Thursday, 7 January 2010

Herta Müller: Tôi đã luyện qua cái chết



(Angelika Kuźniak, phóng viên báo Gazeta Wyborcza (Ba Lan), trò chuyện với Herta M
üller trước khi bà nhận giải Nobel văn học vài tuần. Thái Linh dịch từ chuyên san Duży Format)

Angelika Kuzniak: Bà chỉ cho phép chụp hai tấm ảnh.

Herta Müller: Bởi đó là điều khó khăn đối với tôi.
Mỗi khi tôi đứng trước nhiếp ảnh gia, khi anh ta nói: quay bên phải, bên trái, cười, không cười... những lời của anh ta, dù thì thầm, luôn biến thành tiếng hét của các sỹ quan an ninh Romania. Những cuộc thẩm vấn của Securitate, cơ quan an ninh Romania, là không thể nào quên. Thay vì những cái cây mà nhiếp ảnh gia muốn làm nền để chụp ảnh cho tôi, tôi chỉ thấy căn phòng tối và ánh chớp đèn máy ảnh. Tôi nghẹt thở. Đôi khi tôi khóc.
Hơn nữa, đối với tôi, những tấm ảnh chưa bao giờ là thứ quá đáng yêu.

AK: Ngay cả những bức ảnh thời thơ ấu?

HM: Ngay cả chúng.
Người thợ chụp ảnh thường đến làng chúng tôi vào dịp lễ tết. Mẹ chải đầu cho tôi. Tôi nghĩ là các tấm ảnh nói nhiều về bà hơn là về tôi. Ví dụ như khi trong ảnh tôi có đường ngôi rẽ lệch, nhưng cả hai bím tóc vẫn cân nhau, thì tôi biết ngày hôm trước bố chỉ hơi say.
Có những bức ảnh cả bím tóc lẫn đường ngôi của tôi đều lệch, mặt méo xệch, đầu trông như bị bẹp. Điều đó có nghĩa là tối hôm trước bố tôi say đến mức lết bằng đầu gối, rằng ông đã dùng dao dọa dẫm mẹ tôi. Khi đó bà nói với tôi rằng tôi là cái nhọt trên bàn chân của bà, vì tôi mà bà không thể li dị được.
Trong các tấm khác đường ngôi và bím tóc đều ngay ngắn, cân đối. Có nghĩa là bố đã tỉnh táo trở về nhà. Khi đó mẹ thậm chí có thể quí tôi. Nhưng những tấm ảnh ấy không nhiều.
Khi chải đầu cho tôi, mẹ thường khóc.

AK: Còn bà thì khóc cùng mẹ.

HM: Đúng vậy, nhưng vì lý do khác. Mẹ tôi khóc vì người chồng nghiện rượu. Còn tôi khóc vì tôi muốn có mẹ. Đối với bà, tôi chỉ là một thứ đồ hạng hai. Bà bảo tôi đi lên phòng áp mái. Bà đưa cho tôi con dao to và bắt tôi thái dăm bông. Tôi mới mấy tuổi đầu. Tôi đi lên cầu thang và nghĩ: sao mẹ không sợ rằng tôi sẽ làm mình bị thương? Thỉnh thoảng tôi ở lại trên đó thật lâu, hy vọng mẹ sẽ quan tâm, thắc mắc tại sao tôi không xuống. Nhưng bà không bao giờ quan tâm. Khi rốt cuộc, tôi đứng bên bậu cửa nhà bếp, bà lấy lại con dao và dăm bông, không nói một lời.
Ngày ấy tôi muốn cố hiểu tại sao tôi lại là con của bố mẹ, khi mà họ không biết cách làm bố mẹ của tôi.
Thế chiến II kết thúc, một người lính SS, sau khi trở về nhà, đã sinh ra tôi.

AK: „Và tôi sinh ra trong chủ nghĩa Stalin” Bà thường nói vậy.

HM: Tôi sinh ra vào năm Stalin qua đời. Trong một làng nhỏ của người Đức ở vùng Banat, Romania. Bố tôi kể về chiến tranh như cuộc phiêu lưu lớn nhất đời mình. Khi say, ông hát những bài hát Quốc xã.
Tôi nhớ đoi giày bóng lộn của ông. Trước khi ra khỏi nhà, ông luôn nhổ nước bọt lên giày và dùng giẻ xoa nước bọt ra.
Là một đứa trẻ, tôi không để ý đến chuyện đó lắm. Tôi thường xoa nước bọt lên những chỗ muỗi cắn, lên cùi tay và đầu gối nứt nẻ. Tôi lấy tay thấm nước bọt xóa những vết bẩn trên quần tất hay trên da. Nước bọt dùng làm gì cũng tốt.
Sau này, khi đã học trung học rồi là sinh viên ở Timisoar, tôi đọc về kỷ luật quân sự trong SS. Tôi đọc Paul Celan, bài thơ về Auschwitz của ông, tôi nhìn bố đang nhổ nước bọt lên giày và nghĩ: ông đã học điều đó từ những kẻ Quốc xã.
Ông nhập ngũ năm 17 tuổi, phục vụ trong SS. Khi 17 tuổi, tôi nghĩ rằng mình cũng ở trong hoàn cảnh tương tự, trong chế độ độc tài.

AK: Chủ nghĩa xã hội đã tước đoạt tài sản của gia đình bà.

HM: Cho đến năm 1945, ông tôi có ruộng ở quanh làng. Ông buôn bán ngũ cốc và hàng hóa từ các thuộc địa. Sau quốc hữu hóa, gia đình ba thế hệ chúng tôi – ông, bà, bố mẹ và tôi - ở trong hai phòng. Các phòng khác để làm kho.
Ông tôi còn rất nhiều tập phiếu nhận hàng in sẵn. Trước kia ông viết lên đó những toa tầu hàng hóa, còn sau chiến tranh ông viết vào đó những thứ cần mua. Trong cột „tên hàng” ông ghi „diêm”. Cột tiếp theo: „số lượng toa / tấn” – ông ghi „một bao”.
Sau chiến tranh bố tôi làm kế toán viên, nhưng rồi ông cũng không thể làm công việc đó, vì ông là người Đức. Ông phải ra làm ruộng. Cuối cùng, ông trở thành tài xế xe tải.
Khi ông mất, cô y tá đưa cho tôi những dụng cụ nha khoa và cặp kính của ông.
Sau này, khi cô bạn thân của tôi chết trong trận động đất ở Bucarest, em cô đưa quần áo của cô cho tôi. Anh muốn tôi mặc chúng. Khi đó tôi hiểu rằng các đồ vật sống lâu hơn con người. Và rằng đó là điều không nên.
Tôi có người bác là lính Quốc xã. Vì ngưỡng mộ Hitler, ông đã tình nguyện nhập ngũ. Ông bị bom nổ tan xác, nhưng còn lại cái đàn arcodeon. Nó nằm trong phòng lớn, giữa giường và lò sưởi. Trông nó như một cái quan tài.

AK: Bác bà cũng để lại sách chứ?

HM: Hai quyển. „Buddenbrooks” của Thomas Mann và sách giáo khoa đạo đức theo tinh thần Quốc xã. Ông có tủ sách khá lớn, nhưng khi quân Nga sang, bà tôi đã đốt hết sách, bà cho rằng chúng có thể là nguyên nhân gây phiền phức. Nhà tôi là căn nhà không có bóng dáng sách, bản thân việc đọc là chuyện chẳng mấy quan trọng đối với gia đình tôi. Họ gọi tất cả những gì được in ra là sự dối trá. Còn viết sách ư? Mẹ tôi khẳng định điều đó sẽ dẫn đến căn bệnh thần kinh.

AK: Trong thời sinh viên bà gắn bó với nhóm văn học Aktionsgruppe Banat.

HM: Nhưng tôi không thuộc nhóm đó, khi đó tôi còn chưa viết, tôi chỉ thân với họ thôi. Richard Wagner, trưởng nhóm, sau này trở thành chồng tôi. Nhóm ngưng hoạt động vào năm 1975 vì bị sức ép của Securitate.

AK: Bà và các bạn đã làm gì?

HM: Chủ yếu là chúng tôi đọc. Vào những năm 60 ở Bucarest đã có Viện Goethe. Chúng tôi mượn sách ở đó. Có lẽ là chúng tôi đã đọc hết tất cả những gì xuất bản vào thời gian đó ở Đức, Áo và Thụy Sỹ. Chúng tôi muốn ít ra cũng hiểu được chuyện gì đang xảy ra, một khi chúng tôi không thể thay đổi được gì. Chúng tôi cho rằng nghệ thuật không thể quy phục chính quyền, rằng nó phải liên quan đến những trải nghiệm bản thân của tác giả.

AK: Điều này không thể làm Securitate thích thú.

HM: Riêng việc chúng tôi trò chuyện bằng tiếng Đức họ đã cho là nguy hiểm. Họ gọi chúng tôi lên thẩm vấn. Sau các cuộc thẩm vấn ấy, chúng tôi nghĩ ra cách chối những lời chính mình nói, không buộc tội người khác.
Phòng của chúng tôi bị nghe trộm, đâu đâu cũng bị nghe trộm.

AK: Bà và mọi người trở nên thận trọng hơn?

HM: Trước khi ra khỏi nhà, chúng tôi để sợi tóc lên tay cầm cửa, tay cầm tủ, để lên vở ghi chép trong ngăn kéo, để lên sách trên giá. Nhờ thế chúng tôi biết có ai lục lọi đồ của mình hay không. Người ta vẫn nói: “mỏng manh như sợi tóc”, “treo trên sợi tóc” v.v. Đối với chúng tôi đó không còn là các ngữ cú nữa. Chúng tôi biết rằng khi viết thư thì không được quên đề ngày tháng, và chúng tôi luôn cho sợi tóc vào phong bì. Nếu nó không còn, nghĩa là thư đã bị bóc.
Chẳng bao lâu sau, cái bầu không khí ngột ngạt ấy biến thành nỗi khiếp sợ.
Khi tôi hai mươi tuổi, tôi mua cho mình một chiếc xe đạp. Trong một lần thẩm vấn, viên sỹ quan điều tra nói: “Tai nạn có thể xảy ra trên đường”. Vài giờ sau tôi bị xe tải đâm. Hai ngày sau tôi nghe người thẩm vấn nói “Đúng vậy, đúng vậy, tai nạn xảy ra trên đường”.

AK: Sau khi tốt nghiệp đại học, vào năm 1976, người ta cử bà lên miền Bắc, sát biên giới Moldavia.

HM: Họ phân việc cho tôi ở đó. Nếu không nhận, tôi sẽ phải hoàn lại tiền học phí đại học. Họ chủ đích chia rẽ chúng tôi. Tôi về một làng nhỏ. Trong ngôi trường nơi tôi phải dạy học không có điện. Thay vào đó là một phụ nữ dạy tiếng Đức và không muốn có người cạnh tranh. Mọi người đều nhìn tôi một cách thù địch. Việc tôi từ chối bình giảng thơ Ceausescu hay không chịu nộp lệ phí công đoàn dã dẫn đến tình trạng các giáo viên căm thù tôi, chứ không phải căm thù chế độ. Không ai muốn bị bắt gặp là đang nói chuyện với tôi. Họ coi tôi như con điên.

AK: Sau đó bà bắt đầu làm việc trong nhà máy cơ khí ở Timisoar.

HM: Đó là năm 1978. Giám đốc nhà máy trước kia là nhà báo. Tôi biết ông hồi đi thực tập ở tòa báo. Ông tuyển dụng tôi. Tôi bắt đầu dịch các bản hướng dẫn sử dụng thiết bị dẫn nước. Rốt cuộc thì tôi cũng đã kiếm ra tiền.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ những bữa ăn trong nhà máy. Dầu chảy ra từ các cỗ máy, còn chúng tôi, ngồi giữa các vũng dầu, lôi những lát bánh mì và mỡ lợn ra. Thêm một chai rượu vodka. Ai đó kể chuyện Ceausescu ăn bằng dao nĩa vàng. Chúng tôi chẳng cười nổi. Sau này, khi đã ở Đức, mấy lần tôi đã khóc trong tiệm ăn khi đồ ăn được mang ra. Lúc ấy tôi nghĩ về những bữa ăn trong nhà máy. Và về những thùng đá nơi người ta làm lạnh cổ gà, cánh gà, mào gà mà tôi không ít lần phải xếp hàng để mua. Người ta nấu xúp bằng những thứ đó.
Nhưng khi đó ở Romania chúng tôi không chỉ thấy đói bụng. Chúng tôi đói phát biểu và biểu lộ, đói nói lớn tiếng. Đói tiếng cười, đói sự ồn ào, những gì làm nên cuộc sống.

AK: Thế còn cơn đói tình yêu?

HM: Mọi người đều khát khao sự gần gũi. Chúng tôi tin rằng tình yêu có thể bảo vệ mình. Rằng đột nhiên, khi yêu, chúng tôi sẽ thôi là không-ai-cả. Tôi nghĩ rằng khi đó, tình yêu đã thay thế tự do.
Tình yêu ở Romunia là thứ khan hiếm.
Tôi đã có chồng, nhưng trước đó những người đàn ông khác nhau đã cố gắng quyến rũ tôi. Nhưng tôi biết, đó là tình yêu theo lệnh. Rằng Securitate cử họ đến vì muốn có được điều gì đó.

AK: Chính quyền đã chỉ đạo mọi thứ?

HM: Họ đã cố gắng làm vậy. Thời Ceausescu, việc nạo thai bị cấm, thuốc tránh thai cũng thế. Một người phụ nữ phải sinh năm đứa con rồi thì người ta mới cho nạo thai. Hoặc phải trên 45 tuổi.
Chính tôi cũng phá thai 2 lần.
Lần đầu là khi tôi còn làm việc ở nhà máy cơ khí. Tôi không thể phá thai ở bệnh viện, vì ở đó có các bác sỹ có liên hệ với cơ quan an ninh.
Trong nhà vệ sinh của nhà máy, cô bạn đồng nghiệp đặt vào tử cung tôi sợi dây nhựa của chiếc que đan vòng. Tôi phải đeo nó ba ngày. Một đầu dây được gắn dính vào đùi. Tôi mặc váy để tử cung được thoáng khí. Lần thứ hai thì cô bạn đồng nghiệp chỉ mang cho tôi sợi dây. Phần còn lại tôi tự làm một mình. Tôi ngồi trong nhà tắm, trước tấm gương đặt dưới đất.

AK: Vì sao bà không muốn sinh những đứa con ấy?

HM: Tôi biết rằng Securitate sẽ dùng chúng để uy hiếp tôi, rằng chúng có thể bị trừng phạt chỉ vì những gì tôi làm. Nhưng cũng có thể là vì tôi không muốn có con, tôi không rõ. Với tôi, việc mang bầu luôn là điều khủng khiếp. Khi tôi thấy một người phụ nữ mang bầu trong ký túc xá, cái bụng căng như quả bóng của cô là một thứ gì đó gớm guốc đối với tôi.

AK: Bà đã viết cuốn sách đầu tiên “Những vùng đất thấp” là ở nhà máy?

HM: Trong văn phòng, với sáu hay bảy người xung quanh,tranh thủ thời gian giữa các bản dịch. Tôi dậy lúc năm giờ sáng, sáu rưỡi tôi có mặt ở nhà máy. Thứ bảy và chủ nhật chúng tôi cũng làm việc. Cho đến tận hôm nay, khi viết, tôi vẫn cần những âm thanh của cuộc sống thường nhật. Tôi có thể viết ở nơi ồn ào nhất trong quán cà phê.
Ở nơi làm việc, tôi viết tay, sau đó đánh máy lại ở nhà. Thỉnh thoảng tôi ăn trộm giấy của nhà máy.

AK: Cái máy chữ ở đâu ra?

HM: Anh rể ở Đức tặng chúng tôi làm quà cưới. Mọi máy chữ đều bị mật vụ lập danh sách. Mỗi năm một lần chúng tôi phải mang nó đến ủy ban, gõ ra tất cả các chữ cái, giải thích mình cần nó làm gì và ai có thể dùng nó. Khi tôi xuất cảnh sang Đức, không ai trong số bạn bè tôi muốn lấy nó.
Họ sợ. Họ biết rằng người ta sẽ biết ngay nó từng là của tôi.

AK: “Những vùng đất thấp” nằm bốn năm trong nhà xuất bản.

HM: Và bốn lần, như người ta vẫn nói, được biên tập. Tôi liên tục nhận được danh sách những thứ cần bỏ đi.
Ví dụ, từ “va li” – nó gợi liên tưởng đến việc di tản – cấm. “Bụng”, không đứng đắn – cấm.
Nền chuyên chính rất chính chuyên, nên mọi thứ thân xác đều bị cấm.
Khi rốt cuộc cuốn sách được xuất bản vào năm 1982, nó đã bị biến dạng đến mức tôi cảm thấy hờ hững với nó.
Mãi hai năm sau nó mới được xuất bản ở Đức với bản gốc.

AK: Trong đó bà miêu tả tuổi thơ của mình ở một ngôi làng người Đức.

HM: Những người Đức thiểu số sống ở làng này, với cấu trúc cứng nhắc, trên nền chủ nghĩa xã hội dân tộc chưa được tiêu hóa.
Sau khi cuốn sách xuất bản, người ta lôi mẹ tôi lên thẩm vấn, những người nông dân cùng nông trường không muốn ngồi chung xe hay máy cày cùng bà, họ bỏ bà giữa đồng. Ông tôi cả đời cạo râu ở tiệm, bị cấm cửa vào tiệm cắt tóc.
Cuối cùng mẹ tôi đến Bucarest và xin tôi: Hãy để cho làng được yên, con không thể viết về điều gì khác à? Là mẹ phải sống ở đó, chứ không phải con.”

AK: Thế bà có về làng không?

HM: Rất lâu sau này. Nhưng khi người làng gặp tôi ở thành phố, họ nhổ nước bọt vào tôi. Tôi thôi không nói với gia đình mình đang làm gì. Họ không hiểu được ý nghĩa của sự mạo hiểm, vậy nên tôi cũng không muốn kéo họ vào đó.

AK: Cho đến một ngày khi Securitate nhớ ra bà.

HM: Họ đến nhà máy hai hoặc ba lần. Họ bảo tôi phải ký cam kết hợp tác. Lần đầu họ dọa đuổi việc, thậm chí dọa giết tôi. Lần thứ hai họ thân thiện hơn. Họ cố thuyết phục tôi rằng tôi sẽ là một người quan sát tuyệt vời về mọi người và cuộc sống. Lần thứ ba họ bắt đầu đọc cho tôi viết: “Tôi, Herta Müller, cam kết sẽ không cho ai, bất kể quan hệ ruột thịt...” Tôi từ chối. Tôi không thể sống với ý nghĩ rằng mình phản bội bạn bè.

AK: Họ có đuổi việc bà không?

HM: Không đuổi ngay. Suốt vài tuần, tôi bắt đầu một ngày bằng những cuộc nói chuyện với giám đốc và bí thư chi bộ. Họ khuyên tôi tìm công việc mới. Tôi trả lời rằng tôi thích ở đó. Nếu họ muốn đuổi tôi, họ phải nêu lý do bằng văn bản. Tôi trở về nhà và khóc. Nhưng không bao giờ khóc trước mặt họ.
Vài ngày sau họ chuyển tôi sang văn phòng khác như một nhân viên không đủ trình độ. Họ bắt tôi kẻ dòng trên giấy. Tôi làm việc đó tám tiếng một ngày. Cuối cùng họ không cho tôi vào văn phòng. Tôi ngồi ngoài cầu thang và cố gắng làm việc ở đó. Nếu tôi không làm vậy, họ sẽ sa thải tôi vì tôi không đi làm. Nhưng cuối cùng họ cũng tìm ra cách. Họ cho rằng vị trí làm việc của tôi là không cần thiết. Tôi hai mươi sáu tuổi và không một xu dính túi, tôi phải trả góp hàng tháng tiền mua tủ lạnh, thảm, đồ gỗ, nhà. Nhưng trước hết là tôi muốn làm việc.

AK: Họ có cho phép bà không?

HM: Ban đầu thì có. Sau khi bị đuổi khỏi nhà máy, tôi dạy tiếng Đức cho hai đứa con của người thợ làm áo lông của nhà máy ở Timisoar. Nhưng cơ quan an ninh cảnh cáo ông rằng tôi là kẻ thù của nhà nước. Ông đuổi tôi chẳng vì cớ gì.
Sau đó tôi bị sa thải ở vài trường học nữa. Khi đó tôi bắt đầu lang thang trong thành phố...

AK: ...và ăn cắp trong các cửa hàng.

HM: Nhưng không phải vì đói. Tôi ăn cắp cái gì đó của nhà nước, vì nhà nước đã ăn cắp cả cuộc sống của tôi. Nhà tôi chất đầy những chiếc khóa cài đồ lót, tách chén, dao nĩa. Tôi không cần những thứ đó. Bạn bè cảnh cáo tôi. Tôi biết nếu người ta bắt được tôi, ngày hôm sau ảnh tôi sẽ xuất hiện trên báo với dòng chữ: Kẻ cắp.
Tôi luôn không thích các ma-nơ-canh trong cửa hàng. Mãi tới gần đây tôi vẫn sợ chúng nhận ra tôi, tố cáo tôi ăn cắp. Tôi nhìn chúng như nhìn các điệp viên của Securitate, những kẻ dường như vô hình, nhưng chúng theo dõi và biết tất cả những gì xảy ra xung quanh.

AK: “Tôi bị gọi lên. Thứ năm. Mười giờ đúng.” Bà đã bắt đầu tiểu thuyết “ Hôm nay tôi không muốn gặp mình” như thế.

HM: Và họ gọi tôi lên. Để hạ nhục. Thường xuyên. Tôi bắt đầu bỏ khăn mặt, bàn chải, thuốc đánh răng vào túi xách. Kẻ thẩm vấn gọi tôi là cứt, rác rưởi, giun sán, chó cái. Đó là khi hắn cáu. Khi tâm trạng hắn tốt hơn, tôi là con đĩ hay kẻ thù. Khi tôi chỉ là thứ để hắn lấp đầy thời gian làm việc, tôi là giẻ rách. Hắn hỏi mấy tháng trước tôi làm gì. Tôi không nhớ. Hắn biết tất cả. Tôi luôn luôn có tội, không cần biết tôi đã làm gì và ở đâu.

AK: Bà có sợ không?

HM: Thực sự thì tôi có sợ một lần. Trên đường đến hiệu cắt tóc, tôi ngồi xuống băng ghế trong công viên. Một viên cảnh sát dắt chó đến gần tôi và hỏi giấy tờ, sau đó bắt tôi đi theo. Anh ta dẫn tôi vào tầng hầm của một ký túc xá sinh viên. Có bốn năm gã người của cơ quan an ninh đang ngồi bên bàn. Họ đang ăn sáng. Trên bàn có trứng, mỡ, hành. Viên chỉ huy của họ vứt giấy tờ của tôi xuống đất và tôi phải nhặt lên. Không biết bao nhiêu lần. Sau đó họ bắt tôi ăn. Khi tôi đã không thể ăn được nữa, họ nhét thức ăn vào miệng tôi.
Đột nhiên có ai đó bước ra từ cánh cửa bên hông.Tôi nghe thấy tiếng phụ nữ thét lên. Có thể đó chỉ là những tiếng ghi âm, nhưng tôi biết mình có thể là người tiếp theo. Nhưng không có chuyện gì xảy ra cả.
Họ chỉ luôn hỏi gì đó. Có lẽ là tôi đã phải nhắc lại họ tên của mình. Họ không đánh tôi.
Tôi sợ, vì tôi biết rằng không ai hay tôi đang ở đâu. Chồng tôi đang ở nhà, anh nghĩ rằng tôi đi cắt tóc.
Khi kết thúc hỏi cung, họ tuyên bố: làm đĩ. Theo những gì họ viết trong hồ sơ thì tôi có sáu hoặc bảy người tình Ả rập, những người trả cho chuyện làm tình với tôi bằng nước hoa.
Sau đó một người trong bọn họ đá tôi ra khỏi cửa. Tôi ngã sấp mặt xuống cỏ. Tôi nôn. Nôn ra trứng, mỡ, và nỗi sợ hãi của mình.

AK: Khi đó bà bắt đầu nghĩ đến chuyện tự tử?

HM: Tôi không rõ có chính xác là vào thời điểm đó hay không, nhưng có lẽ là năm 27 tuổi, khi tôi nghĩ mình sẽ kết thúc cuộc đời vô nghĩa này. Tôi nhốt mình trong nhà. Tôi sợ tất cả mọi thứ. Tôi nhìn cái tủ trong phòng và thấy nó tiến về phía mình. Tôi cần phải gặp bác sỹ thần kinh.

AK: Nhưng bà đã ra đứng trước bờ sông.

HM: Với hai túi áo nhét đầy đá lớn. Tôi nghĩ nếu mình tự tử, tôi sẽ trả thù được những kẻ mà tôi sợ. Nhưng cuối cùng thì tôi bỏ chúng ra. Tôi không biết tại sao. Nhưng tôi đã luyện qua cái chết.
Tôi nghĩ rằng tôi đã thoát chết vì cứng đầu. Tôi nhớ, khi còn ở nhà máy, có người của cơ quan an ninh đến, hắn khóa trái cửa văn phòng tôi lại và đe dọa tôi. Tôi tự nhủ, một khi Securitate đã muốn dìm chết tôi đến thế, tôi sẽ không ban cho họ điều đó.

AK: Những tháng cuối cùng trước khi xuất cảnh sang Đức, bà thậm chí không mang đến nhà xuất bản quyển sách “Con người chỉ là một chú gà lôi trong thế giới này” , trong đó bà miêu tả những người Đức sống trong một làng nhỏ.

HM: Nó sẽ là bản án cho tôi. Trong đó, tôi miêu tả những cố gắng chạy trốn khỏi cái nhà tù toàn trị là nước Romania của Ceausescu.

AK: Bố mẹ làm mất sự trong trắng của con gái để cắt đứt với Romania, thể hiện lòng tự hào là người Đức của mình bằng những lời: “Đồ sâu bọ Romunia. Chúng thậm chí không biết cách cho lợn ăn.”

HM: Bố mẹ tôi cũng nói tương tự như thế. Chúng tôi, người Đức, luôn là ưu việt hơn, sạch sẽ hơn, chăm chỉ hơn người Romania. Năm 15 tuổi, khi đi học trung học rồi sau đó học đại học, tôi gặp người Romania và biết điều đó dối trá đến mức nào. Họ cũng là những người như chúng tôi.

AK: Các nhân vật chính trong tiểu thuyết “Trái tim bé mọn” của bà bị bắt buộc phải di tản khỏi Romania.

HM: Tôi cũng đã không muốn di tản. Tôi luôn nhắc lại trong một thời gian dài, ngay cả khi bị thẩm vấn: chỉ có một người phải ra đi – tên độc tài; tất cả mọi người khác sẽ có thể ở lại.Tôi nghe thấy họ nói rằng nếu tôi không thích ở đây, thì đi mà đến vũng lầy tư bản đó, đấy là chỗ của tôi.

AK: Bà nộp đơn xin xuất cảnh năm 1985, bà đi năm 1987.

HM: Suốt hai năm đó họ không cho phép tôi xuất bản. Tôi không thể đi sớm hơn, vì nhận xét của nơi làm việc quyết định chuyện ai đó có được cấp giấy phép đi hay không. Mà nhận xét của tôi là: không hòa hợp với đồng chí, ý thức chính trị kém. Đó thậm chí là nhận xét sau hai tuần làm việc trong trường học.
Năm 1987 tôi đã ở nơi giới hạn của sức chịu đựng. Việc viết rồi cất vào ngăn kéo khiến tôi thất vọng.
Nhưng khi các cuốn sách của tôi bắt đầu được xuất bản ở Đức và tôi được một số giải thưởng, chính quyền đã không còn muốn làm gì thì làm đối với tôi. Nhiều khả năng là khi đó họ cho rằng tôi phải ra đi.

AK: Nhà ga dành cho việc xuất cảnh nằm gần biên giới Hungaria.

HM: Có 200 người đợi tàu. Chúng tôi phải ngồi trong phòng chờ, chỉ được phép ra sân ga khi được viên cảnh sát gọi. Tôi sợ có điều gì đó sẽ xảy ra, sợ mình không đi được. Mãi tới khi đã qua biên giới, tôi mới thở phào.

AK: Nhưng chẳng được bao lâu.

HM: Đúng thế. Họ dọa giết tôi cho đến tận khi Ceausescu bị lật đổ. Các điệp viên của Securitate thường gọi điện, gửi những bức thư đe dọa cho tôi. Họ có thể tìm ra tôi ở mọi nơi. Đôi khi họ gọi điện trước khi tôi đến một thành phố nào đó. Tất nhiên, tôi tự trấn an rằng chắc họ không dám giết tôi, nhưng tôi cũng biết mọi chuyện đều có thể xảy ra.
Năm 1987, sau khi tới Đức, tôi sống ở Tây Berlin ba năm.
Sau một năm, sở an ninh quốc gia gọi tôi lên. Họ cho tôi xem ảnh một người đàn ông và quyển sổ tay. Trong đó có ghi tên tôi. Họ khuyên tôi không nên đi tới quán rượu với người Romania. Họ nghi ngờ người đàn ông này đến để giết tôi theo chỉ thị của mật vụ Romania.
Mùa xuân năm 1989, một người bạn gái của tôi đến thăm tôi và Richard Wagner, khi đó là chồng tôi. Cô ở nhà chúng tôi. Cô biết một ngày của chúng tôi bắt đầu từ khoảng 7 rưỡi đến 8 giờ, bằng bữa sáng cùng ăn chung với nhau trong bếp. Sau đó mỗi người vào phòng riêng để viết. Viết trên máy chữ, bằng tiếng Đức.
Một ngày, cô thú nhận rằng cô đến theo chỉ thị của Securitate để cảnh cáo tôi rằng nếu tôi không ngừng việc nói xấu về Ceausescu như vậy, họ sẽ giải quyết tôi. Tôi gói ghém hành lý và đưa cô ra ga. Tôi không muốn nói chuyện với cô. Sau nhiều năm, trong hồ sơ của Richard Wagner có những câu như sau: “rõ ràng là họ viết một cách không gắng sức, vì hầu như không có những tờ giấy bị vứt vào sọt rác. Họ nói rằng họ viết những gì họ muốn, chỉ có thế thôi.”

AK: Bà đến Berlin cùng mẹ.

HM: Khi đó mẹ tôi 61 tuổi. Thời gian đầu rất khó khăn.
Những thứ đơn giản nhất cũng làm chúng tôi sợ: trước đây chưa bao giờ chúng tôi dùng máy rút tiền tự động hay toa lét bỏ xu.
Trong những ngày đầu tiên, tôi tưởng tượng mình đang ở trong phim. Tôi nhớ rõ những ngày trong trại tạm trú. Tôi đi hết từ cửa này sang cửa khác với tờ giấy mà người ta gọi là giấy báo. Theo thứ tự được ấn định. Hai cánh cửa đầu là Cục Điều tra Liên bang. Tôi gọi chúng như vậy, dù thực ra chúng gắn tấm biển: Phòng kiểm tra A và B.
Trên một số cánh cửa mà phía sau chúng, người ta tiếp dân tị nạn, có những miếng giấy dán“ „Tôi tiếng Đức không hiểu hoàn toàn“. Các công chức người Đức cho rằng như thế là hài hước.
Rốt cuộc, tôi trở thành một con số nào đó trong danh sách người tị nạn.

AK: Bà có nhớ căn hộ đầu tiên của mình ở Đức không?

HM: Tôi nhớ những căn phòng đầy chật đồ gỗ. Chúng lấp đầy nỗi sợ hãi của tôi. Như thể dưới chân tôi không có sàn nhà. Ở Romania cái gì cũng thiếu, bởi vậy chúng tôi muốn có mọi thứ càng nhiều càng tốt. Dưới sàn và trên tường là những tấm thảm màu, cái bàn bao giờ cũng nằm giữa phòng. Đấy là một điểm tựa.
Khi đó tôi nghĩ, để sống trong một căn hộ trống trơn, người ta cần có nội tâm mạnh mẽ.

AK: Thế căn hộ hiện nay của bà trông ra sao?

HM: Không có quá nhiều đồ trong đó.

AK: Năm 1989, Elena Ceausescu nói trước khi chết: „Tôi yêu các người như yêu con ruột của mình“.

HM: Tôi xem trên ti vi và đã khóc. Khó lòng ngăn chặn được việc hành hình. Nhưng họ đáng bị như vậy. Suốt 20 năm tôi cầu mong cho Ceausescu chết. Tôi nói điều này mặc dù tôi là người chống án tử hình.
Khi đó, trước khi bị hành hình, lần đầu tiên, ông ta là một con người bình thường, và Elena cũng vậy – với tấm khăn đội đầu xộc xệch. Tôi nghĩ: lạy Chúa, tôi đã sống sót. Ông ta đã chết, nhưng tôi còn sống.
Tôi cũng khóc vì những người bạn đã không còn.

AK: Đặc biệt là vì ai?

HM: Ở Romania, có một người bạn thân đến thăm chúng tôi mỗi ngày. Anh là kỹ sư xây dựng. Trong hồ sơ của mình mà tôi nhận được sau nhiều năm, hoàn toàn không có anh. Họ tên anh đã bị gạch đi, như thể anh chưa hề tồn tại.
Anh gửi những mẩu giấy đến Berlin cho tôi. Tôi van xin anh đừng gửi nữa, tôi lo sợ cho anh.
Trong mẩu giấy cuối cùng mà anh gửi vài tuần trước khi chết, anh viết một câu, chữ bé li ti: „Thỉnh thoảng tôi phải cắn ngón tay để cảm thấy rằng mình vẫn còn sống“.
Không lâu sau, người ta tìm thấy anh bị treo trong nhà vệ sinh. Khi đó anh hai mươi tám tuổi. Hàng xóm nói ban đêm họ nghe thấy tiếng vài người la hét. Không ai đến cứu. Trong giấy chứng tử ghi: tự vẫn.

AK: Chính là sau cái chết của anh, bà mua tấm bưu thiếp trên đó người ta chỉ dẫn cách thắt cà vạt?

HM: Phải, và nó vẫn luôn nằm trong ngăn kéo bàn viết. Tôi không thể gửi nó cho ai, nó gợi cho tôi quá nhiều liên tưởng về anh. Tôi nghĩ nếu mình cứ nhìn vào những sợi dây thừng ấy, nỗi sợ sẽ biến mất.

AK: Nó có biến mất không?

HM: Không. Có lẽ lại tệ hơn. Sau cái chết của anh tôi tránh các sợi dây thừng. Trong xe buýt, tôi không chạm vào các tay nắm dưới dạng dây thừng. Nếu có cái áo khoác treo trên mắc, tôi sẽ thoáng thấy đôi chân anh phía dưới. May là chúng biến mất sau một thoáng.

AK: Hình như bà không thích từ „tổ quốc“.

HM: Tôi không phải là một người Đức thực sự, nhưng tôi cũng không phải là một người Romania thực sự. Tôi xuất thân từ một nơi lơ lửng ở giữa.
Trong các cuốn sách của mình, tôi chưa từng viết một câu tiếng Romania.
Romania và Đức xa lạ với nhau đến mức không có gì trong chúng cũng như trong tôi ngày ấy và tôi bây giờ có thể hội ngộ mà không thương tổn.

AK: Bà có thường về Romania không?

HM: Không thường xuyên. Tôi có vài người bạn ở đó, nhưng tôi đã không gặp họ từ lâu. Khi chúng tôi gặp nhau, tôi cảm thấy có khoảng cách. Có một lời buộc tội không ai nói ra, rằng tôi đã ra đi.

AK: Cách đây vài tuần bà hoàn thành cuốn sách tiếp theo của mình.

HM: Vâng. Đó là cuốn sách về những cuộc trục xuất người thiểu số Đức. Sau chiến tranh, Romania đã ngụy tạo lịch sử của mình. Trong các cuốn sách, nó luôn đứng về phe đồng minh. Nhưng sự thật là điều đó xảy ra chỉ hai ngày trước khi chiến tranh kết thúc. Trước đó Romania đứng về phe Hitler. Tháng giêng năm 1945 quân Xô viết lập danh sách và đem những người Romania gốc Đức về xây dựng đất nước mình. Oskar Pastior, một chàng trai 17 tuổi bị đem đến các trại tù lao động khổ sai Xô viết. Cuốn sách này tôi viết về ông. Tôi viết nó gần 7 năm. Ba năm là các cuộc trò chuyện giữa tôi và ông. Oskar luôn nói: chúng ta phải làm việc, vì tôi không có nhiều thời gian. Ông mất năm 2006, trong khi dự hội chợ sách Franfurt. Ông thọ 79 tuổi, không ốm đau gì.
Sau khi ông mất, tôi không muốn viết. Sau một năm, tôi mới tự ép mình viết. Tôi quyết định tạ từ ông bằng cách ấy. Cuốn sách này rất riêng tư còn bởi vì mẹ tôi khi là một cô gái 19 tuổi đã phải vào trại ở bể than Donbas, trên lãnh thổ Ucraine ngày nay. Khi ấy tóc bà thắt bím dài. Sau đó họ cạo đầu bà. Vì hai lý do: có chấy hoặc ăn cắp khoai tây. Bà đã ăn cắp để khỏi chết đói.
Khi bà trở về và vào những ngày chủ nhật, chúng tôi gọt khoai tây, bà luôn canh chừng để tôi gọt thật mỏng và để vỏ không bị đứt. Nó phải liền một mạch.
Tên tôi là Herta vì đây là tên người bạn thân nhất của mẹ trong trại. Cô đã chết ở đó.

AK: „Nỗi sợ hãi trước câu văn, sự chán nản – gần như là ghét cay ghét đắng - đối với việc viết lách, đó là lý do duy nhất khiến tôi làm công việc này.“

HM: Bởi viết là sự đối nghịch của cuộc sống. Khi viết, theo một nghĩa nào đó, tôi không tồn tại. Với tư cách một con người, tôi không được phép quan tâm đến mình. Thường thì tôi không viết sách quá lâu, vì tôi không thể chịu nổi áp lực đó. Khi viết, tôi phải có mặt nơi nội tâm tôi đau đớn nhất, nếu không, tôi sẽ không cần phải viết.
Đó như là một cuộc lang thang trên lưỡi dao sắc, giữa việc tiết lộ và giữ bí mật.
Sau khi kết thúc một cuốn sách, tôi không viết ít nhất là hai năm.

AK: Khi đó bà làm gì?

HM: Những tác phẩm cắt dán. Chuyện này bắt đầu từ việc trong vô số những chuyến du hành, tôi muốn gửi chút gì đó của mình thay vì bưu thiếp. Trên tàu, tôi dán các mẩu ảnh và các từ, câu cắt từ báo ra lên tờ giấy trắng. Tôi thích đọc thơ của Theodor Kramer và Inge Müller.
Bây giờ trong tủ tôi có hàng nghìn từ được cắt ra.
Ngoài ra thì sao ư? Tôi sống. Bởi sống thật là đẹp. Cho dù cuộc sống có đẹp hay không.

Wednesday, 6 January 2010

Trò chuyện với Leszek Kołakowski

Ba cuộc trò chuyện giữa Anna Bikont (báo Gazeta Wyborcza) và Leszek Kołakowski, triết gia Ba Lan nổi tiếng.

1.
Anna Bikont: Ông sắp xếp sách trong tủ sách của mình như thế nào?

Leszek Kołakowski: Tôi chẳng theo một trật tự nào cả. Tất cả đều lộn xộn và vô nguyên tắc một cách bất khả kháng.

AB: Tôi thấy trong phòng làm việc của ông toàn sách triết học.

LK: Chủ yếu, nhưng ít ra là không chỉ có thế.

AB: Chúng ta hãy bắt đầu từ những cuốn sách trong phòng khách. Trên các giá cao là gì?

LK: Hai ngăn trên cùng là sách về quỷ sứ và phù thủy.

AB: Quỷ sứ được cho vào phòng khách!

LK: Nhưng nhiều nhất là thơ và văn học Ba Lan. Bên dưới là các tập sách ảnh về hội họa, vì đó là các ngăn rộng và chỉ có thể để chúng ở đó. Những gì tôi yêu thích là: hội họa Tây Ban Nha thế kỷ XVII, hội họa Pháp thế kỷ XIX và một chút hội họa Ba Lan.

AB: Tôi thấy hai ngăn với những cuốn sách có bìa xám đặc trưng.

LK: Tôi để các cuốn sách của tạp chí „Văn hóa” cùng nhau. Tôi cũng có các số „Văn hóa” và „Tạp chí Văn học” cũ, tôi giữ chúng cùng với các tạp chí tâm lý học của Tamara vợ tôi trong nhà vườn. Tôi đã bỏ đi nhiều tạp chí mà tôi quí, nhưng tôi không đủ sức vứt bỏ những số „Văn hóa” cũ. Thời gian sống ở Ba Lan, tạp chí „Văn hóa” bị cấm, nó đã trở thành một đồ vật luôn luôn đặc biệt đối với chúng tôi.

AB: Văn xuôi Ba Lan lẫn với thơ, và trên cùng giá sách này là „Sách đen kiểm duyệt” và những bức thư của Kafka gửi Felicja. Quả thực là không có nguyên tắc cứng nhắc nào cả.

LK: Tôi không thích sắp xếp, lập trật tự cho cả tủ sách lẫn bất cứ thứ gì. Văn xuôi thì tôi không có nhiều. Ở đây tôi không mua được sách văn học Ba Lan, một ít sách là từ tủ sách ở Warszawa của tôi, phần lớn là những cuốn sách mọi người gửi hay mang sang cho tôi. Nhưng chị sẽ không tìm thấy trong nhà tôi bất cứ quyển tiểu thuyết nào của Sienkiewicz. Ông chưa bao giờ là nhà văn yêu thích của tôi, thay vào đó là Żeromski. Tôi có nhiều thơ Ba Lan, vì tôi đọc nhiều thơ. Mấy năm trước tôi xuất bản ở NXB „Znak” tuyển tập thơ Ba Lan theo sự sắp xếp của riêng tôi, nhưng không theo trật tự thời gian mà theo chủ đề. Phần đầu tiên là về sự chết và những người chết, phần thứ hai là về yêu và chia tay, phần thứ ba về những điều bị bỏ qua, về những sự kỳ quặc của thế giới và về những số phận không may. Phần bốn về Thượng đế và Chúa Ki-tô, phần năm, cuối cùng, về Ba Lan. Trong tuyển tập mang tên „128 bài thơ rất hay” này một số nhà thơ nổi tiếng hoàn toàn vắng mặt.

AB: Ông ghi tên ai vào danh sách vắng mặt?

LK: Rej, Syrokomla, Przybos. Họ không làm tôi xúc động.

AB: Một phần sách nằm ngoài hành lang, có phải đó là những cuốn sách bị xua đuổi?

LK: Không, không quyển sách nào bị xử tệ hết. Chúng ngẫu nhiên nằm đó thôi. Những quyển sách nằm trên giá ngoài hành lang nhà những quyển mua sau này.

AB: Trong phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, ngoài hành lang, đâu đâu cũng là sách lên đến tận trần nhà. Ông có vứt quyển sách nào đi khi những quyển mới không có chỗ để hay không?

LK: Tôi không thích vứt hay cho sách, nhưng tôi không tránh khỏi điều này. Khi tôi rời căn phòng của mình ở College, tôi gửi vài trăm quyển cho Thư viện Viện Triết học ở Warszawa. Một phần tủ sách của chúng tôi nằm lại ở Ba Lan, khi chúng tôi ra đi vào năm 1968 và không dự định là sẽ ra đi cả đời. Một người bạn thân của tôi sống ở đó, sau này anh gửi một phần sách cho tôi, phần còn lại gộp chung vào tủ sách của anh. Ở đó tôi vứt hết sách của Adam Schaff. Còn ở đây, tôi vứt hết 42 hay 45 tập của Tuyển tập Lenin.

AB: Ông giữ Marx lại?

LK: Tôi giữ lại.

AB: Còn những phân loại nào khác nữa không, ngoài triết học, quỷ sứ và văn học Ba Lan?

LK: Một phòng có chủ yếu là sách về lịch sử tôn giáo. Trong phòng ăn là các tác phẩm của Miłosz, tôi cũng để riêng các bản dịch Shakespeare của Barańczak. Tôi có nhiều loại từ điển, bách khoa toàn thư, đơn giản là vì tôi thích chúng. Thỉnh thoảng tôi đọc một quyển bách khoa thư nào đó, chẳng có lý do gì cụ thể, đơn giản là cứ giở ra và đọc thôi.

AB: Trong bếp có một giá sách toàn sách về người Do Thái.

LK: Phải, đó là một giá sách riêng, vì tôi quan tâm đến vấn đề này, chúng ngẫu nhiên nằm trong bếp thôi.

AB: Tôi không thấy giá sách riêng cho văn học thế giới. Ông không chia sách theo nước mà tác giả sinh sống?

LK: Không, tôi không có nhiều sách văn học vì tôi không có đủ sức chứa chúng.

AB: Mặc dù có những hạn chế đó, hẳn là vẫn có những quyển sách mà ông không thể tưởng tượng được mình có thể không đọc chúng?

LK: Ở đây, đầu tiên chắc chắn là Kinh Thánh, tôi có các bản bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trong tủ sách của mình. Tiếp theo là các nhà thơ lớn của Ba Lan: Mickiewicz, Słowacki, Norwid, nhưng không chỉ có thế. Có cả thơ tân lãng mạn. Kasprowicz, rồi Zedadłowicz. Trong số các nhà thơ thế kỷ XX tôi rất thích Tuwim vì sự sáng tạo từ ngữ điên rồ của ông, tôi thích Miłosz, Szymborska. Có thể tìm thấy tất cả họ trong phòng khách.

AB: Thế ngoài văn học Ba Lan?

LK: Tôi thấy gần gũi nhất với văn học Pháp và Nga. Tôi cũng thích Heine, vì sự thông minh và châm biếm. Tôi đọc nhiều văn học Pháp, trong các nhà thơ, tôi thấy Baudelaire là gần gũi nhất. Trong việc hiểu người khác, chuyện có từng đọc những quyển sách giống nhau hay không rất quan trọng. Không hẳn là qua việc nói về chúng, mà qua việc thu nhận được từ chúng những sự nhạy cảm đồng điệu. Tôi có cảm giác chung một cộng đồng nhiều hơn với những người đối thoại ở các nước châu Âu hơn là ở Anh, vì chúng tôi thường đọc những quyển sách giống nhau. Tôi đọc văn học Anh ít hơn và chủ yếu là qua các bản dịch. Tôi thích văn học cổ điển của họ, dẫu sao cũng không thể không thích Dickens. Thời trẻ tôi đọc thơ Pháp, Nga, Đức bằng nguyên bản, nhưng không đọc thơ Anh. Từ đó tôi có cảm giác rằng tôi sẽ không bao giờ học được tiếng Anh. Tôi viết một số sách, giảng dạy nhiều năm bằng tiếng Anh, nhưng đó là thứ ngôn ngữ xa lạ với tôi. Theo kinh nghiệm của tôi, muốn thạo một ngôn ngữ thì thời trẻ phải đọc thơ bằng thứ ngôn ngữ đó. Tôi sang đây khi đã không còn trẻ. Và không bao giờ tôi hòa nhập được, tôi cũng không bao giờ ra vẻ mình là người Anh.

AB: Chỉ là một trí thức Ba Lan một trăm phần trăm?

LK: Phải, tất nhiên.

2.

AB: Cùng với tuổi tác, các triết gia có trở nên thông thái hơn?

LK: Tôi chưa bao giờ suy nghĩ về điều này. Nhưng chắc chắn là các triết gia chỉ trở nên thông thái hơn chừng nào họ còn cho rằng mình không thông thái. Nếu họ tự cho mình là thông thái, họ sẽ không thông thái hơn được. Vì vậy quan trọng nhất là không tự cho rằng mình thông thái.

AB: Thế nhưng ông có thấy thích thú rằng cuộc sống là một quá trình mà trong quá trình ấy, ông trở nên thông thái, và ngày càng thông thái hơn?

LK: Tôi hoàn toàn không có cảm nhận này. Có thể những người khác cảm thấy như vậy. Bây giờ trí óc của tôi hoạt động kém, trí nhớ giảm sút, nhưng trước kia tất nhiên là tôi muốn thu nhận nhiều kiến thức. Tôi cảm thấy rất không tự tin về kiến thức của mình, vì thế tôi rất muốn làm tăng nó lên. Điều đó không có nghĩa là tôi trở nên thông thái hơn. Tôi chỉ cố gắng trở nên giàu có hơn về kiến thức.

AB: Nhưng nói chung, có lẽ là chúng ta trở nên thông thái hơn cùng tuổi tác, thậm chí ngay cả khi chúng ta không nghiên cứu triết học? Hay là chúng ta tưởng thế?

LK: Tôi không cho rằng người ta thông thái hơn hay trở nên tốt hơn chỉ đơn giản là vì ngày càng có tuổi. Hoàn toàn không. Đúng hơn là người ta trở nên cứng nhắc, bảo thủ hơn, tôi nghĩ thế. Không có gì phải buồn, nó là như vậy. Phần lớn chúng ta, theo thống kê, sống thọ hơn thời xưa, nhưng điều này không có nghĩa là con người ngày nay thông thái hơn.

AB: Vậy phải làm gì để ít nhất cũng không trở nên ngu ngốc hơn? Ngoài việc không nên tự cho mình là thông thái, điều gì có thể bảo vệ chúng ta?

LK: Cảm thức rằng chúng ta là những học trò chưa hoàn thiện và phải luôn học không ngừng. Có thể học cả cuộc đời, chừng nào trí óc còn hoạt động.

AB: Chúng ta có trở nên thông thái hơn khi rút ra kết luận từ các kinh nghiệm bản thân, hay ngược lại, đó là một cái bẫy nguy hiểm mà chúng ta rơi vào một cách không cần thiết?

LK: Tùy theo các kinh nghiệm mà từ đó ta rút ra kết luận. Hãy cho tôi ví dụ.

AB: Ai đó tiếp tục có thêm kinh nghiệm xấu về người bạn đã bất tín. Vậy ngừng tin bạn bè có phải là thông thái không, hay ngược lại, dẫu vậy vẫn nên tin người khác?

LK: Nguyên tắc chung của tôi là nếu tôi gặp những người mà tôi hoàn toàn không biết gì về họ trước đó, thì tôi cầm bằng tích cực về họ. Tôi cứ cho rằng họ tốt về mọi mặt. Tất nhiên, không ít lần chúng ta thất vọng, nhưng nhìn chung nguyên tắc cầm bằng tích cực này là tốt cho cuộc sống. Và rằng có những người ta có thể tin tưởng tuyệt đối – những người bạn – có lẽ là điều quan trọng nhất trong đời và chúng ta phải sung sướng vì nó.

AB: Phải chăng với sự cầm bằng tích cực, người ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn? Hay là nên theo nguyên tắc này vì nhờ nó, chúng ta sẽ sống dễ dàng hơn?

LK: Cả hai. Tôi nghĩ rằng người ta trở nên tốt hơn nếu họ thấy mình được tin tưởng. Chắc hẳn là có những người chỉ chăm chăm cho quyền lợi của mình, không có điểm dừng và chả quan tâm đến gì khác. Nhưng tôi không gặp những người như thế trong môi trường của mình. Có thể họ chỉ là những trường hợp đặc biệt?

AB: Như vậy là không rõ các triết gia có trở nên thông thái hơn theo tuổi tác hay không. Vậy chúng ta có trở nên thông thái hơn khi đọc triết học?

LK: Đây là câu hỏi mà tôi không tiện trả lời. Nếu tôi nói rằng đọc triết sẽ giúp ích cho chúng ta...

AB: ...thì người ta sẽ nghi ngờ rằng ông muốn tăng số lượng ấn bản sách của mình.

LK: Đọc các triết gia có khiến người ta trở nên tốt hơn hay thông thái hơn không ư? Đây là một câu hỏi nguy hiểm, vì ta không biết các hậu quả của việc học triết là gì. Tất nhiên, chúng ta cho rằng đọc Plato hay Descartes là hữu ích. Nhưng khi đọc các triết gia, chúng ta dễ dàng rơi vào bẫy, đi đến những kết luận có thể đưa ta vào con đường nguy hiểm. Ai đó đọc Descartes và kết luận rằng, một điều gì đó là xấu hay tốt chỉ vì Chúa nói thế, chứ không phải vì điều đó nằm trong bản chất của nó. Như vậy Chúa có thể nói khác, ví dụ giết cha ruột là tốt, giúp đỡ người xung quanh là xấu. Đó chính là một kết luận nguy hiểm. Nếu ai đó đọc Hegel say mê, anh ta có thể kết luận rằng có tồn tại một điều gì đó như là sự tiến bộ liên tục và bất khả kháng, vì thế phải chấp nhận những gì đang xảy ra chỉ vì nó đang xảy ra. Tất nhiên Hegel không nói vậy, nhưng người ta có thể đọc như thế.

AB: Như vậy là chúng ta sẽ thông thái hơn khi đọc nhiều triết gia và không quá nghe theo những gì một trong số họ nói?

LK: Đọc nhiều người thì tốt hơn, nhưng khi đó chúng ta rơi vào băn khoăn. Ta thấy họ lật đổ nhau – và ta phải tin vào điều gì? Ở đây, không có những kim chỉ nam tốt, trên thế gian không có những lời khuyên tuyệt đối an toàn. Mọi thứ trên đời đều nguy hiểm, ngay cả việc đi ra phố. Những công việc thường nhật mà chúng ta làm có thể hủy diệt chúng ta. Thế giới không nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta.

AB: Nhưng các triết gia thông thái cũng có chút ích lợi nào đó chứ?

LK: Có thể ích lợi của họ chính là việc họ đẩy chúng ta vào sự băn khoăn, không chắc chắn về những việc tưởng như có cơ sở chắc chắn và hiển nhiên. Việc ý thức rằng không điều gì là hiển nhiên là hành động hiểu hữu ích.

3.

AB: Những đức hạnh nào là cần thiết để là một người tử tế, và những đức hạnh nào có thể bỏ qua?

LK : Trước tiên chúng ta hãy xác định thế nào là một người tử tế.

AB: Là người cố gắng ủng hộ và không làm hại người khác. Tôi không rõ, phải chăng anh ta cũng không nên nghĩ xấu về người khác?

LK : Có nghĩa là người không làm hại người khác. Anh ta cố gắng hiểu người khác ngay cả khi anh ta nghĩ rằng họ làm điều gì đó không tốt. Anh ta sẵn sàng giúp đỡ người xung quanh trong khả năng của mình. Anh ta không vui sướng khi người khác bị tổn thương và khi thấy họ gặp phải những điều không lành, cho dù đó là điều xấu xứng đáng với họ. Anh ta cố gắng giữ lời hứa. Có lẽ mọi người đều đồng ý rằng việc giữ đúng các cam kết của mình là một phần rất quan trọng để là người tử tế. Tôi nghĩ rằng ở đây, chúng ta ít nhiều có cảm nhận chung về những đức hạnh cần thiết, về những đức hạnh ít quan trọng hơn, và những thói xấu có thể châm chước mà vẫn là người tử tế. Ví dụ như sự lười biếng. Tôi rất lười và tôi không cho rằng điều đó loại trừ tôi một cách hoàn toàn.

AB: Có nên là người tử tế vì chính bản thân mình không?

LK : Nên. Người tử tế sống dễ hơn, không phải vì anh ta có suy nghĩ tốt hơn về bản thân, mà bởi anh ta không đau khổ tinh thần vì những điều xấu mà anh ta làm. Anh ta được mọi người tin tưởng, mà không có gì quan trọng hơn là được người khác tin tưởng và tin tưởng người khác.

AB: Còn sự trung thành thì sao, nó là nghĩa vụ cao cả đối với bạn bè, hay là đức hạnh của những kẻ ma-phia?

LK: Tôi đã từng đọc lời thú nhận của một trùm ma-phia, hắn buồn rầu nói rằng thật đáng tiếc, tham nhũng đã lan cả vào giới ma-phia, rằng đã không còn như xưa nữa, không còn sự cao thượng, tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau, mọi thứ đang biến mất. Sự trung thành có thể là đức hạnh của các thành viên ma-phia hay bất cứ tổ chức tội phạm nào. Ít ra là trong sự trung thành này, trong sự sẵn lòng phục vụ người khác, dù rằng để làm điều xấu, có một điều gì đó tốt đẹp không thể chối cãi. Những người phục vụ cái xấu mà tỏ ra trung thành và sẵn lòng dâng hiến là những ứng cử viên tiềm năng cho việc phục thiện hơn là những người phục vụ nó chỉ vì họ thấy thoải mái khi làm vậy.

AB: Phải chăng một số đức hạnh thái quá sẽ trở thành khuyết điểm?

LK: Phải xem xét điều này bằng các ví dụ. Việc chăm lo săn sóc đến người khác, cả trẻ con lẫn người lớn, là một đức hạnh. Nhưng đức hạnh này dễ dàng khiến người ta luôn xen vào cuộc sống người khác một cách thái quá, tất nhiên là vì muốn tốt cho họ. Ta hãy xem xét tiếp ví dụ khác.

AB: Việc luôn nói tốt về người xung quanh có thể khiến người ta mất khả năng hài hước.

LK: Điều đó đúng. Nhưng việc luôn nói tốt về người xung quanh có phải là đức hạnh không? Đó thường là con đường dẫn đến dối trá. Cuộc sống đầy những điều hai mặt, chúng ta chẳng làm gì được với điều này.

AB: Có thể là một người tử tế mà không cần phải quá khôn ngoan hay không?

LK: Có thể. Mỗi chúng ta đều biết những người cư xử tốt với người xung quanh mà không có thói quen đào sâu mọi chuyện. Nhưng muốn vậy cần có điều kiện là trong cuộc sống, ta không gặp những điều hai mặt và chúng không bắt ta phải đưa ra những quyết định cần phải suy nghĩ kỹ.

AB: Như vậy sự khôn ngoan không phải lúc nào cũng cần thiết. Vậy điều gì là cần thiết tuyệt đối?

LK: Đơn giản thôi, đó là sự sẵn lòng giúp đỡ người khác. Đó là điều mà trong nó, cuộc sống cô đọng lại .

AB: Thế những người sống trong thế giới riêng, trong thế giới tư tưởng, sách vở, và ít quan hệ với người khác thì sao?

LK: Có những người như thế, họ tử tế theo nghĩa không làm điều gì xấu. Như vậy cũng được, nhưng trong đó luôn có một sự trốn chạy. Tôi nghĩ rằng trốn chạy khỏi cảm thức rằng có một thứ gì đó như là “số phận chung” là điều không tốt. “Số phận chung của loài người” có thể quá trừu tượng, nhưng số phận chung của đất nước hay của đồng hương thì đã không còn trừu tượng nữa. Vì thế chúng ta phải có sự góp phần vào đó. Ngay cả khi chúng ta không là chính trị gia và ý kiến của chúng ta không phải là quyết định, sự góp phần của chúng ta vẫn cần thiết. Điều quan trọng là trong tình huống xung đột, ta phải biết mình đứng về phía nào.

(Bài đăng trong chuyên san "Twarze Dużego Formatu" của báo Gazeta Wyborcza, Thái Linh dịch)


Saturday, 19 December 2009

Những người đang yêu




(Wisława Szymborska)



Ở nơi đó lặng yên, ta nghe thấy
Bài hát nào ai hát hôm qua:
"Anh lên núi đường anh, em về thung lũng xa..."
Dù có nghe, ta không tin điều ấy.

Nụ cười của chúng ta
không là nỗi buồn cần che đậy
Và lòng tốt chân thành - không phải sự hy sinh.
Với những người không yêu, ta thấy thương tình
Nhiều hơn cả những gì họ đáng.

Ta làm nhau ngất ngây kinh ngạc
Có điều gì kỳ diệu hơn đâu?
Ngay cả cầu vồng mọc giữa đêm thâu
Hay cánh bướm dập dờn nơi tuyết phủ.

Và khi ta một lần thiếp ngủ
Trong giấc mơ ta thấy cảnh chia ly
Nhưng mộng ấy an lành,
Mộng ấy an lành, đâu có hề chi
Vì ta sẽ bừng tỉnh giấc.

(Thái Linh dịch)

Những nụ cười



(Wisława Szymborska)

Thế giới muốn nhìn hơn muốn nghe.

Các chính khách phải cười.

Họ bày tỏ niềm lạc quan bằng nụ cười tươi.

Dù quyền lợi trái ngược nhau, dù cuộc chơi rắc rối

Dù kết quả không chắc ăn – nhưng luôn là an ủi

Khi răng nhe ra trắng bóng, chân thành.


Họ phải nồng nhiệt phô ra cái trán của mình

Trong phòng họp hay trên phi trường cũng thế.

Cử động tinh nhanh, nhìn trông vui vẻ.

Chào đón người này, tạm biệt người kia.

Một gương mặt cười tươi – cần thiết trăm bề

Cho ống kính truyền thông và đám đông công chúng.


Nha khoa của giới ngoại giao

Bảo đảm thành công kỳ diệu.

Trong tình huống hiểm nguy không thể thiếu

Những răng nanh thiện chí, những răng cửa hài hoà.

Vẫn chưa đủ sáng tươi – thời đại của chúng ta -

Để nỗi buồn thường tình được hiện lên nét mặt.


Nhân loại thân ái chan hoà sẽ đổi thay trái đất

Thành xứ sở nụ cười – lời những kẻ mộng mơ.

Tôi hoài nghi. Chúng ta hãy để cho

Các chính khách không phải cười nhiều đến vậy

Chỉ đôi lúc thôi: vì xuân sang hay hè về rồi đấy

Không căng thẳng co cơ, không gấp gáp vội vàng.

Bản chất con người vốn buồn bã đa mang.

Tôi chờ đợi điều này và sẵn lòng vui sướng.


(Thái Linh dịch)

nguồn ảnh: http://www.crisdecuba.com/obama/wallpaper/Obama-Smile-1/


Allegro ma non troppo




(Wisława Szymborska)

Người đẹp lắm – tôi nói cùng cuộc sống
Rất đỗi phong nhiêu, màu mỡ tuyệt vời
Rất ếch nhái, rất sơn ca, kiến mối
Rất mầm chồi, ngỡ đến thế mà thôi!

Lấy lòng Người tôi gắng sức không ngơi
Tỏ ra đáng yêu, mắt nhìn trong mắt
Luôn là kẻ nghiêng mình trước nhất
Cúi chào Người khiêm tốn, nhún nhường.

Bên này, bên kia, tôi cố đón đường
Chặn mọi nẻo trên lối đi cuộc sống
Tôi vút lên trong say mê vui sướng
Tôi lăn ra thán phục dạt dào

Chú châu chấu này thật cỏ xiết bao
Trái mâm xôi kia mới rừng biết mấy
Không bao giờ tôi dám tin điều ấy
Nếu chính mình chưa được sinh ra.

Chẳng tìm được gì trong khắp bao la
Sánh nổi với Người – tôi nói cùng cuộc sống
Dù khéo léo hay vụng về lóng ngóng
Không ai có thể làm quả thông thứ hai.

Tôi ngợi ca sự chính xác chẳng lệch sai
Sức cuốn nhanh, sự tài tình, hào phóng
Hơn thế nữa, tôi tán dương cuộc sống
Bởi những nhiệm màu, ma thuật, thần thông.

Miễn sao Người đừng nổi cuồng phong
Đừng tức giận, bực mình hay tự ái
Hàng nghìn năm từ muôn trùng xưa ngái
Tôi dỗ dành Người, tươi ngọt trên môi.

Nắm rìa chiếc lá con tôi kéo giật cuộc đời
Người có ngừng lại không? Người có nghe thấu hết?
Dù chỉ một lần, dù trong chốc lát
Người có quên mình đang mải miết về đâu?

(Thái Linh dịch)

Friday, 18 September 2009

Cuộc sống của những người khác


(Ryszard Kapuściński ở Pinsk, 1999, ảnh từ nguồn của Gazeta Wyborcza)

Tôi mua cuốn Du hành cùng Herodotus từ nửa năm trước ở số 7 Đinh Lễ, trong chuyến đi về thăm quê hương. Cuốn sách nằm im trên giá suốt thời gian đó, vì tôi biết cần một không gian và thời gian thích hợp cho việc đọc nó.

Còn gì chuẩn xác hơn khi đọc nó giữa im lặng của núi đồi, xa xa là biển Địa Trung Hải, trong một chuyến du ngoạn không màng bận đến thế sự?

Tôi đọc cuốn sách mất hai ngày, đôi khi có đứt quãng bởi những tiếng chim reo và mèo kêu, bởi gió mơn man trong thung lũng và tiếng bước chân ngựa trên đường làng đối diện. Ở đây, tại ngôi làng nhỏ Binabassí gần Sóller, thời gian vừa ngừng lại vừa trôi đi theo những đám mây vương vấn trên đỉnh núi trước mặt mỗi chiều mang đến một cơn giông và rả rích suốt đêm như thì thầm cùng tôi câu chuyện vượt không gian và thời gian.

Vâng, đó cũng là chủ đề chính trong Du hành cùng Herodotus: vượt biên giới của không gian và thời gian.

Ước muốn cháy bỏng của Ryszard Kapuscinski là một lần được vượt qua biên giới Ba Lan, không phải vì mục đích muốn xem bên kia biên giới có gì, mà cái hành động vượt qua biên giới ấy mới quan trọng. „Con đường là mục đích“ - ngạn ngữ Đức đúc kết cho chúng ta như thế. Là phóng viên-thông tín viên, hẳn Kapuscinski hiểu rõ điều này. Những trải nghiệm trên đường chính là cuộc sống, cuộc sống của những người khác, để ta biết thêm về cuộc sống của chính ta. Vì „ta đứng trong bóng tối, được ánh sáng vây quanh“.

Song song với những chuyến vượt biên giới địa lý là hành trình vượt biên giới thời gian của Kapuscinski cùng cuốn Sử ký của Herodotus. Những câu chuyện được viết ra hai nghìn năm trăm năm trước khi là nơi chốn lý tưởng để trốn tránh hiện tại, lúc là tấm gương soi rọi những ứng xử hành vi của tình huống đang diễn ra ở thế giới ngày nay. Trên hết, với cuộc đồng hành qua những trang sách này, Kapuscinski rút ra được những bài học quý giá về nghề nghiệp (kỹ thuật viết của Herodotus), và những câu hỏi tìm hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề (tính chính xác và tình cảm đằng sau những trần thuật lạnh lùng của con chữ).

Muốn làm được điều đó, phải đi.

Phải chính mắt nhìn thấy.

Chính mắt nhìn thấy, để hiểu rằng ta, dù đang ở Châu Âu với chủ nghĩa lấy Châu Âu làm trung tâm thế giới, hay ở Trung Quốc với ý tưởng lộ liễu từ chính cái tên, hay ở Châu Phi với cuộc đấu tranh tìm lại vị trí của lục địa đen là cái nôi của loài người trong nhận thức về thế giới, ta cần phải tìm hiểu cuộc sống của những người khác, không nhằm mục đích tự định nghĩa mình, mà có lẽ để nhận ra rằng ta chỉ là đám tro hòa mình vào dòng sông Hằng ở Ấn Độ, nơi ở phía bờ kia của dòng sông đang có những con người đang muốn tẩy rửa bụi trần và tội lỗi khi đắm mình trong nó.

Ta là một phần của vạn vật. Vạn vật là ta.

Đó cũng là cái cốt lõi trong bí quyết sống và tồn tại, dù dưới thời đại nào, chính quyền nào, thể chế nào hay lý tưởng nào.

Từ lúc giở trang đầu của Du hành cùng Herodotus cho đến khi khép lại nó, tôi như vừa đi qua một giấc mơ, có phần hiện thực, có phần mơ hồ. Nhưng có lẽ đó là một giấc mơ của định mệnh.

Tôi, cũng như bạn, chỉ là một kẻ hành hương trầy trật đi bằng các con đường khác nhau để đến cùng một mục đích (Antoine de Saint-Exupéry). Mục đích ấy, chính là việc lên đường để khám phá cuộc sống của những người khác.


Wednesday, 16 September 2009

Ý nghĩa cuộc đời


("Ta từ đâu tới? Ta là ai? Ta đi về đâu?" tranh sơn dầu của Gauguin, 1897)


Tôi còn nhớ năm tôi lên sáu, một lần tôi hỏi mẹ: „Mẹ ơi, con người ta sống để làm gì?”. Câu hỏi ấy xuất hiện và ám ảnh suốt một thời gian dài trong đầu óc non nớt của tôi. Khi ấy, đối với tôi, mọi thứ chắc chắn phải có một câu trả lời duy nhất đúng.

Tôi còn chưa biết rằng đó là một trong những câu hỏi lớn nhất từ bao đời nay của triết học, tôn giáo, nghệ thuật, tâm lý học..., và trên đời này có rất nhiều câu hỏi chẳng bao giờ có lời giải đáp, hay nói một cách khác, chúng có vô số câu trả lời.

Ý nghĩa sự tồn tại của chúng ta là gì? Ta phải sống ra sao? Trong một bài báo của Adam Szostkiewicz trên tạp chí Poliktyka tôi mới đọc gần đây, tác giả giới thiệu học thuyết của Viktor Frankl (1905-1997), bác sỹ tâm lý học người Áo nổi tiếng thế giới, người từng được đề cử cho giải thưởng Nobel về hòa bình.

Viktor Frankl cho rằng con người cần đến một ý nghĩa trong đời. Cuộc sống sẽ làm ta đau đớn nếu con người cảm thấy trống rỗng trong sự tồn tại. Cuộc đời ông là minh chứng tốt nhất cho điều này, tiểu sử phi thường của ông chính là điều bảo đảm độ tin cậy cho những gì ông viết, khiến sách của ông trở thành bestseller ở nhiều nước trên thế giới, từ Mỹ qua Nhật, từ Tây sang Đông.

Cũng như Sigmund Freud, bác sỹ Frank là người gốc Do Thái. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông mở phòng tư vấn tâm thần miễn phí cho thanh niên, công tác với các tên tuổi lẫy lừng như Freud và Alfred Adler. Năm 1938, những kẻ quốc xã lên nắm quyền ở Áo. Frank có thể bỏ trốn, ông có thị thực đi Mỹ, nhưng ông không muốn bỏ lại cha mẹ già. Ông được phép hành nghề bác sỹ tâm thần tới năm 1942, nhưng chỉ trong bệnh viện dành cho người Do Thái ở Vienna. Ông biết quân Hitler sẽ giết những người bệnh tâm thần nên đã đưa ra các bản chuẩn đoán giả cho bệnh nhân của mình để cứu họ.

Năm 1942, ông cùng cha mẹ, vợ và em trai bị bọn quốc xã bắt rồi đưa đến trại tập trung Auschwitz (Ba Lan) và sau đó là trại Dachau (Đức). Chúng tịch thu quyển sách về lập trường của một bác sỹ trước những đau đớn của sự tồn tại mà ông bắt đầu viết từ trước khi bị bắt. Ý nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ được đoàn tụ với gia đình và viết lại toàn bộ quyển sách đã giúp ông sống sót. Ông được người Mỹ giải phóng khỏi trại Dachau, trở về Vienna, được tin cha mẹ, em trai và người vợ đang mang thai đều đã chết trong các trại tập trung. Ông làm việc trong bệnh viện tâm thần, phục hồi lại cuốn sách đã bị tiêu hủy và viết cuốn tiếp theo: „Nhà tâm lý học trong trại tập trung”, cuốn sách đã mang tên tuổi của ông đến với thế giới. Hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, ông tái hôn. Viết lách, công việc và tình yêu – ông đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở đó sau những thảm kịch chiến tranh.

Viktor Frankl mở ra môn phái thứ ba của ngành tâm lý trị liệu Vienna mà ông gọi là môn liệu pháp ý nghĩa (logotherapy) – bên cạnh môn phân tâm học của Freud và tâm lý học cá nhân của Adler. Logos có nghĩa là ngôn từ, đạo, ý nghĩa. Theo Freud, con người hướng tới lạc thú. Theo Adler – con người hướng tới quyền lực, để cân bằng các mặc cảm thấp kém của mình (con người tìm kiếm sức mạnh trong cuộc sống, để tự giải phóng khỏi cảm xúc lệ thuộc mà mình trải qua trong thời thơ ấu). Còn Frankl thì khẳng định con người tìm kiếm trước hết là ý nghĩa trong cuộc đời. Ông muốn giúp những người sống đau đớn, những người khổ sở vì cảm giác trống rỗng trong sự tồn tại. Ông muốn ngành tâm lý trị liệu mang một gương mặt nhân bản.

Với tư cách là một bác sỹ và triết gia, Frankl đấu tranh với cái ông gọi là chủ nghĩa hư vô (nihilism). Ở đây, chủ nghĩa hư vô có nghĩa là sự hướng tới rút gọn hiện thực loài người về một hệ số nào đó – hệ số tâm lý, vật lý hay xã hội. Frankl cho rằng con người là một bản thể phong phú hơn, chúng ta không nên làm cho bản thể ấy nghèo nàn đi. Con người cũng là một bản thể tinh thần, chứ không phải chỉ là một sản phẩm và cơ cấu vật lý, tâm lý hay xã hội. Bởi vậy, con người không phải là con rối bị giật dây từ bên trong hay bên ngoài. Con người có khả năng làm được điều gì đó lớn hơn là chỉ đấu tranh sinh tồn. Con người tìm ra ý nghĩa trong đời và hướng tới các giá trị. Kinh nghiệm của Frankl và những người mà ông gặp trong những điều kiện khó khăn cùng cực đã cho phép ông có cái nhìn về con người khác Freud hay Adler.

Từ những trải nghiệm tinh thần ở trại tập trung được Frankl miêu tả, người ta tìm thấy cho mình bài học để vượt ra khỏi thế giới độc ác của cực quyền. Phải làm gì với cái lỗ đen của sự tồn tại? Điều gì là thực sự quan trọng trong cuộc sống? Điều gì giúp ta tìm thấy sức mạnh tinh thần và tâm lý cho mình và người khác? Sống thế nào và sống để làm gì?

Bài học của Frankl không phải là bài học dễ dàng trong nền văn hóa tiêu dùng hàng loạt và chớp nhoáng thời nay. Nhưng Frankl không muốn rao giảng đạo đức, ông chỉ muốn giúp những người qua đường đang bế tắc tinh thần. Ông cảnh báo hai thứ thái quá: một là nhớ quá nhiều, nhớ hết tất cả những gì từng xảy ra với ta; hai là quá muốn rằng cuộc sống phải diễn ra thế này mà không thế khác.

Ông khuyến khích một cuộc sống hướng tới các giá trị, hướng tới tương lai, bởi vì ông nhìn thấy trong trại tập trung những người có cơ hội sống sót nhiều hơn là những người tin vào một điều gì đó: những người theo đạo, các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị và xã hội, những người không chỉ nghĩ cho bản thân mình mà cố gắng giúp đỡ người khác, họ tin rằng họ có tương lai phía trước, họ sống vì ai đó hay vì cái gì đó, những người khi bị tước đoạt hết các điều kiện sống của một con người bình thường, vẫn luôn cố gắng hành xử một cách xứng đáng, không cho phép hủy hoại cảm giác tự do và phẩm giá của mình.

Không thể sản xuất, phát minh hay ban tặng ý nghĩa cuộc sống, chỉ có thể tìm thấy nó, bởi vì ý nghĩa cuộc sống tồn tại ngoài chúng ta, chúng tồn tại trong các giá trị nâng đỡ tinh thần con người, các giá trị mà những tù nhân của trại tập trung kia muốn phụng sự.

Tâm lý học và nền văn hóa hiện đại thường giảm thiểu tự do của con người, vén ra đủ mọi hình thức lệ thuộc của anh ta. Frankl đã lội ngược dòng: ông chỉ ra rằng con người luôn có thể lựa chọn giữa các hành xử xứng đáng và không xứng đáng, và bằng cách đó thực thi tự do của mình. Mặc dù có các hạn chế, con người vẫn tự do và điều quan trọng là anh ta hưởng lợi từ sự tự do đó.

Ngoài tình yêu, công việc và sự sáng tạo, Frankl xếp vào danh mục các giá trị cả sự đau khổ - khi nó không hủy hoại con người mà làm tinh thần họ lớn lên. Điều này xảy ra khi con người bắt đầu hiểu rằng mình không thể đạt được tất cả mọi thứ, và rằng việc bất toại ấy có thể phục vụ cho một điều gì đó tốt đẹp.

Văn hóa hiện đại dạy ta điều ngược lại: rằng chúng ta có quyền, thậm chí là nghĩa vụ, đặt ra các điều kiện và đòi hỏi trong cuộc sống. Nhưng nó không dạy ta phải làm sao nếu cuộc đời không cho ta đạt được những điều đó. Giá trị của sự đau khổ không có chỗ trong tủ thuốc cấp cứu của thời pop culture. Theo Frankl, ý nghĩa cuộc sống không phải là thứ hàng có thể mua, đặt, hoặc trực tiếp hướng tới. Ý nghĩa là kết quả của việc thực hiện các giá trị tồn tại ngoài con người, vượt quá các mục đích và nhu cầu đơn lẻ của anh ta. Những hành động mà anh ta thực hiện, những tác phẩm mà anh ta sáng tạo, tình yêu mà anh ta trải qua và sự đau khổ mà anh ta chịu đựng với lòng can đảm và phẩm giá – tất cả tạo thành giá trị của con người, vượt ra ngoài lợi ích và sự hữu hạn của loài người.

Theo các nhà tâm lý học thuộc trường phái Frankl, cảm giác mạnh mẽ về ý nghĩa cuộc sống là một trong các thành phần của tâm lý khỏe mạnh. Hạnh phúc chỉ là một hệ quả phụ của cảm giác rằng cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa. Bởi thế người không kiếm tìm hạnh phúc mà kiếm tìm và tạo ra các giá trị sẽ tìm thấy hạnh phúc nhanh hơn.

Dấu hiệu của sự trống rỗng trong tồn tại là sự buồn chán, khi người ta không biết phải làm gì với thời giờ rảnh rỗi và họ giết thời gian như giết kẻ thù, lao vào bất cứ một hoạt động hay cuộc vui nào. Có vẻ như đơn giản, nhưng nhiều khi rất khó dứt khỏi thế giới của chủ nghĩa tuân thủ (conformism) ấy. Theo dr Opoczyńska của Đại học Jagielloński, Frankl là một trong những bậc thầy lớn nhất của thế kỷ XX về giới hạn và khoảng cách. Không phải mọi thứ đều có thể, không phải mọi thứ đều cần thiết, không phải mọi thứ đều được phép.

Thay vì hỏi tại sao tôi bất hạnh – Frankl nói – hãy hỏi cuộc sống chờ đợi điều gì ở bạn và bắt tay vào việc đi.



Wednesday, 2 September 2009

Gửi một em gái nhỏ

(Dạ Thảo Phương)

3.200 cây số vuông
Thành phố mở rộng như vết thương mưng tấy vì lòng tham mù quáng
3.200 cây số vuông
Trái tim phình to của một cơ thể gầy gò đầy đau đớn
Em, cô tế bào nhỏ bé không muốn sống trong bệnh tật
Loay hoay khâu vá thịt da Quê hương
Bằng con chữ được học, nhưng không vay mượn
Và em nói
"Em không mạnh mẽ, em không kiêu hãnh đâu"...

Quê hương
Hơn 86 triệu tế bào mạnh mẽ và kiêu hãnh
Hơn 86 triệu tế bào tật nguyền nhung nhúc hạnh phúc
Không ngước mắt khỏi máng cơm, ai còn dám nhục
Ai còn nhớ đau
Muốn sống sạch cũng là tội lỗi
Đất nước mình, ai cần Chữ nữa em

Thời buổi này ai còn muốn làm người hùng
Tôi biết em cũng vậy
Ai chẳng muốn thu vai đi đúng lề bên phải
Cười chê những kẻ chệch hàng
Nhưng biết làm sao khi có một trái tim
Đập mạnh hơn khi nhục

Tôi biết đêm nay em không ngủ
Sàn cứng, lòng người cứng, thịt da con gái mềm, trái tim con gái sợ nước mắt của mẹ, sợ ngày mai trời không sáng nữa
Em, cô tế bào nhỏ bé
Không kiêu hãnh, không mạnh mẽ
Đau hộ tôi
Và triệu triệu tế bào không dám đau...

2.9.2009

Friday, 28 August 2009

Một buổi chiều vàng trên quê hương Chopin


Ảnh chụp ở Żelazowa Wola, miền quê nơi Chopin sinh ra, những cây liễu trong ráng chiều vàng như mật ong. Một ngày tháng 8 đáng nhớ và những kỷ niệm với người bạn quý lặn lội đến từ nước Mỹ :)

„Tôi sẽ ra đi và nằm xuống, ngả mình
Giữa những cây liễu
Có thể lúc bấy giờ
Tôi sẽ viết những vần thơ”

(W. Broniewski)











Photo by Thai Linh