Ngựa và Chó, sáp màu trên giấy, 25x35cm, 12 tuổi
Sunday, 20 October 2013
Wednesday, 2 October 2013
Friday, 13 September 2013
Wednesday, 4 September 2013
Mùa thu (Boris Pasternak)
Thái Linh dịch
Anh đã để gia đình ly tán
Bạn bè thân lưu lạc lâu rồi,
Bạn bè thân lưu lạc lâu rồi,
Chỉ còn lại nỗi cô đơn dằng
dặc
Ngập trong tim và dâng khắp đất
trời.
Nơi đây hai ta giữa rừng vắng
không người,
Anh với em trong túp lều gác nhỏ
Những lối mòn cô liêu lút cỏ
Như trong bài ca xưa xanh xao.
Và bốn bên những tường gỗ hư
hao
Giờ đây nhìn hai ta buồn bã.
Ta không nguyện sẽ vượt qua tất
cả,
Nhưng sẽ chết cùng nhau trung
thực, quang minh.
Ngồi bên nhau hai đứa suốt thâu
canh
Anh đọc sách, em thêu thùa đan
lát
Bình minh tới, từ khi nào chẳng
biết
Ta không nhận ra mình đã ngừng
hôn.
Huy hoàng lên, kiêu bạt lộng lẫy
hơn,
Lá hãy trút trong xạc xào náo
loạn!
Chén đắng hôm qua khổ đau chưa
cạn
hãy rót thêm sầu chất ngất hôm
nay!
Ôi thiết tha, quyến rũ, mê
say!
Ta tan mãi vào xôn xao tháng Chín!
Hãy vùi đắm trong tiếng thu xao xuyến!
Ta tan mãi vào xôn xao tháng Chín!
Hãy vùi đắm trong tiếng thu xao xuyến!
Hãy lặng đi, hoặc hãy điên
cuồng!
Trút hết đi xiêm áo, em
thương,
Như rừng thu dạt dào trút lá,
Nơi vòng tay anh dịu dàng em ngả
tấm thân son trong chiếc áo lụa
là.
Em là phước lành trên bước tử thần qua
Khi đời sống đáng rủa nguyền hơn bệnh tật.
Và can đảm – cội nguồn cái
đẹp
Chính là điều cuốn ta lại gần
nhau.
Monday, 2 September 2013
Chẳng có gì biếu không (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Chẳng có gì biếu không, tất cả
là vay mượn.
Tôi nợ ngập đầu.
Tôi sẽ phải gán mình
Tôi nợ ngập đầu.
Tôi sẽ phải gán mình
trả nợ cho bản thân,
mạng đem trả mạng.
Sự thể đã sắp đặt:
phải trả lại tim
phải trả lại gan
và từng ngón tay ngón chân.
Quá muộn để hủy hợp đồng.
Tôi sẽ bị lột da
Tôi sẽ bị lột da
tróc nợ.
Tôi đi giữa thế gian
trong đám đông những con nợ
khác.
Vài kẻ mang gánh nặng
phải trả cánh của mình.
Những kẻ khác dù muốn dù không
đem lá ra thanh toán.
Bên Nợ đã ghi sẵn
mọi tế bào trong ta.
Bên Nợ đã ghi sẵn
mọi tế bào trong ta.
Không một tua lá, sợi mi nào
giữ lại được vĩnh viễn.
Danh mục ghi chi tiết
và xem ra
chẳng có gì còn lại của ta.
Tôi không thể nhớ ra
khi nào, ở đâu và để làm gì
tôi chấp nhận mở cho mình
tài khoản ấy.
Ta gọi sự phản kháng chống lại điều này
là tâm hồn.
Và đó là thứ duy nhất
Và đó là thứ duy nhất
không có trong danh mục nợ nần.
Nguyên tác:
Nic darowane, wszystko pożyczone.
Toną w długach po uszy.
Będę zmuszona sobą
zapłacić za siebie,
za życie oddać życie.
Tak to już urządzone,
że serce do zwrotu
i wątroba do zwrotu
i każy palec z osobna.
Za późno na zerwanie warunków umowy.
Długi będą ściągnięte ze mnie
wraz ze skórą.
Chodzą po świecie
w tłumie innych dłużników.
Na jednych ciąży przymus
spłaty skrzydeł.
Drudzy chcąc nie chcąc
rozliczą się z liści.
Po stronie Winien
wszelka tkanka w nas.
żadnej rzęski, szypułki
do zachowania na zawsze.
Spis jest dokładny
i na to wygląda,
że mamy zostać z niczym.
Nie mogę sobie przypomnieć
gdzie, kiedy i po co
pozwoliłam otworzyć sobie
ten rachunek.
Protest przeciwko niemu
nazywamy duszą.
I to jest to jedyne,
czego nie ma w spisie.
Toną w długach po uszy.
Będę zmuszona sobą
zapłacić za siebie,
za życie oddać życie.
Tak to już urządzone,
że serce do zwrotu
i wątroba do zwrotu
i każy palec z osobna.
Za późno na zerwanie warunków umowy.
Długi będą ściągnięte ze mnie
wraz ze skórą.
Chodzą po świecie
w tłumie innych dłużników.
Na jednych ciąży przymus
spłaty skrzydeł.
Drudzy chcąc nie chcąc
rozliczą się z liści.
Po stronie Winien
wszelka tkanka w nas.
żadnej rzęski, szypułki
do zachowania na zawsze.
Spis jest dokładny
i na to wygląda,
że mamy zostać z niczym.
Nie mogę sobie przypomnieć
gdzie, kiedy i po co
pozwoliłam otworzyć sobie
ten rachunek.
Protest przeciwko niemu
nazywamy duszą.
I to jest to jedyne,
czego nie ma w spisie.
Thursday, 29 August 2013
Uống rượu (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Chàng đã nhìn em, khiến em đẹp hơn lên,
em nhận lấy như của mình nhan
sắc.
Nuốt một vì sao, em hạnh
phúc.
Em cho phép bản thân bịa đặt
mình giống hình phản chiếu đáy
mắt chàng.
Em khiêu vũ, em đang khiêu vũ
Em khiêu vũ, em đang khiêu vũ
trong bất ngờ cánh vỗ liền
đôi.
Bàn là bàn, rượu là rượu đấy
thôi
trong chiếc ly là chiếc ly trên
bàn nằm đó
Nhưng em ảo, em là hư ảo
ảo đến khó tin
ảo tận máu đào.
Em nói điều chàng muốn nghe:
về những chú kiến vàng
chết vì yêu dưới chòm sao bồ công anh trắng.
chết vì yêu dưới chòm sao bồ công anh trắng.
Em xin thề, đóa hồng bạch kia
đang hát,
cánh được tưới bằng những
giọt rượu vang.
Em cười vui, đầu khẽ
nghiêng sang
thận trọng, tựa như đang kiểm
nghiệm
một phát minh. Em khiêu vũ, khiêu
vũ
trong làn da kinh ngạc
trong vòng tay đang tạo nên em.
Eva từ xương sườn, Vệ nữ từ
bọt biển nổi lên,
Minerva từ trán thần Zeus,
đều thực hơn em.
Khi chàng thôi không còn nhìn em,
em tìm bóng hình mình trên tường phản
chiếu.
Em chỉ thấy một chiếc đinh
lạnh lẽo
nơi bức tranh bị gỡ đi rồi.
Nguyên tác:
Przy winie
Spojrzał, dodał mi urody,
a ja wzięłam ją jak swoją.
Szczęśliwa, połknęłam gwiazdę.
Pozwoliłam się wymyślić
na podobieństwo odbicia
w jego oczach. Tańczę, tańczę
w zatrzęsieniu nagłych skrzydeł.
Stół jest stołem, wino winem
w kieliszku, co jest kieliszkiem
i stoi stojąc na stole.
A ja jestem urojona,
urojona nie do wiary,
urojona aż do krwi.
Mówię mu, co chce: o mrówkach
umierających z miłości
pod gwiazdozbiorem dmuchawca.
Przysięgam, że biała róża
pokropiona winem, śpiewa.
Śmieję się, przechylam głowę
ostrożnie, jakbym sprawdzała
wynalazek. Tańczę, tańczę
w zdumionej skórze, w objęciu,
które mnie stwarza.
Ewa z żebra, Wenus z piany,
Minerwa z głowy Jowisza
były bardziej rzeczywiste.
Kiedy on nie patrzy na mnie,
szukam swojego odbicia
na ścianie. I widzę tylko
gwóźdź, z którego zdjęto obraz.
Tuesday, 30 July 2013
Bàn về nỗi chán (Leszek Kołakowski)
![]() |
| (Charles Baudelaire) |
Ta hãy thử viết về
nỗi chán một cách không chán. Không chán - ngoài những
đặc điểm khác - có nghĩa là ngắn thôi. Bản thân
chuyện về nỗi chán không chán cũng không vô nghĩa, bởi
nó bàn đến một trải nghiệm được biết đến rộng
rãi, cụ thể là trải nghiệm nói chung bị xem là tiêu
cực nhưng lại không thể gọi là đau khổ (ngoại trừ
những trường hợp cực đoan như việc tước bỏ nhân
tạo mọi xung động ham muốn của con người một thời
gian dài trong các thử nghiệm tâm lý học).
Tương tự như các
phẩm chất thẩm mỹ, nỗi chán là một hiện tượng xuất
hiện khi được trải nghiệm, song đồng thời có thể
gán cho khách thể được tri giác chứ không riêng cho kẻ
tri giác („tiểu thuyết này khiến tôi phát chán”, „tiểu
thuyết này chán”); bởi vậy, nói cho sang, nó thích hợp
với một xem xét mang tính hiện tượng luận.
Khi dừng lại ở cách
dùng thông thường của từ này, ta sẽ nhận thấy ngay,
thứ nhất, ta chỉ gán sự chán cho những gì kéo dài
trong thời gian: vở kịch chán, bản nhạc chán, bài lịch
sử chán, công việc chán, nói chung ta không nói tác phẩm
hội họa chán, thứ thường là ta nắm bắt được ngay
trong một cái nhìn. Phong cảnh chán, nghĩa là đơn điệu,
không có sự tương phản, nếu ta ngắm nhìn nó trong
khoảng thời gian dài, ví dụ khi đi tàu qua bình nguyên
phủ đầy tuyết. Từ góc độ khách thể, chán là sự
lặp lại chính một điều, hoặc là sự hỗn độn, thiếu
vắng sự khớp nối và ý nghĩa (song tiểu thuyết hay bi
kịch diễn tả thế giới trong hỗn loạn hoàn toàn không
nhất thiết phải chán: thí dụ Ulisses của Joyce, kịch
của Beckett và nhiều thứ khác). Từ góc độ người tri
giác, chán nghĩa là không có khả năng mong đợi điều gì
đó mới mẻ, là cảm giác hiện hữu (dẫu chỉ trong chốc
lát) trong một thế giới nơi sẽ không có gì xảy ra, tức
là nơi hoặc sẽ mãi như thế, hoặc nếu có gì đó xảy
ra thì người tri giác cũng thấy như nhau, nghĩa là như
chẳng có gì xảy ra.
Có thể khẳng định
rằng chẳng có gì tự thân nó là chán, bởi con người
khác nhau trong cách tiếp nhận những mảnh thế giới khác
nhau, và cảm giác chán của họ phụ thuộc vào từng
trường hợp, nhất là phụ thuộc vào kinh nghiệm từng
trải qua. Một bộ phim hoàn toàn thú vị có thể trở
thành chán nếu ta xem lại ngay sau khi xem lần đầu, bởi
những gì sẽ xảy ra ở đó đối với ta là đã xảy ra.
Ngay cả một người rất kém giáo dục về âm nhạc cũng
không cho một bản concerto cho vĩ cầm của Paganini,
concerto cho vĩ cầm của Tchaikovsky, concerto cho dương cầm
của Chopin là chán, nhưng lại có thể chán một số bản
giao hưởng của Brahm, mà người am hiểu sẽ không chia sẻ
cả ý kiến lẫn cảm nhận này, chắc chắn sẽ phê phán
sự vô minh của anh ta. Có thể một tác phẩm lịch sử
nào đó khiến tôi chán, nhưng lại lý thú với người
khác, bởi sự tiếp nhận của tôi là do tôi không thấy
sự tương phản, bởi vậy tôi không biết phân biệt nặng
nhẹ, mới cũ v.v. Một việc là chán đối với người
làm nó đã lâu và theo lệ, không nhất thiết chán đối
với người làm lần đầu. Ta hãy thử cố tạo ra nỗi
chán và đọc một cuốn sách bằng thứ ngôn ngữ mình
không biết trong suốt một giờ đồng hồ: ấy thế nhưng
cuốn sách đó có thể là tiểu thuyết của Agatha
Christie.
Dĩ nhiên, trong nỗi
chán cũng như sự chán ngán có một vùng đáng kể phụ
thuộc hoàn toàn vào các khuynh hướng và kinh nghiệm cá
nhân của chúng ta và không thể có được sự đồng
thuận. Vấn đề liệu có điều gì chán tự thân hay
không cũng tương tự như vấn đề của các phẩm chất
mỹ học: có phải chúng luôn luôn và tuyệt đối là dự
phóng cá nhân, hay chúng được phát hiện ra „trong sự
vật” bằng cách nào đó? Cả hai trường hợp đều có
phạm vi đồng thuận và phạm vi bất đồng, chắc chắn
vậy. Cả hai trường hợp cũng đều là về những phẩm
chất được giáo dục rèn luyện qua văn hóa; có lẽ thật
ra chả có gì là ngớ ngẩn trong giả định rằng khi các
phẩm chất đó được tri giác, luôn có sự tác động
qua lại giữa sự vật và tinh thần, và rằng câu hỏi
điều gì tuyệt đối có trước chẳng có mấy ý nghĩa.
Nói chung chúng ta cho
rằng chán không những là hiện tượng phổ biến ở loài
người – đây không phải là đặc quyền của Baudelaire
hay Chateaubriand – mà còn là đặc trưng của con người,
loài vật không có trải nghiệm đó (nếu chó nhà cũng có
trải nghiệm về nỗi chán, như chúng ta vẫn tưởng tượng
– dẫu làm sao có thể biết được điều đó? - thì
chắc hẳn chúng học điều đó từ chúng ta); khi các nhu
cầu sinh lý của chúng được thỏa mãn và không có sự
đe dọa nào, các loài vật nằm ườn không hoạt động
để không tiêu hao năng lượng vô ích, và chẳng có lý
do gì để giả định rằng chúng đang chán. Hơn thế nữa,
không rõ nỗi chán sinh ra khi nào và vì sao; tôi không cho
rằng trước thế kỷ XIX đây từng là một chủ đê văn
học hay triết học, mặc dù từ này đã tồn tại. Dân
quê ở các làng mạc sơ khai truyền thống, từ sáng sớm
đến tối mịt đầu tắt mặt tối chỉ để đủ ăn,
trong sự đơn điệu của công việc thường ngày, chỉ
sống một nơi suốt cuộc đời, họ có trải nghiệm nỗi
chán không? Tôi không biết, nhưng tôi hình dung rằng ngay
cả một phận đời như thế, chẳng có lấy một viễn
cảnh thay đổi, gần như phi thời gian, cũng không nhất
thiết phải gây ra cảm giác chán thường xuyên; luôn có
điều gì đó xảy ra ngoài lệ thường: con cái ra đời,
con cái chết, hàng xóm ngoại tình, bão, hạn hán, lụt
lội, hỏa hoạn, rất nhiều việc xảy ra bất ngờ, bí
ẩn, nguy hiểm hoặc ích lợi. Tóm lại, ngay cả trong
những hoàn cảnh có vẻ ù lì như thế, con người vẫn
có cảm giác rằng cuộc đời được ban tặng là ân
phước may mắn không thể khước từ.
Quả là cái bình
thường, sự đơn điệu của cuộc sống có thể bị xem
là chán. Ta hay nghe phàn nàn rằng tin tức trên các phương
tiện thông tin đại chúng thường xấu: thiên tai, giết
người, chiến tranh, sự dã man tàn bạo, khủng hoảng.
Câu trả lời thường là: chính thế, bởi khi người ta
giết anh Jan ngoài đường thì đó là tin mới, còn khi Jan
ăn sáng, đi làm hay về nhà thì không còn là tin mới nữa,
chuyện đó chán chết; nếu anh Jan li dị thì đó là tin
mới cho người thân bạn bè, còn nếu anh ta sống hòa
thuận với vợ thì chả có gì sốt dẻo, chán như con
gián. Tin mới là điều bất ngờ và ít khả năng xảy
ra, nhưng sự ngẫu nhiên thường bất lợi cho chúng ta;
nhưng gì ngẫu nhiên chủ yếu là những điều không hay,
cái hỗn loạn của thế giới không phục vụ chúng ta.
Lịch sử loài người là cuộc đấu tranh với sự ngẫu
nhiên, là nỗ lực giảm thiểu sự ngẫu nhiên trong cuộc
sống; nếu ngẫu nhiên thường tốt lành thì chẳng có lý
do gì để chiến đấu với nó. Quả thật là khi anh Jan
trúng xổ số, đó cũng là tin mới, nhưng đó là tin mới
tốt lành cho Jan, song là xấu cho tất cả những người
không trúng nhưng đã mua vé để Jan được trúng; bởi
vậy rốt cuộc đó là tin xấu.
Những người may mắn,
ví dụ những người dành phần lớn đời mình cho thư
sách, nói chung không thấy chán, nghĩa là họ không có cảm
giác thiếu ham muốn tìm tòi, họ luôn có thể tìm thấy
những ham muốn ấy. Những tưởng con người đương đại
không nên cảm thấy chán, bởi hầu như tất cả mọi
người đều có thể xem ti-vi, nghe đài, nghe nhạc và có
những thú tiêu khiển khác, nơi người ta dễ dàng tìm
thấy cái gì đó lý thú. Trong khi đó, ta có thể đọc
đâu đó, thí dụ, rằng các nhóm côn đồ trong các thành
phố ở nhiều nước phá phách vô mục đích, gặp gì đập
nấy, gặp ai đánh nấy, và chúng giải thích: vì chán.
Xem các bộ phim kích động, như ta thấy, là chưa đủ,
chắc hẳn bởi đó chỉ là sự xem thụ động, bởi không
thể rũ bỏ cảm giác giả tưởng, không trực tiếp tham
gia vào nó. Ngược lại, những cuộc phiêu lưu hấp dẫn
của các nhân vật truyền hình có thể làm tăng thêm nỗi
chán, tăng thêm cơn đói được kích thích và cả cảm
giác thiệt thòi: vì sao tôi không có cuộc sống thú vị
như anh chàng thám tử kia, vì sao tôi không giàu như Liz
Taylor? Phải làm gì đây với đám thanh niên tội nghiệp,
tuy không đói ăn thiếu mặc nhưng cũng không có chút của
cải nào, không có cuộc phiêu lưu thực tế hay giả tưởng
nào như của các minh tinh màn bạc? Phải hướng bản năng
tò mò và nhu cầu ham muốn của họ vào con đường „kiến
thiết”, để họ không giải tỏa chúng vào những cuộc
tàn phá thiếu suy nghĩ và những cơn lên đồng tập thể
trong các buổi hòa nhạc ầm ỹ ồn ào vô nghĩa, nói thì
dễ, nhưng phải làm thế nào đây?
Hiếu kỳ là bản
tính par excellence của
con người và thiếu nó thì chúng ta chẳng có lý do gì để
thoát ra khỏi tình trạng thú vật: hiếu kỳ, tức bản
năng khiến chúng ta tìm hiểu thế giới chỉ để tìm
hiểu, không lệ thuộc vào việc các nhu cầu sinh lý của
chúng ta có được đáp ứng hay không và chúng ta có muốn
tránh nguy hiểm hay không. Tương tự như trong trường hợp
nỗi chán, „hiếu kỳ” có thể là sự vật, và „hiếu
kỳ” cũng là tinh thần hướng đến sự vật đó; không
thể có cái này mà thiếu cái kia. Bởi „là người hiếu
kỳ” và „thú vị” trái nghĩa tương ứng với „là
người chán” và „chán”, có thể nói rằng hiện tượng
chán là cái giá chúng ta trả cho việc mình biết hiếu
kỳ; không có gì là thú vị đáng hiếu kỳ nếu không có
gì chán. Nói cách khác: chán là một phần không thể tách
rời trong nhân tính của chúng ta; hoặc là: thực kiện
rằng chúng ta có khả năng cảm thấy chán khiến chúng ta
có nhân tính. Cảm giác chán đánh thức nhu cầu thoát
khỏi sự chán, dĩ nhiên, sự thoát khỏi này có thể mang
tính hủy diệt, nhưng cũng có thể mang tính sáng tạo, và
trường hợp thứ nhất dễ dàng hơn. Chiến tranh thật
khủng khiếp, nhưng nó không chán và hàng bao đời nay
trong chiến tranh, bên cạnh các nguyên nhân khác, có phần
của nhiệt huyết chiến đấu để chống lại nỗi chán.
Hơn
thế nữa, bởi sự lặp lại dễ sinh chán, có thể e ngại
rằng những ham muốn hiện có như nguồn gốc của sự
hiếu kỳ sẽ luôn cạn đi và chúng ta sẽ luôn có những
ham muốn không chỉ mỗi lúc một khác hơn, mà còn mỗi
lúc một mạnh hơn, như những kẻ nghiện ma túy. Ta không
biết điều này có thể dẫn đến đâu.
Trường
hợp cụ thể của hiện tượng đang được xem xét là
„người chán”, một người rất khó miêu tả. Đó
không nhất thiết phải là một người không biết phân
biệt nặng nhẹ, kể lể đủ thứ với những chi tiết
thừa thãi và dở ẹc, người không biết châm biếm hay
hài hước, không thể dứt khỏi những sự việc chả
khơi dậy phản ứng nào xung quanh, không thể đưa vào
guồng cái cơ chế ảnh hưởng lẫn nhau với người khác;
vậy có lẽ anh ta không có khả năng tạo ra sự tương
phản trong giao tiếp chăng? Trong nghĩa này, anh ta rơi vào
tính chất chung của sự chán được nêu ra ở trên. Sẽ
là thừa thãi khi thêm rằng: là người chán hay không
chẳng liên quan gì đến học vấn hay tính cách tốt xấu.
Utopia,
tức tình trạng thỏa mãn tuyệt đối, thiếu vắng xung
đột và căng thẳng, dĩ nhiên, nếu đạt được, sẽ là
tận thế của loài người, là sự khô kiệt bản năng
hiếu kỳ. Chừng nào giống loài của chúng ta còn là
chính nó, chừng đó còn không thể dựng xây utopia. Dù
sao đi nữa, liệu có thể hình dung một „cáo chung của
lịch sử” với nghĩa như ông người Mỹ gốc Nhật nói
gần đây, tức thế giới trong đó không có bất cứ lựa
chọn tưởng tượng nào cho các định chế chính trị,
cũng không có chiến tranh và thiếu thốn, nghệ thuật và
văn học suy tàn, nỗi chán ngự trị khắp nơi? Tôi chẳng
lo lắng lắm về tính hiện thực của lời tiên tri này,
nhưng nếu nó trở thành hiện thực, thì hậu quả nhãn
tiền chắc hẳn không phải là sự đồng thuận với nỗi
chán vĩnh cửu, mà nhiều hơn là sự tìm kiếm lối thoát
liều lĩnh tuyệt vọng như của các băng đảng thanh thiếu
niên đã nhắc ở trên: ham muốn hủy diệt chỉ để hủy
diệt. Bởi vậy nỗi chán, như mọi hiện tượng phổ
quát khác của con người, xứng đáng được ngợi ca,
nhưng đồng thời cũng nguy hiểm.
(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008)
Monday, 15 July 2013
Bàn về khoan dung (Leszek Kołakowski)
![]() |
Từ „khoan dung“ và lời
khuyên khoan dung, như chúng ta biết, đã quá phổ biến; song những từ được dùng quá thường xuyên thì luôn
bị dùng một cách tùy tiện, không thận trọng và với
ti tỉ mục đích khác nhau, đến mức rốt cuộc chẳng
còn biết nghĩa của chúng là gì. Mặc dù từ này đã có
mặt trong tiếng La-tinh cổ, „khoan dung“ trở thành vấn
đề xã hội ở châu Âu vào thế kỷ XVI, là hậu quả
của các cuộc phân chia và đấu tranh tôn giáo. Khoan dung
đơn giản là không truy bức người khác vì lý do tôn
giáo. Những người chủ xướng khoan dung muốn có một
cuộc cải cách luật pháp, muốn nhà nước không dùng
gươm đao để bảo vệ tôn giáo đang thống trị. Những
lời kêu gọi khoan dung theo nghĩa này rất nhiều và được
nhân lên gấp bội, nhưng bên cạnh các sắc lệnh đảm
bảo sự khoan dung ở nhiều nước khác nhau, ta cũng biết
có các phản lệnh, các cuộc đàn áp hồi phản, các đòi
hỏi trừng phạt người dị giáo và không chính thống.
Mặc dù có vô số chuyện khủng khiếp trong lịch sử các
cuộc chiến tôn giáo, ta có thể kết luận rằng ở các
nước đạo Cơ đốc chiếm ưu thế, cuộc đấu tranh cho
sự khoan dung trong ý nghĩa pháp lý của từ này đã giành
thắng lợi; ngược lại, các dòng chảy gây hấn và bất
khoan dung trong Hồi giáo là rất mạnh mẽ. Một chính thể
khoan dung đơn giản là chính thể mà nhà nước không áp
đặt cho người dân bất cứ điều gì trong vấn đề tôn
giáo. Nhà nước phải kiềm chế vũ lực trong các vấn đề
đó, đây là nguyên tắc được công nhận rộng rãi tới
mức nó được tiếp nhận bất thành văn ngay cả ở các
quốc gia cộng sản châu Âu, bao gồm cả các nước nơi
Giáo hội, các tu sĩ và các tín đồ phải chịu đựng sự
đàn áp tồi tệ nhất.
Ngày nay mọi điều
có vẻ đơn giản và ít gây tranh cãi, nhưng rắc rối nảy
sinh khi ta xem xét vấn đề gần hơn một chút. Để nguyên
tắc khoan dung theo nghĩa trên được chấp nhận và thực
thi, không chỉ cần có các văn bản pháp lý, mà cả các
điều kiện văn hóa không thể tạo dựng trong một sớm
một chiều. Những người Cơ đốc chủ xướng khoan dung
thế kỷ XVI và XVII giải thích rằng chúng ta không nên
chém giết lẫn nhau vì lý do khác biệt quan điểm về vấn
đề Thánh Ba Ngôi, Bí Tích Thánh Thể hay vận mệnh, bởi
vì – họ nói – Đức Chúa Trời sẽ không hỏi chúng ta
về các quan điểm thần học trong Phán quyết Cuối cùng,
đúng hay sai, mà hỏi chuyện trong đời ta có cố gắng
thực hiện các điều răn của sách Phúc Âm hay không. Như
vậy có thể ngầm hiểu, mà nhiều khi người ta nói
thẳng, rằng tất cả các khác biệt giáo điều giữa các
Giáo hội, các tín điều hay giáo phái đều không quan
trọng, vô nghĩa. Từ đây dễ dàng đi đến kết luận
rằng không có bất cứ Giáo hội hay tín điều nào có
động cơ tồn tại như một cơ thể riêng biệt, vì sự
khác biệt giữa chúng là vô thưởng vô phạt; nhưng khó
lòng thuyết phục điều đó với các Giáo hội (dĩ nhiên
tất cả những điều này nằm trong khuôn khổ của văn
hóa Cơ đốc giáo và thậm chí ngay cả ở các nước rất
khoan dung như Hà Lan thế kỷ XVII thì chủ nghĩa vô thần
cởi mở cũng không được chấp nhận). Chính vì thế,
một ý nghĩa mới được đưa tắt vào tư tưởng khoan
dung, cụ thể là „sự thờ ơ“. Nhưng khi nói: „chịu
đựng ngay cả các sai lầm lớn vẫn tốt hơn là tiến
hành chiến tranh tôn giáo“ là một chuyện - dưới góc
độ văn hóa hay tâm lý học, còn nói „phải khoan dung
mọi ý kiến thần học khác nhau nhất, vì tất cả đều
là những chuyện vô thưởng vô phạt“ thì lại khác.
Khi tôi nói với ai
đó: „Anh phát biểu những quan điểm kinh khủng, sai lầm
và tai hại, nhưng tôi sẽ không chặt đầu anh và sẽ để
Chúa phán xét“ là một chuyện, còn khi tôi nói „Anh cứ
lải nhải thoải mái về tôn giáo, cái đó chả có nghĩa
lý gì cả“ thì lại là chuyện khác.
Song khi ta nói về
sự khoan dung, từ này không chỉ liên hệ tới các quy
định pháp lý trong vấn đề tôn giáo, mà còn ám chỉ
quan điểm của con người, cách hành xử của chúng ta,
các phong tục. Theo nghĩa ban đầu, tôi khoan dung nếu tôi
không truy bức, không đòi truy bức và không hành xử một
cách gây hấn với những gì tôi rõ ràng là không thích,
không chấp nhận, những gì khiến tôi thấy khó chịu,
căm ghét hay ghê tởm. Với nghĩa có phần tương tự, ta
dùng từ này trong y học và kỹ thuật: thuốc gây hại,
nhưng ta nói về sự khoan dung đối với thuốc nếu cơ
thể chấp nhận được nó trong một giới hạn nào đấy,
nghĩa là chịu đựng được mà không có hại đáng kể.
Ở Pháp từ „nhà khoan dung“ xưa kia được dùng để
gọi nhà chứa, cái tên ám chỉ rằng đó là thứ không
tốt đẹp gì, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, tốt hơn
hết là chấp nhận chúng.
Cũng có thể nhận
thấy người ta thường đòi hỏi khoan dung với nghĩa sự bàng quan, không có bất cứ lập trường hay ý kiến gì,
đôi khi thậm chí là sự thừa nhận tất cả mọi thứ
mà ta thấy ở mọi người và mọi quan điểm. Song điều
đó mang nghĩa hoàn toàn khác. Hướng tới sự khoan dung
theo nghĩa ấy là một phần văn hóa khoái lạc chủ nghĩa
của chúng ta, khi chẳng có điều gì thực sự nghĩa lý
đối với ta; đó là thứ triết lý sống không có bất
cứ trách nhiệm và niềm tin nào. Các khuynh hướng này
được tăng cường bởi nhiều trào lưu triết học khác
nhau, những trào lưu dạy chúng ta rằng không có chân lý
với nghĩa thực sự của nó; do đó khi ngoan cố với
các niềm tin của mình, mặc dù không hề gây hấn, thì tôi đã
có lỗi đối với sự khoan dung.
Đó là một điều
vô nghĩa tai hại; sự khinh rẻ chân lý tàn phá nền văn
minh của chúng ta không kém gì sự cuồng tín. Số đông
thờ ơ sẽ dọn đường cho những kẻ cuồng tín luôn
không bao giờ thiếu. Nền văn minh của chúng ta truyền bá
ý thức nên coi tất cả là một thứ trò chơi, như nó
vốn thế, trong các triết lý trẻ con được gọi là
„triết lý kỷ nguyên mới“ hoàn toàn không thể xác
định được nội dung, bởi nó có nghĩa là mọi thứ, ai
muốn gì cũng được.
Nhưng tôi có quyền
cương quyết kiên tâm với các niềm tin của mình. Ví dụ:
ở các nước văn minh tình dục đồng tính không bị
trừng phạt (tất nhiên, nếu đó là người trưởng thành
và không có cưỡng hiếp). Giáo hội cho rằng đồng tính
luyến ái là không được phép về mặt đạo đức, viện
dẫn Cựu Ước và Tân Ước, viện dẫn các truyền thống
và sự diễn giải thần học về tình dục của riêng
mình. Như vậy, nếu Giáo hội muốn cấm đồng tính luyến
ái trở lại, nó có thể bị lên án là bất khoan dung thô
bạo. Nhưng các tổ chức của người đồng tính luyến
ái đòi hỏi Giáo hội rút lại các giáo huấn của mình,
đó là biểu hiện của sự bất khoan dung thô bạo theo
chiều ngược lại. Ở Anh đã có các cuộc biểu tình và
công kích Giáo hội về vấn đề này. Như vậy ai là bất
khoan dung? Nếu một số người đồng tính cho rằng Giáo
hội sai, họ có thể ra khỏi nó, không có gì đe dọa họ
cả; nhưng khi họ muốn áp đặt ý kiến một cách ồn ào
và gây hấn lên Giáo hội, họ không bảo vệ sự khoan
dung mà là tuyên truyền sự bất khoan dung. Sự khoan dung
hữu hiệu khi nó có từ hai phía.
Ta thường nói rằng
có thể trừng phạt hành động, không trừng phạt quan
điểm. Khó khăn là ở chỗ ranh rới giữa chúng không rõ
ràng. Ở nhiều nước, ví dụ, kích động hận thù chủng
tộc là bị trừng phạt. Có thể kích động bằng nhiều
cách khác nhau và những kẻ phân biệt chủng tộc thường
tự biện hộ: đó là các quan điểm, bởi vậy chúng
không bị trừng phạt. Song ngôn từ trong trường hợp cụ
thể cũng có thể có tác hại hoặc hiệu quả tốt. Nếu
ta chỉ nói như thế, ta sẽ dễ dàng gợi ý rằng phải
kiểm soát mọi quan điểm từ góc độ hậu quả có thể
xảy ra của chúng. Nhưng nếu không nói vậy, ta lại gợi
ý rằng không được cấm gì hết nếu chưa có sử dụng
bạo lực. Như vẫn thường thấy trong cuộc sống, chúng
ta phải tìm những cách giải quyết thỏa hiệp, không
phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng là không tránh khỏi.
Đây cũng là mâu thuẫn muôn đời của sự khoan dung: có
được phép và có nên chấp nhận hay không các phong trào
chính trị hay tôn giáo là kẻ thù của khoan dung và muốn
hủy diệt mọi thiết bị bảo vệ sự khoan dung, các
phong trào toàn trị hoặc muốn áp đặt quyền lực chuyên
chế của mình? Các phong trào này có thể không nguy hiểm
chừng nào chúng còn nhỏ, do đó có thể chấp nhận
chúng, nhưng mặt khác, nếu chúng lớn mạnh, phải chấp
nhận vì không có lực lượng nào có thể hủy diệt
chúng, và cuối cùng cả xã hội có thể trở thành chiến
lợi phẩm của một chính thể toàn trị tồi tệ nhất.
Sự khoan dung vô hạn sẽ tự hại mình và hủy hoại các
điều kiện để khoan dung trở nên khả dĩ. Tôi thừa
nhận rằng tôi ủng hộ việc không khoan dung đối với
các phong trào nhằm tiêu diệt tự do, chúng phải bị loại
ra khỏi vòng pháp luật; khoan dung sẽ ít bị đe dọa hơn
nhờ sự bất khoan dung này.
Song không có một
nguyên tắc tốt nào mà lại không thể bị áp dụng sai.
Có thể cấm phát biểu tư tưởng phân biệt chủng tộc,
nhưng ở Mỹ, những người tiến hành nghiên cứu sự
phân bố năng khiếu trong một số sắc tộc bị gọi là
phân biệt chủng tộc và bị đả kích. Đây là nghiên
cứu đòi hỏi phải đặc biệt thận trọng và chắc chắn
có thể bị lợi dụng để tuyên truyền phân biệt chủng
tộc, song vì lý do đó mà cấm thì còn tồi tệ hơn
nhiều. Bởi khi đó người ta chấp nhận nguyên tắc cấm
mọi nghiên cứu khoa học nếu kết quả của chúng có thể
không được hoan nghênh đối với các tư tưởng được
coi là đúng trong thời gian đó, mà đây là một nguyên
tắc toàn trị. Cần phải chỉ trích các kết quả ấy,
nếu có các phản đề tốt, nhưng cấm nghiên cứu nghĩa
là đặt ra một chế đô độc tài tư tưởng trong các
dòng chảy khoa học.
Tôi nhắc lại: sự
khoan dung được bảo vệ ít hơn bằng luật pháp, nhiều
hơn thông qua việc duy trì thói quen khoan dung. Sự bất
khoan dung tiềm ẩn trong mỗi chúng ta, bởi nhu cầu áp đặt
hình ảnh của mình về thế giới lên người khác nói
chung là mạnh; ta muốn mọi người tin vào điều ta tin,
vì khi đó ta cảm thấy an toàn về mặt tinh thần và
không phải suy xét các niềm tin của mình hay đối chiếu
chúng với người khác. Vì lẽ đó, sự công kích, gây
hấn trong quá trình đối chiếu niềm tin – tôn giáo,
triết học hay chính trị - là rất nhiều. Song nếu sự
bất khoan dung, ý muốn thay đổi chính kiến người khác
bằng công kích và bạo lực phải bị loại bỏ và thay
thế bằng phong tục không ai tin vào cái gì, không ai quan
tâm đến chuyện gì, cốt sao cuộc sống vui vẻ - thì
thật tội nghiệp cho chúng ta. Đừng đấu tranh với sự
vinh danh bạo lực bằng cách vinh danh sự thờ ơ đại
chúng.
(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008)
(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008)
Saturday, 13 July 2013
Tản mạn về một "thượng đỉnh văn học"
Từ ngày
20 đến 22.6.2013, tại Kraków - cố đô và trung tâm văn
hóa của Ba Lan - vừa diễn ra Đại hội dịch giả văn
học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3. Đây là sự kiện
quốc tế lớn nhất thế giới dành cho các dịch giả văn
học do Viện Sách trực thuộc Bộ Văn hóa và Di sản Quốc
gia Ba Lan tổ chức 4 năm một lần. Tới tham dự Đại hội
lần này có 250 dịch giả từ 51 quốc gia của 41 thứ
tiếng ở khắp thế giới. Sáu dịch
giả Việt Nam được mời là Nguyễn Thanh Thư, Tạ Minh Châu, Nguyễn
Chí Thuật, Nguyễn Văn Thái, Lê Bá Thự và Nguyễn Thái
Linh.
| Các dịch giả Việt Nam từ trái sang phải: Nguyễn Chí Thuật, Lê Bá Thự, Nguyễn Thái Linh,Tạ Minh Châu, Nguyễn Thanh Thư, Nguyễn Văn Thái |
1. Có lẽ không chỉ tôi, mà nhiều thành viên khác của Đại hội sẽ khó quên những ngày cuối tháng Sáu năm 2013, khi chúng tôi liên tục được gặp gỡ, trò chuyện, đối thoại với những con người minh triết và giản dị, được sống trong không khí thân ái, chân tình.
Trong 3 ngày, chúng tôi được tham gia hơn 40 hội thảo và thảo luận chuyên đề về hiện trạng văn học và ngôn ngữ Ba Lan cùng với các nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu Ba Lan, qua đó cập nhật thông tin và hoàn thiện kỹ năng dịch thuật của mình. Rzeczpospolita - một trong những tờ nhật báo lớn nhất Ba Lan - đã gọi Đại hội là "thượng đỉnh văn học”.
![]() |
| Lễ khai mạc tại đại giảng đường trường Đại Học Jagielloński (ảnh của Viện Sách) |
Phát biểu trong lễ khai mạc được tổ chức trang trọng tại đại giảng đường Đại học Jagielloński (đại học cổ nhất Ba Lan và là một trong những đại học cổ nhất thế giới), viện trưởng Viện Sách Grzegorz Gauden đã vinh danh các dịch giả là những đại sứ của văn học Ba Lan ở khắp năm châu và bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với những đóng góp của họ cho việc quảng bá văn học Ba Lan ra thế giới. Tình cảm trân trọng đối với các dịch giả và tâm huyết đối với việc quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài không chỉ là lời nói, mà còn được Viện Sách thể hiện trong suốt 10 năm hoạt động của mình. Viện đã tài trợ hơn 4,5 triệu USD cho hơn 1400 đầu sách văn học Ba Lan xuất bản bằng 42 thứ tiếng trên thế giới, giúp đỡ thúc đẩy quan hệ giữa các dịch giả và các nhà xuất bản, đài thọ cho các dịch giả đến Ba Lan làm việc trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, trao các giải thưởng dịch thuật... Những nỗ lực này càng đáng trân trọng bội phần trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.
| Ăn trưa ở Piwnica pod Baranami, địa chỉ nổi tiếng của giới văn nghệ sỹ Ba Lan |
Không chỉ
là „thượng đỉnh văn học”, Đại hội dịch giả văn
học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3 còn là „thượng
đỉnh văn hóa”, khi lễ khai mạc, các hội thảo, các
bữa trưa, lễ trao giải Transatlantyk... đều diễn ra ở
các địa chỉ văn hóa nổi tiếng của Ba Lan ở cố đô
Kraków, khiến các dịch giả được chìm đắm trong không
gian văn hóa đậm đặc và thân mật.
Đáng ghi nhận nhất vẫn là tình cảm, lòng biết ơn và sự trân trọng đối với các dịch giả; tiếp nối tinh thần tri ân đầy nhân văn mà nhà văn, nhà báo kiệt xuất Ba Lan Ryszard Kapuściński đã khơi lên 8 năm về trước. Trong lễ khai mạc Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất năm 2005, Kapuściński đã phát biểu: "Ngày nay vai trò của dịch giả trong một thế giới đa văn hóa càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn – khi người dịch giúp bạn đọc ý thức được rõ ràng về sự tồn tại của những Người khác, về tính đặc biệt, không lặp lại của anh ta...Với ý nghĩa đó, khi dịch một văn bản, chúng ta mở ra cho những Người khác một thế giới mới, chúng ta giải thích cái thế giới mới đó, và khi giải thích, chúng ta đưa cái thế giới đó lại gần mọi người hơn, tạo điều kiện cho mọi người sống trong lòng nó, biến nó thành một phần sự trải nghiệm cá nhân.... Vậy là nhờ cố gắng của dịch giả, chân trời tư duy của mọi người được mở rộng, sự hiểu biết, tri thức chung được nâng lên, sự nhạy cảm, tinh tế được cải thiện. Ngày nay, trong thế kỷ 21 này, những điều kể trên càng trở nên đặc biệt quan trọng, bởi vì thế giới của chúng ta khi phát triển với tốc độ chóng mặt, khi thay đổi và tạo nên sự khác biệt, nó luôn cần đến giải thích, lý giải, trong đó bản dịch văn học là sự trợ giúp đắc lực – nghĩa là công sức của những người có mặt hôm nay là không thể thiếu...”. Tại Đại hội lần thứ ba này, tinh thần đó đã được Phó chủ tịch thành phố Kraków Magdalena Sroka tiếp nối nhất quán: "Dịch văn học là một trong những hoạt động quan trọng nhất ở nước ngoài vì lợi ích văn hóa Ba Lan và chủ nghĩa nhân văn. Ngôn từ là cội rễ căn tính của con người. Dịch một ngoại ngữ ra ngôn ngữ nền văn hóa của mình đòi hỏi sự nhạy cảm phi thường. Trong thế kỷ 21, công việc của dịch giả phục vụ cho việc „làm quen với cái Khác”, nó không chỉ mang chiều kích văn hóa, mà cả chiều kích nhân văn.”
| Với dịch giả Thụy Điển Anders Bodegard. (W.Szymborska đã từng khiêm tốn nói rằng: nếu không có các bản dịch của Bodegard thì có lẽ bà không được giải Nobel.) |
2. Tới dự đại hội lần này, tôi không khỏi mang một cảm giác trống vắng khi không còn được gặp Wisława Szymborska - nhà thơ tôi yêu quý nhất. Mỗi bản dịch thơ bà là một phần cuộc sống của tôi, là một trang trong nhật ký đời tôi. Tôi vẫn nhớ nụ cười hiền hậu mà tinh nghịch của bà, cái dáng gầy gầy thân yêu của bà mà tôi còn được nhìn thấy trong đại hội lần trước. Nụ cười ấy, dáng vóc ấy giờ đây đã yên nghỉ trong nghĩa trang Rakowiecki, cách nơi diễn ra đại hội không xa.
Mang một bó hoa huệ trắng, tôi tới thăm bà vào buổi chiều cuối cùng ở Kraków. Mộ bà nằm bình dị, chìm lẫn giữa bao ngôi mộ khác giữa nghĩa trang rộng lớn, phải loanh quanh một lúc tôi mới tìm được. Bà vẫn thế, giản dị và kín đáo như khi còn sống. Tôi thầm biết ơn những người quản lý nghĩa trang đã không biến nơi an nghỉ của bà thành một địa điểm du lịch. Không khí trong nghĩa trang mát dịu vì nhiều bóng cây tỏa xuống, mặc dù ngoài kia Kraków đang giữa những ngày nóng nắng nhất. Tiếng chim hót ríu rít bình yên và trong lành. Cảm giác thanh thản và bình yên kỳ lạ, thanh thản như nhà thơ nói về cái chết của mình:
Nằm nơi đây là tác giả dăm bài thơ, cổ hủ già nua,
xưa như dấu phẩy. Đất rủ lòng dành cho bà ấy
sự an nghỉ ngàn thu, mặc dù xác chết
chẳng thuộc nhóm văn nào hết.
sự an nghỉ ngàn thu, mặc dù xác chết
chẳng thuộc nhóm văn nào hết.
Nhưng trên nấm mồ bà cũng chẳng có gì hơn
ngoài bài thơ này, nhành ngưu bàng và một con cú vọ
Người qua đường kia ơi, hãy
rút trong cặp ra bộ óc điện tử
và ngẫm một giây về phận đời
Szymborska.
Tất cả đều đơn giản và bình dị, như viên đá, như đám mây, như một ngày, như sự sống. Nhưng tất cả lại cũng thật phi thường. Như Szymborska đã nói "trong ngôn ngữ của thi ca, nơi mỗi từ đều vô cùng quan trọng thì chẳng có gì là bình thường nữa cả. Một viên đá, một đám mây, một ngày và nhất là sự sống của ai đó trên thế gian này”.
Thật phi thường, bởi không phải vô cớ mà Joseph Brodsky từng nói: nếu bạn biết tiếng Ba Lan hay đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, thì đó sẽ là một lợi thế lớn, vì "thứ thi ca phi thường nhất của thế kỷ được viết bằng thứ tiếng này”.
Thái Linh, 7.2013
(Đây là bản đầy đủ của bài đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số ra ngày 05.07.2013)
Nhãn:
Ba Lan,
Book Institutedịch,
dịch,
szymborska
Bàn về du hành (Leszek Kołakowski)
Thái Linh dịch
Chúng ta du
hành để làm gì? Vì sao ta thích đi du lịch? Có vẻ như
đó là những câu hỏi ngớ ngẩn, bởi ai cũng biết vì
sao và để làm gì. Nhưng nhiều việc có vẻ hiển nhiên
sau khi được suy ngẫm lại không còn hiển nhiên nữa. Du
hành phải chăng là hành xử do bản năng dẫn dắt, và đó
là bản năng gì? Phải chăng chúng ta cảm thấy thỏa mãn
khi được trải nghiệm điều gì đó bởi đơn giản là
nó mới mẻ, chính cái sự mới lạ cuốn hút chúng ta?
Nếu đúng vậy, phải chăng niềm vui thú này thật kỳ
quặc? Theo kinh nghiệm của nhiều thế hệ mà chắc hẳn
quá trình tiến hóa cách này cách khác đã cấy vào chúng
ta, thế giới đối với chúng ta không thân thiện mà có
vẻ thù nghịch, do đó ta nên cảnh giác với những gì
mới mẻ và lạ lẫm, trân quý những gì trong trải nghiệm
đã quen thuộc và an toàn, ngồi yên trong những góc thân
quen và đi theo những con đường đã mòn dấu chân. Nhưng
lại không phải như thế. Vì sao thời ấu thơ ta say mê
đọc những cuốn sách du ký? Vì sao con người chỉ vừa
mới xóa bỏ những mảng trắng trên bản đồ thôi, đã
lại lao vào những chuyến đi mới đây còn là không
tưởng, qua các không gian bao la, và mơ ước về những
không gian mỗi ngày một xa hơn?
Cần chú ý
rằng khi nói về du hành, chúng ta không liên tưởng tới
mọi sự xê dịch trong không gian, mà chỉ nói tới những
chuyến du hành có mục đích tự thân, nghĩa là ta không
bàn về việc giải quyết việc gì đó mà nếu hoàn cảnh
cho phép thì ta muốn giải quyết nó không cần phải đi
lại phiền phức.
Các doanh
nhân tổ chức những cuộc gặp gỡ ở sân bay trong các
phòng họp chuyên phục vụ mục đích này, để rồi ngay
sau đó trở về trụ sở của mình, hoàn toàn không du
hành mà chỉ giải quyết công việc của mình, nếu có
thể, họ sẽ giải quyết cách khác, và điều đó ngày
càng trở nên đơn giản hơn. Thậm chí tôi cũng không
biết có thể xem các loại hình du lịch đại chúng là du
hành hay không, thí dụ khi dân xứ lạnh như người Anh
lượn lờ trên một mẩu biển Tây Ban Nha ấm áp, nơi sẵn
có quán xá và đồ ăn Anh (xin Chúa rủ lòng), nhưng chính
nước Tây Ban Nha thì họ chẳng quan tâm tới. Ở đây ta
nói về những chuyến du hành nơi chúng ta, những kẻ du
hành, muốn trải nghiệm điều gì đó mới mẻ, muốn
tiếp xúc với một hiện thực lạ lẫm nào đó.
Xét cho cùng, có lẽ chúng ta du hành cũng không phải để học hỏi
điều gì đó: hầu hết những điều ta biết được khi
đi du lịch đều có thể biết mà không cần phải du
hành, mà nhiều khi còn biết cặn kẽ hơn; như câu ngạn
ngữ La-tinh cổ: „trí óc của những kẻ băng qua biển
tìm minh triết không đổi thay, chỉ là bầu trời trên
đầu họ thay đổi”. Không, chúng ta không du hành vì
kiến thức. Chúng ta cũng không du hành để bứt khỏi
những lo toan thường ngày trong chốc lát hay để quên đi
những khó khăn, như một ngạn ngữ La-tinh khác: „Nỗi
âu lo theo cùng sau yên ngựa”. Không, không phải nỗi
khát khao kiến thức hay mong muốn trốn chạy thúc giục
chúng ta, mà là sự tò mò, và sự tò mò dường như là
một thứ ham muốn biệt lập, không dẫn đến những ham
muốn khác. Các học giả nói với ta rằng sự tò mò -
nghĩa là nhu cầu tìm hiểu hoàn cảnh xung quanh một cách
vô vị lợi - được con người mang giữ suốt cuộc đời
và đây chính là khả năng đặc biệt của loài người.
Chúng ta tò
mò không phải vì những điều lạ lẫm hứa hẹn sự
thỏa mãn nào đó hay chúng đe dọa điều gì khiến ta
phải ngăn ngừa, đơn giản chỉ là chúng ta tò mò. Con
người thực hiện nhiều việc và hành động khác nhau vì
tò mò trong khi vẫn biết chúng không an toàn, du hành đến
những nơi ít ai biết đến hay nguy hiểm, mất mạng khi
leo núi hoặc dưới hang sâu. Ta cũng đừng quên chính sự
tò mò đã khiến chúng ta bị đuổi khỏi thiên đường,
cho nên thời xưa các nhà thần học thường lên án sự
tò mò như một tội lỗi từ bản chất. Thiếu tội lỗi
ấy chắc chẳng có được mấy tiến bộ và thay đổi
trong đời sống con người.
Ngày nay,
đôi khi ta có thể đọc được rằng việc nói „khám
phá ra châu Mỹ” là vô nghĩa, bởi khi các nhà du hành
châu Âu cập bờ biển châu Mỹ, những người anh em da đỏ
của chúng ta đã sinh sống ở đó từ lâu và họ hoàn
toàn không cần khám phá xứ sở mình. Nhưng đó là nỗi
bất bình ngớ ngẩn, bởi khi các tộc người sống cách
ly với nhau, hoàn toàn không biết gì về nhau, thì có thể
nói ở một thời điểm nào đó họ khám phá ra nhau; nếu
các cư dân châu Mỹ nhanh chân hơn với các tiến bộ về
thám hiểm và đến châu Âu trước thì có thể nói họ
khám phá ra châu Âu. Ngay cả thời nay, khi nỗi tò mò thôi
thúc chúng ta đến một xứ sở hay thành phố xa lạ nào
đó, có thể nói ta khám phá chúng cho riêng mình, bởi
trong sự khám phá này không nhất thiết phải là kiến
thức chưa ai từng biết, mà là sự trải nghiệm cái mới.
Quả thực đôi khi người ta thực hiện những chuyến du
hành tình cảm về những nơi mình biết rất rõ nhưng bỏ
quên đã lâu, về xứ sở của thời thơ ấu hay tuổi hoa
niên. Những chuyến đi ấy có nằm trong định nghĩa về
du hành hay không? Hẳn rồi. Bề ngoài, ta không khám phá
ra điều gì mới mẻ, nhưng dường như chúng ta trở lại
với chính mình của những năm tháng xa xưa, ta thấy như
đang dịch chuyển trong thời gian, và du hành trong thời
gian cũng là trải nghiệm điều mới mẻ, bởi mặc dù
nơi ấy đã từng quen thuộc, chúng mới mẻ khi ta đến
từ một thời gian khác.
Một nhu
cầu về cái mới như chính cái mới luôn sống trong ta,
không phụ thuộc vào bất cứ điều gì khác, cái mới tự
nó cuốn hút chúng ta. Và việc cái mới cuốn hút chúng
ta là bởi nó liên quan đến trải nghiệm thời gian đặc
biệt của loài người. Chúng ta luôn muốn được ở điểm
khởi đầu, được có cảm giác rằng thế giới mở ra
cho chúng ta, rằng nó vừa mới bắt đầu, và bản thân
việc trải nghiệm cái mới trong cảm thức đó dẫn dắt chúng ta, dù chỉ là vào hư ảo. Chắc bởi vậy mà
người ta thay vợ đổi chồng: họ có được trong chốc
lát trải nghiệm thời gian mới, trải nghiệm về sự
khởi đầu.
Giả định
rằng sự tò mò hay nhu cầu về cái mới mạnh mẽ như
nhau, luôn luôn và không ngừng ở mỗi người, chắc chắn
sẽ là không chân xác. Nếu vậy thì cuộc sống của con
người trở nên bất khả. Có người mọi nguồn sinh lực
đều hướng vào việc bảo tồn, gìn giữ trật tự sẵn
có và những người khác là cội nguồn của sự phát
triển. Trong thế giới loài người của chúng ta hai nguồn
lực ngược chiều này hiển lộ trong nhu cầu về sự bền
vững, an toàn, được ở giữa khung cảnh quen thuộc và
chính trong nhu cầu về cái mới, sự thay đổi, sự tò
mò. Hai khuynh hướng này mâu thuẫn với nhau, nhưng cả
hai đều cần thiết để chúng ta dẫn dắt kiếp người.
Chắc chắn là có thể phân biệt tính cách con người qua
sự dự phần nhiều hơn hay ít hơn của hai nguồn lực
xung đột này: từ những người chỉ thích lề lối lệ
thường và những thứ quen thuộc, đến những người căm
ghét lề lối và chỉ thấy sự khác lạ mới đáng giá.
Ở đây
chúng ta nhận thấy rằng bản năng tò mò, tìm kiếm cái
mới, niềm vui thích với những gì lạ lẫm là một kiểu
sống đã chấp nhận, cho dù vô thức, một hình ảnh nhất
định về thế giới, một „triết lý” nhất định. Cụ
thể là chấp nhận rằng cõi đời mà ta sống, thế giới
trải nghiệm của chúng ta, có một giá trị nào đó. Nếu
chúng ta tin như những tín đồ Phật giáo thực thụ rằng
cõi đời này chẳng có giá trị gì, chỉ là bể khổ,
rằng nó luôn như thế trong mọi phương diện chính ở
khắp mọi nơi, những khác biệt chẳng có nghĩa lý gì,
rằng không có gì mới mẻ, rằng lịch sử loài người
không gì khác hơn là sự lặp lại đơn điệu của chính
một nỗi bất hạnh – nếu tin như thế thì chúng ta sẽ
không trải nghiệm bất kỳ nhu cầu nào về cái mới, bất
kỳ sự tò mò nào, và bởi thế sẽ không trải nghiệm
bất kỳ niềm tha thiết du hành nào.
Nhưng chúng
ta sẽ không đặt câu hỏi xem các tín đồ đạo Phật có
lý hay không. Bởi ở đây ta sẽ rơi vào vực thẳm siêu
hình học âm u, điều thật không thích hợp trong bối
cảnh phù hoa này, khi ta đang ngẫm ngợi về những chuyến
du hành.
(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008)
Subscribe to:
Comments (Atom)






