Friday, 7 January 2011

Tình hạnh phúc (Wisława Szymborska)



Tình hạnh phúc. Có bình thường không nhỉ?
Có nghiêm túc không, có ích lợi gì –
Từ hai kẻ yêu nhau thế giới sẽ được chi,
những kẻ không nhìn ra thế giới?

Họ tôn vinh nhau lên bục cao vời
chẳng vì thứ công lao gì sất.
Được chọn ngẫu nhiên từ muôn triệu người, nhưng họ tin thành thật
rằng mọi điều không thể khác đi –
Họ được thưởng ban vì lý do gì?
Không gì hết.
Ánh sáng từ nơi không ai biết
sao chỉ chiếu soi riêng họ mà thôi?
Điều đó có bất công không? Có chứ, hẳn rồi.
Có vi phạm những tháp ngà nguyên tắc?
Có hạ bệ ngôi cao đạo đức?
Đương nhiên.

Hai con người hạnh phúc ấy, hãy nhìn xem:
Giá như họ che giấu đi đôi chút,
vờ rầu rĩ để bạn bè không thấy bực!
Nghe xem họ cười dễ ghét biết chừng nào,
thứ ngôn ngữ họ dùng mới lừa mị làm sao!
Những lễ nghi, những hành vi nhỏ nhặt,
những nghĩa vụ đối với nhau mà họ cố tình bày đặt,
tựa một âm mưu sau lưng cả loài người!

Mọi sự sẽ đi tới đâu, ai đoán nổi hở trời,
nếu người ta noi theo gương họ.
Tôn giáo và thi ca biết lấy gì nương tựa?
Những gì được nhớ ghi, những gì bị chối từ?
Ai còn giữ mình trong giới hạn khư khư?

Tình hạnh phúc. Phải chăng cần thiết?
Sự tế nhị và khôn ngoan
khuyên ta không nói gì về nó hết,
như lặng im về một chuyện lôi thôi
trong giới thượng lưu của Cuộc đời.
Những đứa trẻ tuyệt vời vẫn sinh ra chẳng cần nó đấy thôi.
Nó có bao giờ khiến trái đất này trở nên đông đúc,
Nó xảy ra là chuyện thật hiếm hoi.

Hãy để cho những người
chưa từng biết đến tình hạnh phúc
khăng khăng chẳng nơi đâu thứ tình này có thực.

Với niềm tin ấy
họ sống nhẹ nhàng và chết nhẹ nhàng hơn.

(Thái Linh dịch)


Tuesday, 4 January 2011

Imperium (trích, R. Kapuściński)

Ở trường, chúng tôi học bảng chữ cái tiếng Nga ngay buổi học đầu tiên. Chúng tôi bắt đầu bằng chữ „s”. Sao lại bằng chữ „s”? Có bạn nào đó trong lớp hỏi. Phải bắt đầu từ “a” chứ! Các em, thầy giáo (người Ba Lan) nghiêm giọng nói, các em hãy nhìn vào bìa cuốn sách của chúng ta. Chữ đầu tiên trên đó là gì? Chữ “S”! Petrus người Bạch Nga có thể đọc cả dòng: Stalin. “Những câu hỏi của chủ nghĩa Lenin”. Đó là quyển sách duy nhất mà chúng tôi dùng để học tiếng Nga, bản duy nhất của cuốn sách ấy. Trên bìa cứng bọc vải xám có những chữ lớn mạ vàng óng ánh.

“Khi vĩnh biệt chúng ta, đồng chí Lenin đã dạy...” anh bạn Władysław nhỏ bé và ít lời ngồi bàn đầu lắp bắp đọc. Tốt hơn hết là không hỏi Lenin là ai. Các mẹ đã kịp dặn chúng tôi không được hỏi gì hết. Mà thực ra những lời đe nẹt ấy cũng chẳng cần thiết. Tôi không thể tả được, không biết là tại sao, nhưng trong không khí có một cái gì đó thật đáng sợ, thật căng thẳng và nặng nề, đến mức cái thành phố nơi chúng tôi vẫn quậy tưng bừng như quỷ sứ bỗng trở thành bãi mìn nguy hiểm và phản trắc. Ngay đến thở mạnh chúng tôi cũng sợ sẽ làm mọi thứ nổ tung.

Mọi trẻ em đều sẽ vào Đội! Một hôm, chiếc xe con của trường đỗ vào sân, có mấy ông mặc quân phục màu xanh lam bước ra. Ai đó nói rằng họ là NKVD. NKVD là gì thì không rõ lắm, nhưng có điều chắc chắn rằng một khi người lớn hạ giọng thì thầm lúc nhắc đến cái tên ấy, thì NKVD hẳn phải là quan trọng nhất, vì quân phục của họ lịch lãm, mới tinh, y như vừa được may xong. Bộ đội bình thường luôn ăn mặc rách rưới, họ đeo túi vải thay vì ba lô, thường là những chiếc túi rỗng, buộc túm buộc tó lại, còn giày thì hình như cả đời không đánh, nhưng nếu có ai đó là người của NKVD đang đến thì từ xa cả cây số đã thấy ánh đèn báo hiệu màu xanh nhấp nháy trên xe ông ta.

Những người của NKVD ấy mang cho chúng tôi áo sơ mi trắng và khăn quàng đỏ. Nếu có buổi lễ quan trọng, thầy giáo nói với giọng sợ sệt và buồn rầu, mỗi học sinh sẽ mặc áo trắng và đeo khăn quàng đến trường. Họ cũng đem đến và phát cho chúng tôi rất nhiều huy hiệu. Trên mỗi huy hiệu là hình một ông khác nhau. Một số người có ria, những người khác thì không. Một ông có râu, còn hai ông khác thì hói. Hai hay ba ông đeo kính. Một người của NKVD đi xuống các bàn và phát huy hiệu. Các em, thầy giáo nói, đây là các lãnh tụ của các em. Có chín lãnh tụ. Họ tên là: Andreyev, Voroshilov, Zhdanov, Kaganovich, Kalinin, Mikoyan, Molotov, Krushchev. Lãnh tụ thứ chín là Stalin. Huy hiệu hình ông to gấp đôi các ông khác. Nhưng điều đó cũng dễ hiểu thôi. Cái ông đã viết quyển sách “Những câu hỏi của chủ nghĩa Lenin” dày như thế (mà chúng tôi dùng để học đọc) ắt phải có huy hiệu to hơn các ông khác rồi.

Phải đeo huy hiệu lên ngực áo, phía bên trái, nơi người lớn hay đeo huy chương. Nhưng chẳng mấy chốc thì bắt đầu có chuyện: thiếu huy hiệu. Lý tưởng nhất, thậm chí gần như bắt buộc, là đeo hết các lãnh tụ, bắt đầu bằng huy hiệu to của Stalin. Các ông ở NKVD cũng bắt thế: phải đeo hết! Trong khi đó, hóa ra người có Zhdanov thì không có Mikoyan, hoặc có người có hai Kaganovich mà không có Molotov. Một hôm Janek mang đến những bốn Krushchev để đổi lấy một Stalin (trước đó có người đã lấy cắp mất Stalin của cậu).Trong bọn chúng tôi, Petrus thực sự là một tay giàu sụ - cậu có những ba Stalin. Cậu thường lôi chúng ra khỏi túi, giơ lên khoe.

Có lần, Chaim - cậu bạn ngồi bàn bên cạnh – lôi tôi ra một góc. Cậu muốn đổi hai Andreyev lấy Mikoyan, nhưng tôi bảo cậu là Andreyev rẻ lắm (sự thật là thế, vì chẳng ai biết ông Andreyev này là ai) và không đồng ý. Hôm sau Chaim lại lôi tôi ra một góc. Câu lôi từ trong túi ra Voroshilov. Tôi run lên. Voroshilov là mơ ước của tôi! Ông mặc quân phục, nghĩa là đầy vẻ chinh chiến, mà tôi đã biết mùi chiến tranh rồi, nên tôi cảm thấy ông có vẻ gần gũi. Tôi đổi cho cậu Zhdanov, Kaganovich và cho thêm Mikoyan nữa. Nói chung Voroshilov rất chạy. Molotov cũng thế. Một Molotov có thể đổi được ba ông khác, vì người lớn nói rằng Molotov quan trọng. Kalinin cũng có giá, vì trông giống một ông lão Ba Lan. Ông có chòm râu bạc và chỉ có ông là có cái gì đó như thể nụ cười.

(Thái Linh dịch)


Sunday, 2 January 2011

Những người trên cầu (Wisława Szymborska)


(Sudden Shower over Ohashi Bridge and Atake, 1857, Hiroshige Utagawa)

Một hành tinh lạ lùng và những người kỳ dị.
Họ lệ thuộc thời gian nhưng không thừa nhận thời gian.
Họ có cách tỏ bày lòng phản kháng. 
Họ vẽ những bức tranh, ví dụ bức tranh này:

Thoạt nhìn không có gì đặc biệt ở đây.
Thấy một dòng sông.
Thấy một bờ của dòng sông ấy.
Thấy một chiếc bè gắng sức bơi ngược dòng nước chảy.
Thấy chiếc cầu trên sông và những người ở trên cầu.
Những người rõ ràng đang rảo bước thật mau,
bởi từ đám mây đen
mưa bắt đầu quất mạnh.

Điều đáng nói ở đây là chẳng có gì xảy ra kế tiếp.
Đám mây không đổi thay hình dạng, sắc màu.
Mưa chẳng tạnh đi cũng chẳng rơi mau.
Chiếc bè bơi bất động.
Người trên cầu đang chạy
chính tại nơi họ đã chạy rồi, một lát trước đây. 

Khó tránh khỏi đưa ra lời nhận xét này:
Đây không hề là bức tranh vô tội.
Thời gian ở đây đã bị làm ngừng lại.
Đã không còn theo quy luật của nó rồi.
Đối với các diễn biến, than ôi,
Nó đã bị tước đi uy lực.
Bị khinh khi và sỉ nhục

Do một kẻ nổi loạn,
một ông Hiroshige Utagawa nào kia,
(một hữu thể, thật ra,
đã đi qua thế giới này từ lâu và thuận lẽ),
thời gian đã sẩy chân, vấp ngã.

Có thể đây chỉ là trò chơi khăm chẳng nghĩa lý gì,
một trò ngông trong phạm vi vài thiên hà ít ỏi,
nhưng để đề phòng mọi điều mọi nỗi,
ta bổ sung như sau:

Ở đây có một bức tranh được đánh giá cao
đã bao đời khiến người ta mê say, xúc động,
và điều ấy vẫn được xem là đúng.

Một số người thế vẫn chưa thỏa mãn.
Họ còn nghe được cả tiếng mưa tuôn,
Cảm thấy cái lạnh của những giọt nước trên cổ, trên lưng,
Họ nhìn cây cầu và những người trên đó
như thể đang nhìn thấy chính mình
trong cuộc chạy kia chẳng lúc nào ngừng
trên con đường thiên thu bất tận
và họ tin tráo trơ, ngạo mạn
rằng đó là chuyện thật hiển nhiên.
 
(Thái Linh dịch)

Thursday, 30 December 2010

Viện bảo tàng (Wisława Szymborska)


Đĩa ở đây, nhưng ngon miệng nào đâu.
Nhẫn nơi này, mà không tình giai ngẫu
đã qua rồi thấm thoắt ba trăm năm.

Quạt nơi đây – đâu má ửng nét hồng lan?
Đây kiếm gươm – đâu rồi cơn uất hận?
Đàn lia dưới ánh tà phím chẳng một lần ngân.

Vì sự vĩnh hằng vắng bóng chốn trần gian,
người ta gom về đây mười nghìn đồ cổ.
Bác thầy ký mốc meo mơ màng trong giấc ngủ
Râu rủ trên tủ kính trưng bày.

Gốm sứ, lông chim, kim loại nơi đây
Vượt thời gian âm thầm chiến thắng.
Riêng chiếc trâm cài từ miền Ai Cập
đang khẽ khúc khích cười.

Chiếc vương miện hoài công chờ đợi một đầu người
Bàn tay thua găng tay, và chiếc giày bên phải
đã chiến thắng bàn chân.

Còn tôi, tôi đang sống, xin bạn hãy vững tâm.
Cuộc chạy đua của tôi với chiếc váy dài vẫn đang tiếp diễn.
Ôi chiếc váy thật là bướng bỉnh!
Nó như muốn trường tồn bất chấp kỷ niên!

(Thái Linh dịch)

Tuesday, 7 September 2010

Per Wästberg: Chúng tôi đã không kịp trao giải Nobel cho Kapuściński


(Anders Bodegard tại Đại hội Quốc tế các dịch giả văn học Ba Lan lần thứ II, Krakow 6/2009)


"Nhiều khi tử thần nhanh chân hơn chúng tôi. Calvino, Sebald, Kapuściński, tất cả họ đều đã kịp qua đời." Nhà văn Per Wästberg nói trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ báo lớn nhất Thụy Điển "Dagens Nvheter". Từ năm 1997, ông ngồi trong ban giám khảo trao giải Nobel văn học (ghế số 12).


‎"Chúng tôi đã biết việc Viện Hàn Lâm không kịp vinh danh Ryszard - Anders Bodegard tiết lộ, ông là đại sứ của văn học Ba Lan tại Thụy Điển, dịch giả 5 cuốn sách của Kapuściński và thành viên ban giám khảo giải thưởng dành cho phóng sự văn học mang tên Kapuściński - nhưng đây là lần đầu tiên điều này được nói trước công chúng. Chuyện như vậy đã từng xảy ra với Gombrowicz, người mất tháng 7 năm 1969 và khi đó Beckett được nhận giải Nobel. Chín năm nữa chúng ta sẽ được biết các chi tiết liên quan đến Gombrowicz, còn trong trường hợp Kapuściński thì phải tận sau năm 2057"


nguồn: http://wyborcza.pl/1,75475,8327123,Per_W%C3%A4stberg__spoznilismy_sie_z_Noblem_dla_Kapuscinskiego.html

Saturday, 28 August 2010

Ai là thi sĩ? (Tadeusz Różewicz)

Thái Linh dịch

Thi sĩ là người viết những bài thơ
và là người không viết những bài thơ

Thi sĩ là người tháo bỏ trói buộc
và là người trói buộc chính mình

Thi sĩ là người có được đức tin
và là người không còn tin nổi

Thi sĩ là người nói dối
và là người bị dối lừa

Thi sĩ là người có miệng để cất lời
và là người nuốt đi sự thật

là người ngã xuống
và là người đứng lên.

Thi sĩ là người từ bỏ ra đi
và là người không thể ra đi được.

(Thái Linh dịch)

Friday, 20 August 2010

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về


(Bầu trời Baltic)


Từ lần cuối cùng tôi nghỉ hè bên bờ biển Baltic, đã hơn mười năm trôi qua. Trong vòng hơn mười năm ấy, dĩ nhiên đã có những lần gặp gỡ ngắn ngủi khác, nhưng chỉ là thoáng chốc và không trọn vẹn. Tôi cũng chẳng nhớ nhung, Baltic quá gần để nhớ nhung. Khi chuẩn bị cho chuyến đi này, tôi không có cảm giác mình đang lên đường. Có chút gì đó như hờ hững như thờ ơ như không hề mong đợi. Mặc dù sẽ đến một thành phố xa lạ, nhưng tôi biết rằng ở đó sẽ chẳng có gì quá xa lạ với mình. Vẫn là thứ ngôn ngữ đang vây bọc tôi hàng ngày. Ngôn ngữ không thay đổi thì dường như chẳng có gì để mà hồi hộp, để tò mò và ngạc nhiên, để cảm thấy mình sẽ khám phá những điều mới lạ.

Vậy mà tôi đã ngạc nhiên, đã khám phá những điều mới lạ, không phải ở nơi nào xa xôi mà chính trong lòng mình. Vì thế, tôi sẽ không tả cảnh, không kể chuyện, tôi sẽ chỉ viết về những nỗi ngạc nhiên, về những ngỡ ngàng và thích thú.

Tôi ngạc nhiên sao mình lại xúc động đến thế khi trên con tàu băng qua Ba Lan, tôi mải mê ngắm nhìn như mới thấy lần đầu những bình nguyên xanh mướt, những vườn táo lấm tấm quả, những cánh đồng vàng rượi sau mùa gặt, những rừng bạch dương âm u trong mây mù...,những gì tôi tưởng đã quá thân quen. Một cảm giác bình yên lan tỏa, từ từ và lặng lẽ, nhẹ nhàng và mềm mại. Để rồi khi tất cả dần chìm vào làn mưa, cảm giác bình yên ấy như một làn ánh sáng dần sáng lên quanh tôi. Mưa càng nặng hạt, gió càng tạt mạnh vào con tàu, bầu trời càng sầm tối thì ánh sáng ấy càng rực rỡ. Như thể bao nhiêu ấm áp, bao nhiêu êm ả của những bình nguyên vườn táo cánh đồng khu rừng đã dồn hết về đây, trong toa tàu này, để thắp cho các ngọn đèn mỗi lúc một sáng hơn. Giữa tâm ánh sáng ấy, tôi ngồi thật lặng im khi con tàu lao nhanh trong mưa gió, bất động trong chuyển động, và, hơn bao giờ hết, lòng thăm thẳm bình yên.

Baltic trong mưa. Trước phòng tôi, từ ban công nhìn ra, biển xa hút tầm mắt. Bước một cái là xuống biển, vậy mà tôi vẫn chưa thể chạm vào biển. Baltic nấp sau tấm màn mưa xám đục, bắt người ta phải chờ đợi và kiên nhẫn. Tôi ngạc nhiên sao mình không chán nản mà thậm chí còn thấy dễ chịu. Tôi vui thích lắng nghe tiếng mưa đổ xuống hòa cùng tiếng sóng biển và tiếng gió cuộn trong những vòm cây tạo thành một khối âm thanh rì rào đặc sánh, thứ âm thanh tôi chưa từng được nghe. Những nhạc cụ ướt lạnh lướt thướt ấy - mưa, gió và sóng biển – kỳ lạ thay, lại làm nên một bản hòa tấu ấm áp, hài hòa, khiến người ta có cảm giác êm ả như trong đêm tất niên của thời thơ ấu ngồi nghe nồi bánh chưng sôi.

Baltic mưa và tôi ngồi đọc Nhiệt đới buồn. Tôi gặp lại Kapuściński trong những trang viết của Claude Lévi-Strauss, ở Ấn Độ, ở Nam Mỹ, ở những suy tư và đào xới sâu hơn là du ký, ở cái nỗ lực để thấu hiểu và cảm thông với những Người khác. Tôi nhớ Kapuściński, nhớ mơ ước chưa thành của ông là làm một chuyến du hành trên biển theo dấu chân Bronisław Malinowski (nhà nhân học Ba Lan kiệt xuất, người thường được coi là một trong những nhà nhân học quan trọng nhất của thế kỷ 20).

Khi mưa tạnh, những tia nắng đầu tiên dịu dàng xuyên qua bầu trời đầy mây rọi vào phòng, nghe tiếng còi tàu đầu tiên vang lên ngoài biển, tôi nhìn ra ban công và thấy những cánh chim đầu tiên bắt đầu chao liệng trong không trung trên mặt biển lấp lánh ướt, giống như nụ cười đang từ từ bừng nở trên gương mặt bé thơ còn long lanh nước mắt. Từ ban công này, trong xa vắng Địa Trung Hải, trong thương nhớ những đám mâybầu trời của Szymborska, tôi sẽ còn nhiều lần nhìn ngắm trời mây Baltic với nỗi ngạc nhiên tinh khôi nhất. Trong một ngày mùa hè, bầu trời Địa Trung Hải luôn xanh thẳm. Nhưng bầu trời Baltic thì khác, nó sinh động và biến đổi không ngừng. Vẻ đẹp bầu trời Địa Trung Hải là vẻ đẹp của sự ngưng đọng và tĩnh lặng, của mãn nguyện và bình yên, thanh thản, vẻ đẹp của huyền thoại và quá khứ, của vĩnh cửu và hoàn hảo. Bầu trời Baltic mang vẻ đẹp của chuyển động và thay đổi, của ngạc nhiên, mong đợi và tuơng lai, vẻ đẹp của khoảnh khắc và cái mong manh vô thuờng, của sự bất toàn và day dứt, như chính cuộc sống.

Những ngày nằm dài trên bãi biển, tôi thích thú nghe tiếng rao của những người đi bán dạo. Những tiếng rao! Tuổi thơ của tôi làm sao có thể thiếu những âm thanh mời gọi và vui vẻ ấy, ngày tháng xa xưa ở Việt Nam. Thật bất ngờ khi các con tôi bây giờ vẫn còn được nghe những tiếng rao trong muôn vàn âm thanh của cuộc sống. Rất lạ là hơn mười năm trước, không có những người bán dạo trên bãi biển. Cứ như mọi thứ đi ngược thời gian. Hay đúng hơn, có những dòng chảy ngược xuôi thời gian đan xen vào nhau. Vì tôi chìm trong một cảm giác mới lạ khác khi nghe xôn xao quanh mình không chỉ là tiếng Ba Lan,tiếng Việt, mà cả tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga... Mười năm trước, bức tranh ngôn ngữ đơn điệu hơn nhiều. Và giữa những dòng ngược xuôi thời gian ấy, tôi luôn tròng trành trong cảm giác lạ mà quen, quen mà lạ, vừa là trở lại vừa là ra đi.

Ngày trở về, tàu lại băng qua những cánh đồng và những bình nguyên giờ đây ngập nắng, những rừng bạch dương lấp lánh thân bạc, những trảng cỏ xanh miên man có đàn bò sữa màu lông loang lổ trắng đen... Giữa không gian tươi sáng ấy, tôi ngỡ ngàng nhận ra các nhà ga trông vẫn tồi tàn và cũ kỹ làm sao, không khác gì hơn mười năm trước. "Ga nhỏ ồn ào, hồi hộp nỗi riêng chung / Ta sẽ nhớ khung cảnh này mãi mãi."(*) Những sân ga lưu giữ bao ký ức nhọc nhằn của người Việt trên mảnh đất Ba Lan một thời đã xa, những sân ga bao giờ cũng khiến sống mũi như cay, bất chấp bao thay đổi của cuộc sống, của thời đại, như đã vĩnh viễn dừng lại ở một điểm nào xa lắc trong quá khứ. Và một lần nữa, tôi lại thấy mình đang trở về trong chuyến đi xa.

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về.


---

(*) thơ B.Kornilov,Thụy Anh dịch



Saturday, 10 July 2010

Bốn giờ sáng

Wisława Szymborska


Giờ đêm chuyển sang ngày.
Giờ trở mình trằn trọc.
Giờ của những người đương tuổi ba mươi.

Giờ vòng tay đất mẹ ôm ta đã rời rã buông lơi.
Giờ bị quét phăng dưới tiếng gà gáy sáng.
Giờ gió lạnh thổi về từ những vì sao đã tắt.
Giờ có-gì-còn-lại-phía-sau-ta.

Giờ trống trải.
Rỗng không, vô vị.
Đáy tận cùng của mọi canh giờ.

Không có ai dễ chịu lúc bốn giờ.
Nếu đàn kiến vui vẻ vào giờ ấy -
ta chúc mừng cho kiến đi thôi. Và hãy để năm giờ sang tới
nếu ta còn phải sống tiếp trên đời.


(Thái Linh dịch)

Sunday, 13 June 2010

Rao vặt

(Wisława Szymborska)

Ai thấy nơi nào có lòng trắc ẩn
(hay là trí tưởng tượng của trái tim) -
Làm ơn xin cho biết!
Làm ơn xin cho biết!
Hát vang lên, xin người hãy hát
và khiêu vũ như mất trí, điên rồ
hân hoan dưới gốc bạch dương yểu điệu lơ thơ
vẫn luôn đang chực khóc.

Nhận dạy môn Im Lặng
bằng mọi thứ tiếng trên đời
theo phương pháp ngắm nghía không ngơi:
bầu trời sao lấp lánh,
ngắm châu chấu bật mình nhảy tách,
hàm dưới của người vượn Bắc Kinh,
ngắm móng tay trẻ sơ sinh,
một sinh vật phù du trôi nổi,
hay bông tinh thể tuyết vừa rơi.

Nhận tái tạo tình yêu.
Dịp may đây! Xin chú ý!
Trên bãi cỏ xanh năm ngoái
Bạn được nằm lăn trong nắng chan hòa
Còn gió kia nhảy múa reo ca
(cơn gió từ năm trước
trên tóc bạn bày trò vui lả lướt)
Chào hàng ở mục: Giấc mơ

Tìm người
để khóc
những người già vừa mất
trong trại tế bần.
Hãy ứng cử không cần
đơn thư và lý lịch.
Mọi giấy tờ sẽ bị xé hết
không kèm biên nhận, hóa đơn.

Về những hứa hẹn của chồng tôi,
người đã đưa đường cho quý vị
bằng những sắc màu của nhân gian trần thế
đông đúc và ồn ào,
bằng khúc ca bên cửa sổ, chú chó sau tường rào:
Rằng quý vị sẽ không bao giờ cô độc
trong bóng tối, trong lặng thinh, khi đứt hơi kiệt sức –
Tôi không thể chịu trách nhiệm mảy may.
Ký tên: Đêm, bà quả phụ của Ngày.


(Thái Linh dịch)

Saturday, 29 May 2010

Barcelona, những mảnh ghép vụn


(Casa Mila, tòa nhà do Gaudi thiết kế)


Tôi đến Barcelona vào những ngày chớm xuân. Làn không khí mát lành buông phủ xuống thành phố như tấm khăn voan mỏng nhẹ, những sợi tơ vô hình tinh khiết, mềm mại vương lên tóc, lên má, lên những ngón tay. Hàng cây hai bên đường bắt đầu nảy lộc, lấm chấm phớt những đốm xanh ngập ngừng lên thân cành. Chỉ hai tuần nữa thôi, các đốm xanh nhỏ bé rụt rè ấy sẽ bung ra hào phóng, mãnh liệt, dạt dào, để những con đường hân hoan dưới vòm lá xanh mướt non tơ trong khoảnh khắc đẹp nhất của mùa xuân. Những cơn mưa phùn thoáng qua gợi cho tôi cảm giác thân thương của những cơn mưa xuân thời thơ ấu, khi tôi còn ở Việt Nam. Barcelona bỗng nhiên không còn xa lạ. Rặng núi xanh mờ xa xa khiến tôi thấy bình yên. Là bình yên. Là trong vắt. Là „Một chút gì mới tinh, không thể mất -Trong khói sương xanh thẳm đến vô cùng...“ (1)

*

Trong nhà hát Palau de la Musica Catalona – một trường ca tuyệt đẹp được dệt bằng những vần thơ của thủy tinh màu và sứ ghép mảnh - tôi đã nghe các nghệ sỹ flamenco kể câu chuyện tình yêu. Trong không gian ấm áp, gần gũi, thân mật, một không gian rất mộc, tôi nghe từng nhịp chân của người vũ công dội vào tim mình, nhịp chân khi dồn dập, cuồng say, mãnh liệt, khi rào rào như cơn mưa mùa hạ, khi nhẹ nhàng như lời thì thầm trong đêm... Những nhịp chân mà người vũ công đã dồn hết vào đó cả tâm hồn và sự khéo léo, dường như anh đã biến cơ thể mình thành thứ nhạc cụ kỳ diệu nhất, những nhịp chân như có thần, có phách, cuốn tôi vào một dòng sông bất tận của nhịp điệu. Và tiếng hát, tiếng hát nồng nàn mà khắc khoải, kiêu hãnh mà u sầu của người ca nữ trong những giai điệu từ miền Andalusia nóng bỏng, chính là thứ ngôn ngữ biểu cảm tuyệt vời nhất của tình yêu. Flamenco là gì nếu thiếu tình yêu? Flamenco là gì, nếu không phải là tình yêu?

*

Bảo tàng Picasso. Tôi đã dừng lại rất lâu trước một bức tranh nhỏ vẽ cảnh bãi biển Barceloneta. Không một hình khối, cả bức tranh chỉ là những mảng màu, những sợi màu mịn màng, tươi sáng. Tinh mơ. Nhẹ bỗng. Dịu dàng. Những sắc xanh lơ, hồng nhạt, vàng mơ, vừa mong manh vừa ấm áp. Bức tranh giống một tấm khăn lụa nhỏ nằm khiêm nhường trong tủ kính, có lẽ chẳng mấy ai để ý, không hiểu sao lại gợi cho tôi một sự gần gũi kỳ lạ. Các sắc màu ấy giống những cuộn chỉ thêu mà ngày bé tôi hằng say mê. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác háo hức mỗi khi cùng bà ngoại ra chợ, gần đến quầy hàng xén, nơi người ta bán chỉ thêu, hình như bao giờ tim tôi cũng đập mạnh hơn. Và cái màu vàng mơ này đây, màu của cuộn chỉ thêu đầu tiên mà tôi có được trong đời, đã khiến tôi sung sướng đến mất ngủ. Không có gì mịn màng hơn thế, óng ả hơn thế, êm dịu hơn thế. Trong sắc vàng mơ ấy giấu cả bộ lông óng mịn của những chú gà con, cả ráng mây mát lành buổi sáng, cả ánh trăng đêm Trung thu, cả bụi phấn trên những cánh mai rừng mà cậu tôi thỉnh thoảng đem về vào dịp Tết ... Sắc vàng mơ tươi êm từng vỗ về tuổi thơ tôi, giờ lại hiện ra nhẹ nhàng, giản dị, tự nhiên như không thể khác, ở một góc xa lắc trên trái đất, như thể đã chờ đợi tôi từ hơn một thế kỷ. Sắc vàng mơ qua đôi mắt trong veo của chú bé Picasso tuổi mười lăm.

Marina.

*

Barcelona của Gaudi. Gaudi thiên tài và điên rồ. Gaudi cô đơn. Nỗi cô đơn ngất cao như những ngọn tháp Sagrada Familia đâm cứa vào bầu trời Barcelona. Nỗi cô đơn mềm như nước chảy vô hình trong Casa Battlo. Nỗi cô đơn quanh co như những bước chân trong Casa Mila. Nỗi cô đơn dằng dặc như chiếc trường kỷ ở Parc Guell. Và nỗi cô đơn đẹp như những cây đèn đường trên đại lộ Gracia... Ở Barcelona, tôi không ngừng nghĩ về nỗi cô đơn của Gaudi. Nó hiện diện ở khắp nơi. Đã có lúc tôi có cảm giác mình chạm được vào nó. Nhưng làm sao có thể chạm được vào nỗi cô đơn? Chỉ có thể nghĩ về nó, cảm nhận nó, nhưng không thể chạm vào.
Nỗi cô đơn Gaudi lừng lững in vào ánh nắng quái của hoàng hôn modernism.


*

Ở Barcelona, tôi gặp rất nhiều quán ăn, cửa tiệm của người Trung Quốc. Có lần, chúng tôi vào ăn sáng ở một quán ăn nhỏ. Quán mở cửa từ 10 giờ sáng đến 9 giờ tối, phục vụ các món bình dân. Thực khách chủ yếu là người Trung Quốc, đôi lúc mới thấy một người „Tây Ban Nha” bước vào, nhưng có lẽ cũng là dân nhập cư. Chủ quán và những người phục vụ rất nhiệt tình, nhưng một chữ tiếng Anh cũng không biết. Họ đều nở nụ cười, nhưng tôi thấy mắt họ quầng thâm, bàn tay họ nứt nẻ, phồng rộp. Ngoài kia là nắng xuân tươi sáng, là những bài thơ của văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, là Gaudi, Picasso,Joan Miro, là ngôn ngữ của Cervantes... còn trong căn quán này là một thế giới khác, buồn bã, u tối, đơn điệu, nhọc nhằn. Tôi nghĩ đến những người đồng hương của mình trong các quán bar chật chội ở Warszawa. Mắt họ cũng quầng thâm như thế, tay họ cũng nứt nẻ như thế. Các thành phố khoe ra trong ánh sáng những tinh hoa đặc sắc nhất của mình, điều khiến chúng khác nhau. Nhưng bóng tối và những nỗi nhọc nhằn thì giống nhau, nơi nào cũng thế.


----

(1) Thơ Antonio Machado, thi sỹ người Tây Ban Nha