và Basilio ở hồi 3 (còn được gọi là Grand pas de deux) đã được các nghệ sỹ ballet kiệt xuất của các thời đại khác nhau gặt hái không biết bao nhiêu thành công vang dội trên khắp thế giới. Tiết mục múa đơn xoay 32 vòng (fouettés) của Kitri luôn là niềm chờ đợi của khán giả, không ít người còn đếm xem vũ công có xoay đủ 32 vòng hay không. Các vũ điệu trong Don Quixote vui tươi, sinh động, đầy nhiệt huyết nhưng cũng đầy quyến rũ, khiến người xem hoàn toàn chìm đắm trong một không gian Tây Ban Nha tràn ngập nhịp điệu và sắc màu.



(Grand pas de deux của Kitri và Basilio do Svetlana Zakharova và Andrei Uvarov thực hiện)



(Natalia Opisova trong vai Kitri và tiết mục xoay 32 vòng)

Vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng và trình diễn lần đầu vào năm 2014 theo biên đạo của Marius Petipe với phần biên đạo mới của nhà biên đạo Nga nổi tiếng Alexei Fadeyechev mang lại cho người xem tất cả không khí và tinh thần Tây Ban Nha ấy. Sân khấu được dàn dựng với những sắc màu tươi sáng, rực rỡ trong hồi 1 với không khí vũ hội linh đình, trong màn giấc mơ của Don Quixote ở hồi 2 lại tối giản và tinh khiết với gam màu trắng và lơ chủ đạo, tới hồi 3 lại là sự kết hợp khéo léo và tinh tế giữa các màu sắc rực rỡ với các màu thanh nhã nhẹ nhàng... có thể nói là phần dàn dựng đẹp nhất và thành công nhất cho vở Don Quixote mà tôi từng được xem. Vũ đoàn với các vũ công kỹ thuật rất cao nên Alexei Fadeyechev tha hồ có đất dụng võ và đã không khiến khán giả thất vọng.

(Thái Linh)

Thursday, 1 May 2014

Mùa Xuân tinh khiết

Tôi đến Thụy Sĩ gặp bạn vào mùa Xuân. Thật lạ, lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác hồi hộp và hào hứng đến thế. Trước mỗi chuyến đi xa, tất nhiên, đều có chút háo hức. Nhưng sau bao nhiêu chuyến đi tôi đã tưởng chẳng có gì có thể làm mình hồi hộp nữa. Tôi đi chỉ để gặp bạn, đơn giản vậy thôi, chúng tôi chọn Thụy Sĩ vì đây là nơi cả hai chưa từng đến và gần nơi bạn tôi đang làm việc.

Vậy mà lần này lại hồi hộp với một chuyến đi có vẻ như vô tội: bạn là bạn cũ, rất cũ, và Thụy sĩ không phải là nơi tôi định „chinh phục”. Làm sao có thể chinh phục một đất nước cái gì cũng chính xác và hoàn hảo, đầy rẫy xa xỉ phẩm, nơi người ta nói tới 4 thứ tiếng hành chính và một nửa dân số Geneva – thành phố tôi đến – có hộ chiếu nước ngoài? Làm sao có thể hồi hộp với một nơi chỉ gợi lên những hiệp định, hiệp ước, Liên Hợp Quốc, những cuộc họp, những cuộc trưng cầu dân ý, tinh thần thượng tôn pháp luật tuyệt đối, những ngân hàng và những cái máy đo thời gian mà người ta vẫn gọi là đồng hồ? Thậm chí cả với sự bình yên không chiến tranh từ gần 2 thế kỷ? Có thể khâm phục hay ngưỡng mộ những điều ấy, thậm chí có thể cảm thấy chúng... chán ngắt, nhưng vì sao lại hồi hộp?

Quả thực Thụy Sĩ – chẳng gì thì cũng là nơi khai sinh của ngành du lịch hiện đại - còn có Alps và những đỉnh núi như Metterhorn hay Dufourspitze, còn có hàng nghìn hồ nước lớn nhỏ không ai đếm xuể. Nhưng hồ và núi chưa bao giờ hấp dẫn tôi hơn biển. Mỗi khi có dịp, tôi đều tìm cách ra biển. Vậy cớ gì mà hồi hộp?

Tôi không biết. Chỉ biết khi máy bay sắp hạ cánh, nhìn xuống những ngọn núi trùng điệp của dãy Alps đỉnh còn trắng tuyết, tôi đã thành thật xúc động. Như khi lần đầu xem bức tranh „Nhớ một chiều Tây Bắc” của Phan Kế An. Và tôi nhớ Trần Dần. „Bản tôi ở/ non che/ núi phủ./ Những cánh buồm mây/ san sát/ đậu/ quanh nhà./ Một biển sương lam/ gió cuộn-/ bồng bềnh”... Những lời gọi ra đi. „Đi!/ Đi!-/ Trên đá nhọn tháng ngày,/ Chẳng quay nhìn/ vệt máu/ sau chân.”

Đi luôn là niềm thôi thúc của thi nhân. „Tôi không gọi là thi nhân những người làm thơ, có vần điệu hay không có vần điệu. Tôi gọi là thi nhân những người có thể thay đổi thế giới một cách sâu xa”(i). Trần Dần đã đi. Rimbaud đã đi. Phải chăng tôi hồi hộp vì chính sự ra đi? Nhưng tôi đã có bao nhiêu cuộc ra đi kia mà, những chuyến đi còn dài hơn xa hơn?

Tôi không giải thích được cảm xúc của mình cho đến khi ngồi với bạn trong quán Con tàu say ở làng cổ Yvoire trên đất Pháp, bên bờ hồ Geneva. Một ngẫu nhiên, một tình cờ lạ lùng, bởi chúng tôi không chủ ý chọn quán này. Thực đơn của quán được in bằng phông chữ viết tay nắn nót trên giấy kẻ ô ly, bài thơ Con tàu say xuyên suốt từ bìa đầu sang bìa sau. Rimbaud. Rimbaud. Rimbaud! Chàng thi sĩ tôi mơ hồ thoáng nhớ khi nghĩ đến sự ra đi của những thi nhân, vào thời khắc đó, khi chúng tôi ngồi trong quán giữa một buổi trưa mùa Xuân xanh lừng, đột nhiên trở về chất ngất trong tâm trí, chói lòa như một vết gươm, tinh khiết như một dòng máu phun trào.

Tinh khiết. Đó là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về Rimbaud. Tinh khiết. Đó cũng là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về bạn tôi suốt bao năm và vừa chợt nhận ra điều ấy khi nhìn bạn tôi lim dim say rượu vang, má hây hồng chòng chành ngồi trên con tàu trở về Thụy Sĩ, mặt hồ xanh biếc phẳng lặng gặp bầu trời xanh biếc phẳng lặng ở một điểm xa hút tầm mắt, nước trong suốt và không khí trong suốt.

Tôi đã tìm thấy một viên đá xanh!

 

Tôi nhớ lại màu tuyết trắng tinh khôi trên những đỉnh núi Alps, và những đồng cỏ non tươi, những đàn bò, những cánh đồng hoa cải vàng màu nguyên thủy dọc các con đường chúng tôi đi qua, bầu không khí trong trẻo dịu dàng của những ngày đầu Xuân, làng Annecy đầy cỏ hoa tinh khiết đẹp như buổi sơ khai, đàn thiên nga trắng muốt tựa những đóa hoa loa kèn dập dờn trên làn nước xanh trong tới đáy của hồ Geneva.... Tất cả đều là một cảm giác tinh khiết rưng rưng. Không phải tôi đến Thụy Sĩ, Annecy hay Yvoire, mà là đến với sự tinh khiết. Tôi cảm động, hồi hộp, vui thích không phải vì những danh từ, mà vì một tính từ. Tính từ ấy, nấp sau bao danh từ chỉ vạn vật, là nơi chốn tôi muốn trở về, là điều tôi luôn trân quý nâng niu giữa cuộc sống bề bộn ồn ào. Tinh khiết. Và bạn tôi là hiện thân sống của tính từ ấy!

Tôi đã định nói với bạn điều này ngay khi xuống tàu, nhưng ngôn ngữ thật bất lực và ngại ngùng . Mà có lẽ tôi cũng không cần phải nói ra. Tôi vẫn tin có một thứ ngôn ngữ khác xuyên qua hết thảy - bất chấp những ngôn từ thường nhật, bất chấp những phù phiếm xôn xao, bất chấp những đau đớn vô lý, những phẫn nộ và mỉa mai của cuộc sống - như một thứ ánh sáng tinh khiết lan tỏa giữa chúng tôi, giữa sự mẫn cảm của chúng tôi, giữa những ước vọng, mộng mơ và tư tưởng, khiến chúng tôi thấu hiểu nhau. Ngôn ngữ ấy - có vần hay không có vần, được nói ra hay không được nói ra - tôi gọi là thi ca.

Cũng không biết vì sao sáng nay, sau những ngày quay cuồng trong công việc như vẫn thế sau mỗi chuyến đi, tỉnh dậy muộn trong buổi sáng đầu tiên của kỳ nghỉ lễ, chưa rửa mặt, chưa chải tóc, việc đầu tiên tôi làm sau khi nhìn thấy bầu trời xanh tinh khiết ngoài cửa sổ là mở laptop, viết những dòng lộn xộn lan man này. Tặng bạn.


Warszawa, ngày đầu tiên của tháng Năm, 2014
  
---------
Chú thích:
(i)  Henry Miller

Wednesday, 19 February 2014

Những đứa con của thời đại (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Chúng ta là những đứa con của thời đại,
thời đại chính trị.

Mọi chuyện của anh, của chúng ta, của các bạn
chuyện ban ngày, chuyện ban đêm
Đều là chuyện chính trị.

Dù muốn dù không
các gen di truyền của anh vẫn mang quá khứ chính trị
da anh mang màu chính trị
đôi mắt anh mang cái nhìn chính trị

Mọi điều anh nói đều có tiếng vang,
Mọi sự lặng im của anh đều là thông điệp
Đằng nào cũng là chính trị hết.

Ngay cả khi thả bộ trong rừng
Anh cũng bước những bước đi chính trị
Trên nền đất chính trị.

Những câu thơ phi chính trị cũng là chính trị,
Vầng trăng sáng trên cao,
không còn là trăng nữa.
Tồn tại hay không tồn tại, đó là câu hỏi.
Câu hỏi gì, mến thương ơi, hãy trả lời đi.
Câu hỏi chính trị.

Thậm chí anh chẳng cần phải là người
Để có được tầm quan trọng chính trị.
Chỉ cần anh là dầu lửa
ngũ cốc hay nguyên liệu tái chế - là đủ.

Hoặc là cái bàn hội nghị, mà hình dạng
bị tranh cãi hàng tháng:
đàm phán về chuyện sinh tử
bên bàn tròn hay vuông.

Trong khi đó con người vẫn bỏ mạng,
súc vật chết,
nhà cửa vẫn cháy
đồng ruộng hoang tàn
như trong những thời đại mịt mùng xa lắc

không chính trị bằng.


Nguyên tác:Jesteśmy dziećmi epoki,
epoka jest polityczna.

Wszystkie twoje, nasze, wasze
dzienne sprawy, nocne sprawy
to są sprawy polityczne.

Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.

O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.

Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.

Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.

Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.

Albo I stołem obrad, o którego kształt
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci,
okrągłym czy kwadratowym.

Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.


Tuesday, 18 February 2014

Tra tấn (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch
Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể biết đau,
phải ăn, ngủ và hít thở,
nó có làn da mỏng, ngay dưới da là máu,
có móng và răng - một số lượng khá nhiều,
xương dễ gãy, các khớp co dãn.
Khi tra tấn, tất cả những điều này đều được xét đến.

Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể run lên, như đã từng run
trước khi thành La Mã được lập nên, và sau đó,
vào thế kỷ hai mươi trước và sau Thiên Chúa,
những đòn tra tấn vẫn như xưa,
chỉ trái đất ngày càng nhỏ lại
và bất kỳ điều gì xảy ra cũng tựa như cách một bức tường.

Chẳng có gì đổi thay.
Chỉ có người ngày một nhiều hơn,
Bên cạnh những đòn cũ xuất hiện nhiều đòn mới,
đòn thật sự, tưởng tượng, không có, hay tạm thời,
nhưng tiếng kêu thét thân thể đáp lại chúng
đã, đang và sẽ là tiếng kêu vô tội,
theo cung bậc và âm giai xưa cũ đời đời.

Chẳng có gì đổi thay.
Có chăng chỉ là kiểu cách, lễ nghi, các điệu vũ.
Động tác đưa tay lên che đầu
thì vẫn nguyên như cũ.
Thân thể quằn quại, co giật, giãy ra,
bị chặt chân sụp xuống, khuỵu gối,
bầm tím, sưng vù, chảy máu và dãi nhớt.

Chẳng có gì đổi thay.
Ngoại trừ những bờ sông,
đường biên của rừng, bờ biển, sa mạc và sông băng.
Giữa những phong cảnh ấy, một linh hồn bé nhỏ dật dờ,
khi ẩn, khi hiện, khi gần lại, khi xa mờ,
xa lạ với bản thân, không cách gì nắm bắt,
lúc chắc chắn, lúc phân vân
về sự hiện hữu của chính mình,
trong khi thân thể vẫn có đó, có đó và có đó
mà chẳng chốn nương thân.



Nguyên tác:
Nic się nie zmieniło.
Ciało jest bolesne,
jeść musi i oddychać powietrzem i spać,
ma cienką skórę, a tuż pod nią krew,
ma spory zasób zębówi paznokci,
kości jego łamliwe, stawy rozciągliwe.
W torturach jest to wszystko brane pod uwagę.

Nic się nie zmieniło.
Ciało drży, jak drżało
przed założeniem Rzymu i po założeniu.
w dwudziestym wieku przed i po Chrystusie,
tortury są, jak były, zmalała tylko ziemia
i cokolwiek się dzieje, to tak jak za ścianą.

Nic się nie zmieniło.
Przybyło tylko ludzi,
obok starych przewinień zwawiły się nowe,
rzeczywiste, wmówione, chwilowe i żadne,
ale krzyk, jakim cialo za nie odpowiada,
był, jest i będzie krzykiem niewinności,
podług odwiecznej skali i rejestru.

Nic się nie zmieniło.
Chyba tylko maniery, ceremonie, tańce.
Ruch rąk osłaniających głowę
pozostal jednak ten sam.
Ciało się wije, szarpie i wyrywa,
ścięte z nóg pada, podkurcza kolana,
sinieje, puchnie, ślini się i broczy.

Nic się nie zmieniło.
Poza biegiem rzek,
linią lasów, wybrzeży, pustyń i lodowców.
Wśród tych pejzaży duszyczka się snuje,
znika,powraca, zbliża się, oddala,
sama dla siebie obca, nieuchwytna,
raz pewna, raz niepewna swojego istnienia,
podczas gdy ciało jest i jest i jest
i nie ma się gdzie podziać.

Kết thúc và khởi đầu (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.

Phải có người xúc đống gạch nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy xác
đi qua.

Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.

Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.

Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh khác.

Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.

Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa mất.
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm thấy
những thứ đó chán ngấy.

Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào lên
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.

Những người biết
về những điều từng xảy ra nơi đây
phải nhường chỗ cho những người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.

Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm

và ngây ngắm mây bay.


Nguyên tác:
    Koniec i początek

    Po każdej wojnie

    ktoś musi posprzątać.
    Jaki taki porządek
    sam się przecież nie zrobi.
    Ktoś musi zepchnąć gruzy
    na pobocza dróg,
    żeby mogły przejechać
    wozy pełne trupów.
    Ktoś musi grzęznąć
    w szlamie i popiele,
    sprężynach kanap,
    drzazgach szkła
    i krwawych szmatach.
    Ktoś musi przywlec belkę
    do podparcia ściany,
    ktoś oszklić okno
    i osadzić drzwi na zawiasach.
    Fotogeniczne to nie jest
    i wymaga lat.
    Wszystkie kamery wyjechały już
    na inną wojnę.
    Mosty trzeba z powrotem
    i dworce na nowo.
    W strzępach będą rękawy
    od zakasywania.
    Ktoś z miotłą w rękach
    wspomina jeszcze jak było.
    Ktoś słucha
    przytakując nie urwaną głową
    Ale już w ich pobliżu
    zaczną kręcić się tacy,
    których to będzie nudzić.

    Ktoś czasem jeszcze
    Wykopie spod krzaka
    przeżarte rdzą argumenty
    i poprzenosi je na stos odpadków.

    Ci, co wiedzieli
    o co tutaj szło,
    muszą ustąpić miejsca tym,
    co wiedzą mało.
    I mniej niż mało.
    I wreszcie tyle co nic.

    W trawie, która porosła
    przyczyny i skutki,
    musi ktoś sobie leżeć
    z kłosem w zębach
    i gapić się na chmury.


  

Friday, 14 February 2014

Thơ rất cũ :)

Thức tỉnh buồn

Như mảnh thiên thạch đột nhiên rơi vào lồng ngực em, anh mãi để lại
Hương thơm và ánh sáng vũ trụ phảng phất quanh tim em,
Ưu phiền và bóng tối thời gian lẩn quất.

Huy hoàng hơn những vết xước rực cháy trong ngực vì cạnh đá nhọn sắc,
U minh hơn những hố thẳm của hơi thở trong đêm sâu quặn thắt,
Yêu-thương là một thức tỉnh buồn. 

*

Chỉ còn Ánh Sáng

Vậy là chỉ còn Ánh Sáng
Em
chỉ còn Ánh Sáng.

Những cơn đau sắc nhọn
mờ mờ dần mòn
Những đêm đen nhức nhối bóng tối
loãng loãng tan ra
Những vực sâu em đã đi qua
dâng dâng đầy lấp
Những hờn ghen cay đắng
nhạt nhạt phai nhòa...

Chỉ còn Ánh Sáng.

Những câu thơ không được viết ra
Những ngôn từ rỗng nghĩa
Gương mặt anh trở nên xa lạ quá
trong xôn xao nhẹ bỗng ngoài kia...

Màu thời gian màu của vĩnh ly
Chỉ còn Ánh Sáng.

*

Những lời bông đùa

Những lời bông đùa, anh thấy không, chúng ta trốn vào đó như trốn sau những tấm rèm vạn năng mờ ảo, mềm mại nhưng không cách gì xuyên thủng - lớp da trơn tuột, bóng nhẫy mà ta ra sức gắn lên đó những emoticon hình mặt cười tựa những chiếc vẩy tua tủa sắc cạnh, thứ vũ khí lợi hại bảo vệ chúng ta trước mọi tổn thương và tan vỡ trong thế giới đầy nghi hoặc, hoang mang.

Những lời bông đùa, anh biết không, sẽ trở thành tấm vải liệm của chúng ta. Ngay cả khi đã chết, mình cũng vẫn không thể chạm vào nhau, vĩnh viễn.

*

Chỉ còn Im Lặng

Ngay khi Yêu Thương như viên đá long lanh từ đáy đại dương trĩu lặn vào lồng ngực em khiến trái tim như muốn vỡ òa, chính là lúc em cảm thấy nó mong manh như hương thơm trong vắt của giọt sương vừa ứa ra trên đóa Huệ-tây trắng muốt.

Chỉ còn Im Lặng... 

Ngay khi Gần Gũi như tiếng thì thầm âu yếm từ đôi-môi-kẻ-đang-yêu khẽ chạm vào làn da khiến cơ thể em nhận ra anh rõ ràng hơn bao giờ hết, chính là lúc em cảm thấy nó hun hút nghìn trùng như ngọn gió lang thang thổi suốt sa mạc hoang vu mênh mông vẩy cát.

Chỉ còn Im Lặng...

Ngay khi Thực Tại như trái ô-liu đen óng từ một hòn đảo Hy Lạp nhẹ vỡ trong vòm miệng em khiến đầu lưỡi run lên trong vị mặn bùi, chính là lúc em cảm thấy nó lãng đãng tan ra như bóng tối của đêm Địa Trung Hải xa xưa nhạt nhòa sóng vỗ.

Chỉ còn Im Lặng...

(Thái Linh)

Tuesday, 14 January 2014

Letter to the United Nations on the 40th anniversary of Chinese military intervention on the Paracel archipelago

January 19th this year marks the fortieth anniversary of China’s seizure of the Paracel archipelago. For the past 40 years, China has occupied the whole archipelago. 
However, according to international law sovereignty over the Paracel archipelago still belongs to Viet Nam. The United Nations Charter prohibits the acquisition of territory by force. 
Viet Nam must always remind the world of this flagrant breach of international law by China, always affirm its sovereignty over the archipelago, and urge China to accept the submission of the sovereignty dispute to adjudication by the International Court of Justice. 
That is the content of the letter we are sending to the United Nations, in our conviction that world of peace and justice exists only when every country respects international law. 
The letter is written by two non-governmental organisations that work for justice for Viet Nam and the other small countries that are parties to South China Sea disputes: the Southeast-Asia Sea Research Foundation and the Bien Dong tai Phap Group. 
We would like to bring the voice of Vietnamese and other peace-loving peoples around the world to the highest and most competent legal authorities of the world:
United Nations General Secretary
United Nations Rule of Law Unit
United Nations First Committee (Disarmament and International Security)
International Court of Justice 
Let us remind the world of the flagrant violation of international law when China invaded the Paracel archipelago in 1974. Let’s urge China to submit the dispute to the International Court of Justice.
Please join us in signing this letter: 
One voice may be small, but a million will change the world. 
Le Trung Tinh
Southeast-Asia Sea Research Foundation – Bien Dong tai Phap Group

----

United Nations General Secretary
United Nations Rule of Law Unit
United Nations First Committee (Disarmament and International Security)
International Court of Justice


19th January 2014
 Madam, Sir, 
January 19th this year marks the fortieth anniversary of the China’s seizure of the Paracel archipelago.
In the context of recent tensions, notably in the East China Sea following the establishment by China of an “Air Defense Identification Zone”, we would like firstly to draw your attention on this anniversary with the hope that history will help us understand the present and thereby better predict the future for the sake of apeaceful worldSecondlywe would like on this occasion to remind the importance of respect forinternational law, as a cornerstone of world peace and stability. Promoting the rule of law at the international level is at the heart of the United Nations’ mission. As world citizens, we feel compelled to share part of this responsibility. 
According to numerous historical documents, before the French colonization in 1884, Vietnam enjoyed undisputed sovereignty on the Paracel archipelago, without any rivalry, for nearly two centuries. During the period of French colonization in Vietnam, France clearly and strongly asserted sovereignty over the archipelago.
During the post-colonial period and the years of the Vietnam War, from 1956 to 1975, Vietnam was divided in two parts on either side of the 17th parallel by the 1954 Geneva Accords. The Paracel archipelago, lying south of this line, naturally came under the sovereignty of the Republic of Vietnam. The Government of the Republic of Vietnam never departed from a clear and well stated intention to maintain its sovereignty over the archipelago.  It maintained military contingents there ever since French troops withdrew from Indochina.
On January 15, 1974, Beijing landed troops in the western islands of the Paracel archipelago and in the following days reinforced its operation by a strong maritime deployment.
On January 19 and 20, 1974, China attacked and completely took over the islands after fierce fighting against the forces of the Republic of Vietnam.
After these acts of extreme violence, the Republic of Vietnam’s observer at the United Nations requested the review of the matter by the Security Council of the United Nations. In a diplomatic note sent to all signatories of the Paris Accords, the administration of the Republic of Vietnam requested a special session of the Security Council. Yet China, due to its veto in the Security Council, blocked all efforts to open a debate on the issue.
Ever since, Vietnam, reunited after 1975, continued to clearly assert its sovereignty over the Paracel archipelago. Despite all these challenges, China continues occupying the whole archipelago and develops there considerable infrastructures.
 The Chinese military intervention in 1974 on the Paracel archipelago constitutes an obvious breach of international law, including the principle according to which all international disputes must be settled exclusively by pacific means. This principle, originally enshrined in the 1928 Briand-Kellogg Pact has been solemnly reaffirmed on number of occasions since then in the framework of the United Nations.  Hence, the 1970 Declaration on Principles of International Law Concerning Friendly Relations and Co-operation among States unambiguously states that “[e]very State has the duty to refrain from the threat or use of force to violate the existence of another State or as a means of settling international disputes on international borders, including territorial disputes and problems concerning the borders of States.”
 There is nevertheless no lack of means to find a solution to the dispute over the Paracel archipelago, one of them being the submission of the dispute to the International Court of Justice. However, Beijing has turned a deaf ear to all proposals in this direction. If China continuously asserts the strength of evidence of its sovereignty over the archipelago, why does it not agree to submit the case to the most appropriate organization for resolving such disputes between States?
Reference to the United Nations Security Council, whose competences in that respect flow from Article 33 (and more generally Chapter VI) of the Charter could be another mean to move towards a peaceful settlement of that dispute.
But here too, China prevented any initiative of the Security Council, in particular in 1974, or after in 1988, when Vietnam attempted to make a similar call to the Council.
 The use of force, the threat to use force, and the refusal to negotiate or to submit the dispute to settlement by an international court are obviously not actions and behaviors in favor of a peaceful and stable world.
We therefore firmly urge China to comply with international law and to accept the submission of the Paracel archipelago dispute to the arbitration of the International Court of Justice.
The world witnessed in the past terrible sufferings as nations for the sake of their own benefit did not respect the basic principles of international law. No one wishes such situations to recur.
January 19, 2014, the 40th anniversary of the China’s seizure of the Paracel archipelago, is an occasion for the whole world to look back and for the parties to correct mistakes made in the past. Let us do all for a world of peace, stability and justice, where each nation respects international rules.
Sincerely,
Vietnamese and people from all over the world

Signatory list

Sign the letter