Tuesday, 1 November 2011

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2

Thái Linh dịch

Tôi hay nghe người ta so sánh Beethoven với Michelangelo, Mozart với Correggio hay Giorgione... Mặc dù tự thấy việc so sánh các nghệ sỹ thực hành các ngành nghệ thuật khác nhau là vô nghĩa, tôi vẫn không thể ngăn mình và không thể không nhận thấy những nhận xét của tôi về Chopin rất thường dùng được cho Baudelaire và ngược lại. Cũng đã không ít lần, khi nói về Chopin, cái tên Baudelaire tuôn xuống ngòi bút tôi một cách rất tự nhiên. Các tác phẩm của Chopin được gọi là „âm nhạc không lành mạnh”. Người ta gọi „Những bông hoa ác” là „thi ca không lành mạnh” và tôi cho rằng bởi cùng một lý do. Cả hai người đều tìm kiếm sự hoàn hảo với sự chăm chút như nhau, cùng sợ hãi trốn tránh phép tu từ, tránh thuật diễn thuyết và hùng biện, song tôi muốn nói rằng cả hai người đều sử dụng cùng một thủ pháp gây bất ngờ và nhờ nó mà có những rút ngắn phi thường.

Khi trong đoạn đầu của Ballada op.23 in G-minor, ngay sau toàn bộ phần mở đầu, để dẫn vào chủ đề chính được lặp lại trong các gam khác nhau, sau vài nhịp lưỡng lự ở gam Fa trưởng (không có chỉ dẫn về cách chơi, chỉ có các âm chủ và các quãng năm), Chopin bất ngờ giáng một nốt Si giáng sâu, thình lình thay đổi bức tranh phong cảnh như cái chạm của chiếc đũa thần. Câu thần chú táo bạo này dường như sánh ngang với một vài phép rút ngắn của tác giả „Những bông hoa ác”.



Thêm nữa, tôi cho rằng trong lịch sử âm nhạc, Chopin chiếm vị trí (và vai trò) như Baudelaire trong lịch sử thi ca: cả hai người ban đầu đều không được người ta hiểu, vì những lý do như nhau.

Đấu tranh với hình ảnh sai lầm mới khó khăn làm sao! Ngoài Chopin của những người trình diễn, còn có Chopin của các thiếu nữ. Chopin quá đa cảm. Đáng tiếc, ông là như thế! Nhưng không chỉ như thế. Dĩ nhiên, có cả một Chopin ưu sầu đã chắt ra từ cây dương cầm những tiếng thổn thức nức nở. Khi nghe một vài những bản nhạc ấy, người ta có cảm giác Chopin không bao giờ ra khỏi gam thứ. Nhưng tôi thích thú và ngợi ca nơi Chopin điều này, rằng bằng gam thứ và vượt lên nó, Chopin lại đạt đến niềm vui. Chính là niềm vui chiếm ưu thế ở ông (Nietzsche cảm nhận được điều này rất rõ), niềm vui hoàn toàn không có gì giống với sự vui vẻ có phần hời hợt và thông tục của Schumann. Nó là niềm hạnh phúc có chút gì đó của Mozart, nhưng nhân tính hơn, tự tại thiên nhiên và hóa thân vào phong cảnh như cái mỉm cười từ cảnh bên suối trong Giao hưởng Đồng Quê của Beethoven. Tôi không cho rằng trước Debussy và một số nhạc sỹ Nga, âm nhạc đã từng thấm nhuần cuộc chơi của ánh sáng, tiếng nước chảy, tiếng gió, lá cây. Ông ghi sfogato. Đã có nhạc sỹ nào khác dùng từ này chưa, hay từng có ý định ấy, từng thấy cần biểu lộ bầu không khí, biểu lộ làn gió đang thổi đến và ngắt đi nhịp điệu, bất ngờ làm tươi mới và ngát hương ngay giữa khúc barcarole, hay chưa?

Những đề xuất âm nhạc của Chopin mới đơn giản làm sao! Ở đây, không thể so sánh với bất cứ nhạc sỹ nào trước ông. Họ (ngoại trừ Bach) giống các thi sĩ xuất phát từ cảm xúc, rồi sau đó tìm từ ngữ để thể hiện nó. Hoàn toàn ngược lại, giống như Valery xuất phát từ câu, từ – Chopin, như một nghệ sỹ tuyệt vời, xuất phát từ các nốt nhạc (điều này càng khiến người ta nói „Chopin ứng tác”), nhưng nhiều hơn Valery, ông cho phép cảm xúc con người làm chủ hoàn toàn và ngay lập tức những âm sắc đơn giản ấy rồi khai triển nó đến bến huy hoàng.

Thật vậy, Chopin - và đây là điều cốt yếu – cho phép các nốt nhạc dẫn dắt mình và cho phép chúng cho ý kiến lẫn nhau. Ông cân nhắc sức mạnh biểu cảm của từng nốt nhạc. Ông cảm nhận được nốt nhạc này hay nốt nhạc kia biến đổi ý nghĩa theo vị trí của mình trong gam và bằng cách bất ngờ thay đổi bè trầm, đột nhiên ông khiến chúng nói lên điều gì đó khác với những gì chúng nói ban đầu. Sức mạnh biểu đạt của Chopin nằm ở đó.


Thú thực tôi cũng không hiểu rõ tên gọi mà Chopin thích đặt cho các tác phẩm ngắn của mình – Prelude (khúc dạo đầu). Khúc dạo đầu cho cái gì? Chúng dẫn vào đâu? Sau mỗi prelude của Bach là đến tẩu pháp (fugue), chúng cùng nhau tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh. Tôi hoàn toàn không hình dung nổi tiếp sau prelude của Chopin là một bản nhạc cùng giọng, ngay cả khi của cùng tác giả, và cũng không hình dung được các prelude được chơi kế tiếp nhau. Mỗi prelude là một khúc dạo đầu vào suy tưởng và chúng không phải là các bản nhạc hòa tấu. Không ở đâu Chopin tỏ ra riêng tư hơn thế. Mỗi prelude, hay gần như mỗi prelude (mà một số là siêu ngắn) tạo ra một bầu không khí đặc biệt và dựng nên một phối cảnh của cảm xúc, rồi sau đó

biến mất như cánh chim chìm xuống. Tất cả im tiếng.


Không phải tất cả các prelude đều quan trọng như nhau. Một số bản đầy quyến rũ, các bản khác lại kinh khủng. Trong số chúng, không có những bản làng nhàng vô thưởng vô phạt.

Trong tất cả các bản nhạc của Chopin, Prelude đầu tiên (op. 28 no.1) là một trong những tác phẩm dễ bị làm hỏng nhất, và theo tôi, bị diễn giải sai lệch khủng khiếp nhất. Được ủy nhiệm agitato ghi ở đầu bản nhạc, hết thảy những người trình tấu (ít nhất là theo tôi biết) đều nộp mình cho các cử động điên cuồng và hỗn loạn. Tôi xin hỏi các bạn: liệu có thể chăng, ở ngay ngưỡng cửa của loạt tác phẩm này, trong một giọng giản dị và trong sáng nhất, Chopin lại muốn có những biểu lộ đầy bất an như thế? Các bạn hãy nghĩ đến bản Etiude op.10 đầu tiên vui tươi trong sáng xiết bao, cũng được viết ở giọng Đô trưởng. Hãy nghĩ đến hai prelude giọng Đô trưởng của Das Wohltemperierte Klavier. Tinh khiết làm sao, nhẹ nhàng làm sao, mời gọi an ủi xoa dịu một cách hiển nhiên. Hãy nghĩ đến các prelude cho đàn organ của Bach, cũng ở giọng này, nghĩ về tính chất lời mở đầu đặc biệt của chúng. Tôi hoàn toàn không có ý định liên tưởng giữa Prelude này của Chopin với các prelude của Bach. Nhưng tôi muốn thấy trong tác phẩm mở đầu tập nhạc này một mái cong cổng chào đơn giản, một lời khuyến khích gọi mời. Cũng giống như prelude đầu tiên trong Das Wohltemperierte Klaver của Bach thoạt tiên dâng hiến cho chúng ta một dòng nhạc rất trong, sau nhịp thở thứ nhất mới tiếp tục khai triển. Sự gấp gáp mạnh mẽ ban đầu cuốn lại thành một vòng tròn hoàn hảo – bốn nhịp ở Bach và tám nhịp ở Chopin, rồi sau đó trở về điểm xuất phát và lại một lần nữa phất cao cành cọ chiến thắng, mặc dù ngay lúc khởi đầu nó hầu như không cho thấy khả năng đó. Người trình diễn ra sức biến bản nhạc nạn nhân này thành một thứ hỗn loạn, điều đó khiến tôi khiếp đảm. Hoàn toàn ngược lại, tác phẩm này phải được chơi một cách thoải mái, không nên tạo ra cảm giác của bất kỳ sự căng thẳng đầu óc hay gắng sức nào. Không được làm mất đi giai điệu ý nhị kín đáo của phần trên dành cho hai ngón tay sau cùng, vốn chỉ lặp lại đồng âm giai điệu của phần giữa mà Chopin đã xác định trước là „kiềm chế” (một chỉ dẫn thường không được thực hiện, mặc dù là một trong những chỉ dẫn quan trọng nhất). Thật vậy, trái ngược với agitato khi chơi bị đẩy đến mức bão tố, toàn bộ bản nhạc này giống như ngọn sóng êm dịu xinh đẹp dẫn theo một ngọn sóng khác nhỏ hơn mà sức mạnh của nó nằm ở những chuyển động mềm mại của nước.



(còn tiếp)

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối

Tuesday, 18 October 2011

Bất khả tự vệ nơi vô tận hoang vu



Moses Isegawa (*)

Thái Linh dịch


Ryszard Kapuściński giống như con mèo chín mạng trong ngạn ngữ. Chúng ta có thể xem mình là những người may mắn, bởi Kapuściński đã miêu tả câu chuyện đời ông trong "Gỗ mun", một cuốn sách phi thường – sâu sắc, uyên áo, đầy ắp những sự kiện lịch sử, những cuộc phiêu lưu, đầy hóm hỉnh và những "Kapuściński luận" điển hình, khiến cho ngay cả một đầu óc không lấy gì làm thông minh cũng học được những điều cơ bản của lịch sử châu Phi theo cách của Kapuściński.

Kapuściński không phải là nhà du hành đầu tiên chứng kiến nhiều cuộc đảo chính, cách mạng và chiến tranh, khi tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Nhưng rất ít người có khả năng kể về điều đó một cách sâu sắc, đẹp và đầy cảm thông đến thế. Châu Phi may mắn vì đã mở cánh cửa cho con người này, vừa hành hạ ông bằng bệnh sốt rét và lao phổi, nhưng đồng thời cũng vừa trao cho ông vô số bí mật của mình. Châu Âu cũng may mắn vì đã dễ dàng đến được với kho báu của ngòi bút Kapuściński, bởi ông thấm vào vào tâm hồn người đọc như một vị phù thủy. Trong số rất nhiều cuốn sách xuất bản năm nay, không mấy cuốn có thể sánh được với viên ngọc trai này, cuốn sách vượt ra ngoài giới hạn về thể loại của mình.

Những gì Kapuściński sáng tác càng đáng khâm phục bội phần khi chúng ta ý thức được rằng mọi nhà văn khi đã gần thất thập đều giống như một con thú cô đơn, một con trâu lìa bầy, sợ hãi tương lai, bị bóng ma của tử thần đang đến gần vây bủa, bị hành hạ vì những nuối tiếc một thời vàng son đã qua. Sách của các nhà văn như thế thường thiếu sức sống, chúng u ám và èo uột như bờ miệng của một ông già bất đắc chí tẻ ngắt. Vậy mà Kapuściński viết như thể còn cả cuộc đời phía trước – smiling all the way to the bank. Ông thực sự tin rằng mình có thể thay đổi thế giới, rằng ông có thể "mê hoặc" mọi người, rằng ông có khả năng trao cho họ chiếc chìa khóa để mở ra các châu lục mà cho đến giờ với họ vẫn là bất khả thâm nhập.

Có thể so sánh ông với Ngugi wa Thiong'o về tâm huyết và lòng nhiệt thành mang tính sứ mạng, nhưng văn phong của ông nên thơ và vững chãi như văn phong Ben Orki. Giọng ông vang lên bên tai ta thật thân quen, ngay cả khi ta chưa từng đọc bất cứ tác phẩm nào của ông trước đó, và chúng ta tự hỏi: "Mình đã biết điều này từ đâu nhỉ?" Có thể gió đã mang lời ông đến cho ta, bởi ông không ưa trình bày các sự kiện khô khan, cũng không phải là một do thám viên đi tìm kiếm những nơi đáng cho bạn đọc đến nghỉ hè. Ông là vị phù thủy biết biến vài sự kiện được lựa chọn kỹ lưỡng thành vàng ròng lấp lánh. Các sự kiện chỉ là thứ phân bón để ông vun trồng sự thông hiểu cho hành tinh muôn mảnh vỡ của chúng ta, hành tinh với hàng nghìn lớp chồng chất khác nhau, nơi với đa số mọi người thực tại kết thúc nơi bậc cửa nhà họ.

Tất cả các tác phẩm lớn đều tạo ta ngôn ngữ riêng của mình thông qua việc đặt vấn đề trong một ánh sáng mới. Desmond Morris đã làm như thế trong cuốn sách tiên phong "Con khỉ trần trụi". Jared Diamond thực hiện điều đó trong "Guns, Germs and Steel". Kapuściński cũng làm thế ở đây. Ông biết rằng với nhiều người lịch sử là rành mạch, được sắp xếp trật tự và cứng nhắc, rằng nó bị giam cầm chung thân trong các cuốn sách của thư viện công cộng. Ở đó có thể lướt qua nó chút xíu, có thể phân tích các cuộc chiến tranh, tìm nguyên nhân, diễn biến, hậu quả và một cái gì đó kiểu "rồi họ sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long".

Trong châu Phi của Kapuściński, lịch sử như một thiên thạch từ trên trời rơi xuống giữa thanh thiên bạch nhật, đột nhiên chế ngự người ta như căn bệnh sốt rét – một cơn ác mộng vô thủy vô chung. Cho dù nguyên nhân chiến tranh nằm ở chế độ nô lệ (như trường hợp cuộc chiến tại Sudan hay xung đột tại Liberia), ở các căng thẳng sắc tộc (như tại Nigeria hay Rwanda), hay ở chủ nghĩa thực dân hoặc chủ nghĩa thực dân mới (như tại nhiều vùng khác của châu Phi), thì chúng đều vươn ra tứ phía như những vòi bạch tuộc, không ngừng thay đổi hình dạng, màu sắc và bộ da, để rốt cuộc các warlord lợi dụng tình hình và đưa toàn bộ vấn đề phức tạp trở thành cuộc chiến vì bát cơm.

Ai có vũ khí, kẻ đó nhận được thức ăn trước tiên, và hắn quyết định ai được xếp hàng tiếp theo, ai bị rớt khỏi hàng. Warlord – con rối của lịch sử – có một lượng dự trữ khá lớn thanh niên và trẻ em bản xứ, những người có thể làm tất cả mọi chuyện vì một nắm thức ăn. Sự dư thừa thanh thiếu niên và nền công nghệ cho phép ngay cả trẻ con cũng có thể sử dụng súng máy đã gây ra nhiều cuộc cách mạng. Trong cái thế giới nơi các sự kiện không được ghi lại, không có nhật ký, nơi tất cả những gì phai nhòa trong ký ức cũng biến mất khỏi thực tại, con bạch tuộc của lịch sử trở thành tất cả và không gì cả, cho đến khi nó rơi vào quên lãng hoặc bị nghiền nát bởi một xung đột mới hay nối tiếp xung đột cũ.

Châu Phi của Kapuściński là trò chơi của các thế lực tự nhiên. Ở đó thiên nhiên ngự trị một cách tàn bạo, dã man và điên cuồng. Mặt trời không mọc, chỉ như mũi tên bắn lên trời, nơi từ đó nó hành hạ những con người chân đất khốn cùng bị giam cầm trong không gian mênh mông. Mưa là cơn hồng thủy quét sạch nhà cửa mùa màng. Những trận hạn hán thiêu cháy tất cả chỉ chừa ra con người và nước.

Kapuściński đã đến các làng quê không có vườn tược, những ngôi làng không có lấy một con chim hay súc vật nào, không một ngọn cỏ nhành hoa, nơi con người chỉ sống để tìm thức ăn và nước uống. Ông đã đến những nơi cái cây làm nên thánh đường, còn các con đường là một nhà mồ vĩ đại. Con người bơ vơ bất khả tự vệ trong những không gian hoang dã vô tận, trong hoang vu khôn cùng, bị bệnh sốt rét, cái nóng và cái đói hành hạ. Đối mặt với sự thiếu thốn nền tảng xã hội cơ bản, một người châu Phi của Kapuściński gắn bó với những người ruột thịt, với tổ tiên, các thần linh và Đấng Tối cao chỉ bằng sợi dây tinh thần.

Trong cuộc sống của Kapuściński, Người Khác, Người Lạ đóng một vai trò quan trọng. Kapuściński truy dấu con đường quanh co mà những kẻ buôn nô lệ đã đi qua. Chúng đã thử cướp đi nhân tính của Người Khác, để nô dịch họ, giết chóc, hủy diệt mà không để mình bị suy suyển tài sản hay sự bình an về tinh thần. Người Khác thường bị ấn định theo sắc tộc, như vậy dễ dàng hơn, bởi không phải viện đến quả cầu thủy tinh để có thể chỉ ra hắn, đổ lên đầu hắn những điều bịa đặt tồi tệ, để hủy diệt và bóc lột. Đôi khi Người Khác mang cùng màu da, nhưng điều đó không có nghĩa anh ta sẽ bị tiêu diệt với ít hằn học hơn.

Từ khái niệm Người Khác nảy sinh một loại chủ nghĩa apartheid đã giam cầm người da trắng trong những khu xa hoa của các thành phố, và người da đen trong bùn, đầm lầy hay những khu nhà lụp xụp khô cằn, thiếu khí. Kapuściński - thường xuyên là người da trắng duy nhất trong một ngôi làng châu Phi, trong các khu ổ chuột hay trong đoàn xe hộ tống trên sa mạc - đấu tranh chống lại việc biến Người Khác thành quỷ dữ. Ông phản đối chủ nghĩa apartheid có mặt ở khắp nơi, ở Dar es Salam hay nơi nào khác. Ông thuê phòng trong khu ổ chuột Nigeria, chữa bệnh ở trạm xá dành cho các cư dân da đen ở Tazania, xếp hàng cạnh phụ nữ và trẻ con để lấy nước.

Ông không quan tâm đến chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi. Ông quan tâm đến chủ nghĩa apartheid ở Liberia, đã có sớm hơn từ trước và đưa Người Khác đến chỗ phi lý. Các nô lệ được giải phóng, khi còn ở Mỹ từng là những Người Khác, ở Liberia đã đảo ngược vai trò: chúng tước quyền công dân của chín mươi chín phần trăm dân chúng, giam họ trong các getto, giết họ trong các cuộc chinh phạt cướp bóc và đến tận sau năm 1920 còn bán họ làm nô lệ. Người ta bị cách ly như trong các tàu du hành vũ trụ. Một trăm mười một năm sau diễn ra cái kết đẫm máu bi thảm của chính thể chuyên chế những nô lệ được giải phóng, nhưng sau đó thiên đường cũng chưa bắt đầu. Một Người Khác mới lại được tạo ra. Kapuściński chỉ ra rằng mỗi người đều có thể trở thành Người Khác, rằng chúng ta sẽ không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn chủ nghĩa apartheid, và rằng cái xấu xuất phát từ chính bên trong – đó là số phận của con khỉ trần trụi.

Sau nhiều năm Kapuściński đi đến kết luận rằng không có châu lục nào phức tạp như châu Phi, nơi việc đổi cái thước loga thành quả cầu thủy tinh và ngược lại diễn ra còn nhanh hơn là một ngôi sao kịp mờ. Dưới những điều thường nhật ẩn giấu các bí mật và cần thận trọng khi đưa ra những kết luận vội vã. Từ ngữ giống như con kỳ đà: "độc lập" mang hàng nghìn bộ mặt khác nhau đối với hàng nghìn người. Và mỗi người đều có lý: có thể nói châu Phi đang hỗn loạn và có thể dễ dàng chỉ ra điều đó. Cũng có thể nói ở châu Phi đang thanh bình – một số vùng thanh bình đến mức mọi người đã quên mất chúng.

Đó là một thế giới bất khả thâm nhập, nơi quân đội bốn trăm nghìn lính được vũ trang bằng mọi vũ khí đạn dược tối tân của Nga bị trao vào tay đám quân du kích chân đất dốt nát, nơi anh công nhân bướng bỉnh người Uganda có thể một mình gây ra cuộc cách mạng kết liễu nền chuyên chế kéo dài nhiều thế kỷ ở Zanzibar.

Không thể tóm tắt châu Phi trong một từ. Nó tồn tại và chỉ tồn tại trong hằng hà sa số các biến thể, mang các gương mặt, hình dạng và tập quán khác nhau. Có thể gọi nó như vậy như một đơn vị địa lý, tựa cách gọi Chúa của người Do Thái và người Cơ đốc, nhưng cũng như Chúa, không cách gì chạm được vào nó. Nó tan ra, thay đổi như con bạch tuộc, khi mà mỗi nhóm người hay vùng đất lớn một chút đều có nền văn hóa khác biệt, đều có thể đem tới điều gì đó lạ thường. Mười nghìn vương quốc, liên bang và lãnh thổ của các bộ lạc bị sát nhập tại hội nghị Berlin tai tiếng (1878) vẫn luôn được nhận diện trong tấm chắp vá của năm mươi quốc gia châu Phi bị phân chia. Ai không chấp nhận điều này mà cứ cố khái quát hóa và suy nghĩ bằng các khuôn mẫu, định kiến, kẻ đó sẽ trắng tay.

Hãy cảnh giác, hỡi các chuyên gia về châu Phi! - cây bút bậc thầy nói. Để có thể thấu được điều gì đó ở đây, cần có một cái kính viễn vọng. Đây là nơi chốn của những người kiên nhẫn, minh triết, làm việc có hệ thống. Ai kiếm tìm những lời giải đáp dễ dãi tốt hơn nên ở lại châu Âu, nơi mọi thứ đều đã được ghi lại. Ở châu Phi nghèo đến mức rác rưởi – những thứ ở nhà hẳn bị vứt ngay không đắn đo – cũng có thể quý hơn vàng. Cái áo, cái bát, cái can đôi khi là cả gia tài. Ở đó, nơi sợi lông gà trống có thể là tấm hộ chiếu để tới thiên đường, bản chất của sự vật luôn bị giấu kín.

Người nào không có sự nhạy cảm đối với kiểu tâm lý này, tốt hơn nên gói gém các tấm bằng của mình và quay về London mù sương. Châu Phi là nơi có sức tưởng tượng tột bậc, nơi cả thành phố được dựng nên không một chiếc đinh, không một viên gạch hay một tấm sắt, nơi người ta biến đi như ma, nơi trên đường ray xe lửa đột nhiên xuất hiện các chủ quầy hàng, nơi cái hố trên đường mời gọi các khả năng đầu tư đưa một xóm nhỏ yên tĩnh vào quỹ đạo của sự phát triển nhanh chóng, nơi các thầy tu như những bác sĩ phẫu thuật tiến hành cuộc cấy ghép nỗi cắn rứt lương tâm của châu Âu vào các giáo dân đang đong đưa hát, nơi các thánh đường được tạc từ đá núi nằm sâu dưới mặt đất, và nơi có những xứ sở ngầm dưới đất.

Mấy mươi năm trước, Kapuściński đã lâm bệnh. Ông cầu xin để không bị trả về Ba Lan. Ông muốn chữa bệnh lao phổi ở Tanzania, trong trạm xá dành cho người da đen. Nhờ bệnh tật, ông đã có thể chiến thắng sự phân biệt chủng tộc. Ông đã không còn là một người da trắng hùng mạnh, một con quỷ từ những cơn ác mộng vẫn ám ảnh người dân da đen, mà là một con vượn người yếu đuối ho ra máu và nháy đựng lên khi bị mũi tiêm đâm vào mông.

Ông đã khám phá tác dụng kỳ diệu của nụ cười, vẻ đẹp của những ngôi làng mọc lên lộn xộn, khám phá những chiếc xe tải kéo, những khu trại cho người cùng khổ. Nhờ thế, từ rất gần, ông làm quen với nỗi sợ hãi mà người châu Phi mang trong mình, có thể thâm nhập sâu vào tâm hồn họ. Ông phẫn nộ với nền độc tài quần chúng, đám ăn cướp, lái buôn nô lệ, hải tặc, những kẻ đầu tiên đặt mối liên hệ với châu Phi. Những kẻ như Stanley, với sự man rợ của chúng, cai trị bằng cướp bóc và dối trá, khiến ông khinh bỉ.

Việc loại người này đã hình thành bức tranh của châu Âu về các dân tộc và nền văn hóa khác khiến ông tràn đầy ghê sợ. Ông gắng sức nhìn kỹ hơn, thấy được nhiều hơn, khám phá điều quần chúng kia không thấy được. Ông khẳng định sự bất khả trong việc miêu tả bằng các ngôn ngữ châu Âu những gì nằm ngoài châu Âu. Vì lẽ đó, ông thấy ghê tởm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và những chứng loạn thần kinh đưa tất cả mọi thứ về màu da.

Ông đã mở cho chúng ta cánh cửa vào cuộc đời, những chuyến du hành và thi ca của ông. Hãy để cho các nhà văn châu Phi và châu Âu phải run rẩy, bởi chỉ một cuốn sách kiệt xuất nào khác mới có thể vượt qua được tác phẩm này về tầm cao. Hỡi các nhà văn, xin đừng trách là tôi đã không báo trước!

(Bài đăng trên NRC Handelsblad, số ra ngày 13.7.2001, bản dịch từ tiếng Hà Lan sang tiếng Ba Lan của Zofia Klimaszewska)

-----
* nhà văn Hà Lan gốc Uganda, có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng.


.

Wednesday, 12 October 2011

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1




Gần đây, có một người bạn tôi nói rằng trước kia bạn không thích Chopin lắm mặc dù cũng hay nghe, nhưng sau khi đến thăm Ba Lan (trong vài ngày ngắn ngủi), bạn mới hiểu Chopin hơn. Điều này có lẽ cũng lý giải cho lòng yêu mến Chopin của tôi, một người đã sống trong không gian này trong suốt hơn hai mươi năm, bầu trời này, mặt đất này. Bạn khiến tôi nhớ đến lời André Gide, người cũng yêu mến Chopin và đã dành cho ông nhiều thời gian hơn bất cứ nhạc sỹ nào khác, được ghi trong một cuốn sách nhỏ tôi đọc đã lâu: "Bởi một định mệnh lạ lùng nào đó, không tái diễn với bất kỳ ai khác, Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông". Có lẽ phải thêm vào như thế này: "Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông mà chưa đến Ba Lan":)
(Và chợt nhớ cái chạnh lòng khi đọc một câu nhỏ Claude Lévi-Strauss nhắc đến Chopin, hình như trong "Nhiệt đới buồn").

Cuốn sách được viết từ những năm 30, với những nhận xét tinh tế, nhiều khi bất ngờ, đến giờ vẫn đầy thuyết phục và không lạc hậu ấy, chính là "Những ghi chép về Chopin".

Tôi sẽ tranh thủ thời gian dịch cuốn sách này, như một sự chia sẻ với bè bạn và lưu giữ ở đây. Về dịch thuật, chắc chắn không tránh khỏi sai sót, nhất là về từ ngữ trong âm nhạc là lãnh vực mà tôi không chuyên, mong được mọi người thông cảm và góp ý.

Thái Linh

***


Tôi dự định cho ra đời „Những ghi chép về Chopin” của mình từ năm 1892. Từ đó, gần bốn mươi năm đã trôi qua. Đúng ra khi ấy tôi định sẽ viết „Những ghi chép về Schumann và Chopin”. Ngày hôm nay, việc so sánh hai tên tuổi này khơi lên trong tôi sự khó chịu như Nietzsche đã cảm thấy khi so sánh „Goethe và Schiller”. Thời ấy tôi ngỡ có thể nói nhiều về Schumann, nhưng rốt cuộc càng ngày tôi càng cảm thấy ông ít quan trọng hơn.

Schumann là nhà thơ. Chopin là nghệ sỹ, điều hoàn toàn khác biệt, nhưng tôi sẽ lý giải sau.

Bởi một định mệnh lạ lùng nào đó, không tái diễn với bất kỳ ai khác, Chopin càng vuột đi khi càng có nhiều người ra sức tìm hiểu ông. Người ta có thể chơi Bach, Scarlatti, Beethoven, Schumann, Liszt hay Faure với ít hay nhiều thành công hơn. Không thể xuyên tạc ý nghĩa những bản nhạc của họ khi hơi sai nhịp. Chỉ có thể phản bội Chopin, một cách sâu sắc, tại tâm và hoàn toàn tự nhiên.

Các bạn đã bao giờ từng nghe một diễn viên xướng Baudlaire như thể đó là Casimir Delavigne hay chưa? Người ta chơi Chopin như thể đó là Liszt. Họ không hiểu được sự khác biệt. Và như thế, Liszt đã được tôn lên cao hơn. Người trình diễn có thể bắt được điều gì đó và say sưa điều gì đó. Nhờ anh ta, có thể hợp nhất với Liszt. Chopin thì hoàn toàn vuột khỏi anh ta và điều đó tinh tế đến mức thính giả thậm chí còn chẳng đoán ra.

Tương truyền Chopin khi ngồi xuống trước dương cầm luôn gây ấn tượng rằng ông đang ứng tác. Hồ như ông đang không ngừng tìm kiếm, sáng tác, dần dần khám phá tư tưởng của chính mình. Sự phân vân đầy quyến rũ ấy giờ đây đã là bất khả, khi bản nhạc được trình tấu không phải trong từng bước hình thành, mà đã như một tổng thể hoàn hảo, khách quan và khép kín. Tôi không thấy ý nghĩa nào khác trong các nhan đề Chopin đặt cho vài trong số những bản nhạc trang nhã nhất của ông: Impromptus. Không thể cho rằng Chopin ứng tác với nghĩa đen của từ này. Không. Nhưng quan trọng là chúng phải được chơi theo cách mang lại ấn tượng như thế, nghĩa là với một sự thiếu khẳng quyết nào đó – tôi không dám nói là với sự uể oải – nhưng dẫu sao cũng là thiếu cái khẳng quyết mang theo những nhịp nhanh. Đó là cuộc diễu hành của những khám phá, và người chơi không nên khơi khơi khiến mọi người hiểu rằng anh ta biết trước những điều mình sẽ nói, rằng mọi điều đã được xuống bút viết sẵn rồi. Tôi thích những khi một đoạn nhạc đang dần hình thành dưới nhưng ngón tay của người chơi tưởng như rời khỏi anh ta, khiến chính anh ta phải ngạc nhiên và mời chúng ta đến với niềm vui thích của mình. Thưa dương cầm thủ, anh muốn tôi phải trải nghiệm cảm xúc gì ngay cả trong một bản nhạc táo bạo như Etude op. 25 no 11 cung La thứ mãnh liệt và bão táp, nếu chính anh chẳng trải nghiệm một cảm xúc nào hết và cũng không khiến tôi cảm thấy anh đang trải nghiệm khi bất thần bước vào La giáng trưởng, ngay sau đó là Mi trưởng tựa tia nắng mặt trời đột nhiên kết thúc bão táp mưa sa, nếu bằng sự khẳng quyết của mình anh khiến tôi hiểu rằng anh biết trước điều đó, rằng rất cả đều đã được chuẩn bị sẵn? Mỗi sự chuyển điệu trong âm nhạc Chopin, không bao giờ nhàm chán và luôn luôn bất ngờ, đều phải ẩn chứa và giữ gìn cái tinh khôi ấy, thậm chí là cảm xúc e sợ đồng hành với điều mới mẻ kinh ngạc, với niềm bí ẩn của sự quyến rũ sét đánh, nơi tâm hồn được đặt trước những con đường chưa vết chân qua, nơi từ đó bức tranh phong cảnh sẽ dần hé lộ.

Bởi vậy, hầu như khi nào tôi cũng thích âm nhạc của Chopin nói với chúng ta bằng giọng khe khẽ, gần như thì thầm, không bùng nổ (tất nhiên ngoại trừ một vài tác phẩm, chủ yếu các bản scherzo và polonez), thiếu vắng sự khẳng quyết khó ưa của người biểu diễn, cái sự khẳng quyết sẽ cướp đi nét quyến rũ dễ thương. Những người từng được nghe Chopin đàn kể rằng ông đã chơi như thế. Dường như ông luôn luôn không đi hết tiếng đàn. Tôi muốn nói rằng ông hầu không bao giờ để cây đàn chắt ra âm thanh tròn đầy, do đó thính giả của ông thường cảm thấy thất vọng, họ nghĩ „mình không trả tiền để nghe như thế”.

Chopin đề nghị, giả thiết, gợi ý, thuyết phục; hầu như không bao giờ khẳng quyết.

Còn chúng ta, chúng ta càng chăm chú lắng nghe tư tưởng của ông, nó càng vuột mất. Tôi liên tưởng đến „sắc thái xưng tội” mà Laforgue đã ca ngợi ở Baudelaire.

Ai chỉ biết đến Chopin qua những người biểu diễn quá điêu luyện có thể xem ông như người cung cấp các bản nhạc chói sáng và hiệu quả mà có lẽ tôi sẽ chẳng thể chịu đựng nổi nếu chính tôi không đến được với ông sâu hơn, nếu ông đã không biết nói thầm với tôi: „Đừng nghe họ. Vì họ mà anh không còn có thể nói được điều gì nữa. Những gì mà họ đã gây ra còn khiến tôi đau khổ hơn anh. Tôi thà là một kẻ vô danh còn hơn bị nhìn nhận như người không phải là tôi.”

Tôi cảm thấy nực cười với những thính giả ngây ngất trước một số người chơi Chopin nổi tiếng. Có điều gì đáng thích thú trong cách chơi của họ? Chỉ còn lại những gì phổ biến và thế tục. Không còn gì nữa, như tiếng chim hót của Rimbaud, „lẽ ra phải bắt ngắt đi và điểm thêm một cái đỏ mặt”.

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối

Thursday, 29 September 2011

Natalie



Ryszard Rynkowski

Lời Việt: Thái Linh


Từ chuyến đi mất dấu quay về
Lạnh cắt da cơn gió đông thì
Là con giúp cho cha, vượt qua những đọa đày, con
mòn ngóng trông cha trước hiên nhà,
và thế giới bé xinh trong mắt hiền hòa
là an phúc cho cha, là nỗi hi vọng, Natalie

Oh Natalie
Là tương lai con thế giới xanh hơn, tháng năm vui hơn
Oh Natalie
Thời gian cho con, nơi ấy riêng con, Natalie
Oh Natalie
Rồi đây con học cho biết sống, Natalie
Oh Natalie
Rồi đường riêng con đi theo ý muốn, Natalie
Và khi con lau giọt lệ đầu
Tựa giờ đây, cha luôn bên con, Natalie

Ngày mai đây con lớn khôn rồi
Tựa cánh chim bay vút phương trời
Ngày cha sẽ nín lặng, tuyệt không nói một lời.
Bạn hữu ra đi, khuất cuối con đường
Ngọn gió phiêu linh tan tác lá vàng
Mùa thu quá dãi dằng, trong nắng cháy bùng, Natalie

Rồi bỗng nhiên con sẽ quay về
Một sớm tinh mơ sương nắng chan hòa
Nhẹ tay gõ khẽ khàng, và con bước vào nhà, con
lặng lẽ nhìn cha không nói nên lời.
Ngày ấy con ơi, cha đã biết rồi
Tình yêu với chia xa, nhẹ như bóng mây qua, Natalie.

Oh Natalie
Là tương lai con thế giới xanh hơn, tháng năm vui hơn
Oh Natalie
Thời gian cho con, nơi ấy riêng con, Natalie
Oh Natalie
Rồi đây con học cho biết sống, Natalie
Oh Natalie
Rồi đường riêng con đi theo ý muốn, Natalie
Và khi con lau giọt lệ đầu
Tựa giờ đây, cha luôn bên con, Natalie

Natalie

Natalie

Natalie

Natalie...

Monday, 26 September 2011

Khát vọng tình yêu


Ca khúc Wojciech Młynarski viết dựa theo bản Waltz No 19 in A Minor của F. Chopin

Lời Việt: Thái Linh

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Mộng lành như ánh sao vút trên trời xa
Nguyện tình nồng trong tim ta đó
Xóa nhòa đi những tháng ngày buồn

Vệt lệ nào nhòe trên trang giấy
Và niềm khao khát đắm say trong tim bừng lên
Để một lần xin yêu dấu
Tơ hồng vương bước đường trần

Này đây trong gió loang khi ban mai vừa chớm sang
Liễu ru hồn rì rào, khúc ca nào riêng mình
Này đây đêm đảo xa trong chiếc áo choàng thẫm đen
Nỗi buồn vẫn một gương mặt quen

Ngày trần gian không muốn ban cho ta tình ước ao
Tim muôn phần dạt dào, ta vẫn càng khát khao
Đồng nho xanh lai láng nơi bao nốt nhạc vút cao
Xin dâng một phút nồng say

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Hỏi lòng ta ôi mãi vẫn riêng mình ta
Trần gian ơi sao xa xôi quá
Đâu rồi yêu dấu trong đời?

Giọt lệ nào mặn nơi khóe môi
Và niềm đau xót xa trong tim mù khơi
Chẳng màng chi bao danh tiếng
Bởi vì đâu? Vì đâu ai hỡi?

Dù ở nơi đây hay phương ấy
Mộng lành như ánh sao vút trên trời xa
Nguyện tình nồng trong tim ta đó
Xóa nhòa đi những tháng ngày buồn

Nhịp tim như chim xanh vỗ cánh
Mãi còn khao khát nồng nàn
Và dấu yêu luyến thương cho đôi lòng còn vương vấn

Trong tim này luôn mãi hoài mong

Bởi vì đâu? Ai hỡi vì đâu?

...

Thursday, 22 September 2011

Vì Roma là vô tận, vô cùng



Đúng một tháng tròn sau chuyến đi Roma. Trong suốt một tháng ấy, giữa ngồn ngộn công việc, trong thực tại Warszawa dịu mát và ẩm ướt, hành trình Roma vẫn lặng lẽ tiếp diễn trong tôi, thực tại Roma vẫn âm thầm hiện hữu, những vòng sóng dư âm vẫn lan tỏa, ánh lên nét sáng từ những bức ảnh, những trang sách mà tôi đã đọc, đã chụp, đã xem và vẫn còn mãi trở đi trở lại với chúng. Tôi nghĩ rằng có lẽ phải lâu, lâu lắm nữa tôi mới đủ sức viết chút gì đó về Roma, khi mọi ấn tượng và cảm xúc không còn lộn xộn và bề bộn nữa, khi Roma đã ngấm đủ vào tôi.

Nhưng rồi hôm nay, trước một chuyến đi xa, tôi phải vội vàng ghi lại nhưng gì vẫn còn rất ngổn ngang và mơ hồ, vì tôi sợ mình sẽ chẳng còn thời gian nữa.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi đến Roma, nhưng lại như lần đầu, bởi vì những lần trước tôi đến khi còn quá trẻ, như một khách du lịch vô tâm và „hạnh phúc”, cái hạnh phúc mà Goethe đã ghen tị đến thế với những du khách chớp nhoáng của Roma, chỉ cần đến, nhìn thấy nó, rồi vui vẻ ra đi, và thế là đủ. Nhưng đó không phải là cái hạnh phúc của một người thực sự du hành, một người vừa „học lại từ đầu cách nhìn và làm quen với mọi thứ đúng như nó là thế”, vừa biết về nơi ấy như từ tiền kiếp, hiểu rõ từng nơi chốn và yêu nó tới mức mỗi giây mỗi phút đều quí giá, đều là nhắc nhở đau đớn về lúc chia xa. Goethe nói ai đã từng biết rõ về nước Ý, nhất là Roma, người ấy sẽ không bao giờ còn là một con người hoàn toàn bất hạnh. Không sai. Nhưng tôi nghĩ ai đã từng biết rõ Roma rồi rời xa nó, người ấy sẽ không bao giờ còn là một con người hoàn toàn hạnh phúc.

Khách du lịch và người nước ngoài, từ bao nhiêu thế kỷ nay, đã luôn là một phần của Roma, đến nỗi khó lòng hình dung ra một Roma thiếu họ. Từ những trang viết của Montaigne, Stendhal, Goethe, qua Muratov hay Antoine Ampere, đều là „c'est une ville rapiécée d'étrangers”. Giờ đây, trong thời đại xê dịch này, Roma càng nhiều du khách nước ngoài hơn bao giờ hết. Nhưng có lẽ không mấy ai yêu Roma từ cái nhìn đầu tiên. Ấn tượng ban đầu của nhiều người khi đến Roma là sự thất vọng. Vì điều gì không rõ. Có thể vì sự lộn xộn vĩnh hằng của nó, từ hàng nghìn năm. Có thể vì chính đám đông người nước ngoài này. Cũng có thể vì người dân Roma (mà Goethe gọi là những đứa trẻ được nuông chiều) có vẻ (chỉ có vẻ thôi) không mấy hiếu khách. Nhưng sớm hay muộn, du khách cũng sẽ bị Roma quyến rũ. Dần dần, nhẹ nhàng, nhưng Roma không ngừng khuấy động tâm hồn họ, lấp đầy nó, thấm sâu vào nó, để rồi cuối cùng ở lại mãi đó, cho đến hết cuộc đời.


Thật khó xác định rõ ràng điều gì đã khiến Roma quyến rũ đến thế, cái cảm thức Roma ấy hình thành từ những điều đơn giản và nhỏ nhặt nhất, từ mỗi bước chân, mỗi buổi sáng, mỗi góc phố, mỗi đường cong, mỗi viên gạch, mỗi mái vòm, mỗi hàng cột, mỗi di tích, mỗi hòn đá, mỗi ánh đèn, mỗi tia nước mát lành từ vòi phun, mỗi tiếng lao xao quán xá về đêm, mỗi làn gió biển, từ những hình ảnh và ấn tượng vụt thoáng qua giây lát, để rồi đến một lúc nào đó, ta chợt giật mình nhận ra mình đã thấm đẫm Roma tự bao giờ.

Đến Roma lần này, dường như tôi cùng một lúc du hành nhiều chuyến khác nhau. Vừa là chuyến du hành về quá khứ, gặp lại mình và Roma của mười lăm năm trước. Vừa là chuyến du hành với R. Kapuściński, bởi Roma là thành phố đầu tiên ông đặt chân tới khi ra nước ngoài, cũng là thành phố cuối cùng ông đến trước khi tạm biệt thế giới này, và giữa hai lần đến Roma ấy, trong suốt quãng đời đầy di chuyển của mình, ông đã đến Roma rất nhiều lần. Thành phố này đã yêu ông và đã được ông yêu biết bao nhiêu. Vừa là chuyến du hành với những trang sách mà tôi hằng yêu thích: Những cuộc đời song hành, Quo Vadis, Du hành Ý đại lợi, Những bức tranh nước Ý – Roma... với Plutarch, Sienkiewicz, Goethe, Muratov, hay đâu đó là Byron, Montaigne, Stendhal, Ampère... Và tất nhiên, là chuyến du hành với lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật. Những chuyến du hành ấy vừa song song, vừa đan xen lẫn nhau, với những diễn biến và tác động không ngừng đến mọi giác quan, khiến cho tôi chồng chất bao cảm xúc, có lúc tưởng như cái đầu muốn nứt ra (theo cách nói của con gái tôi). Trong cái nhịp điệu chậm rãi của Roma, nơi thời gian có thể ngừng lại ở bất cứ đâu, là một dòng thác lũ của lịch sử, của các sự kiện, các kiệt tác, những kho báu, ào ào cuồn cuộn tuôn chảy trong vẻ ngoài im lìm bình thản. Tôi luôn có cảm giác sợ mình không biết mà bỏ qua một cái gì đó quí giá trên mỗi bước chân. Cảm giác mình quá nhỏ bé trong dại dương Roma vừa sâu vừa rộng này, càng đi, càng bơi, thì chỉ càng thấy thăm thẳm mênh mông. Và không chỉ là cảm giác. Thực tế, tôi đã bỏ qua rất nhiều điều, vì không biết, vì không có thời gian.

Thật ra ban đầu tôi không có ý định „tham quan” Roma, tôi ngỡ mình đã biết về nó. Đúng là tôi đã „biết” tất cả các di tích quan trọng của nó. Nhưng khi đến Roma rồi, tôi lại không thể cưỡng lại được việc đi dạo lang thang, và những chuyến du hành kia rất tự nhiên bất ngờ ập đến. Lúc đó tôi mới chợt nhận ra mười lăm năm qua tôi đã thay đổi đến thế nào. Mười lăm năm trước tôi đã nhìn rất nhiều mà chẳng thấy, hay đúng ra là trong lúc đó, tôi gần như chỉ nhìn thấy người bạn đồng hành của mình mà thôi, và những gì gắn liền với người ấy. Tôi cũng xúc động vì sự cổ kính của Roma, nhưng đó chỉ là một cảm giác xúc động nhẹ nhàng. Còn giờ đây, tôi bàng hoàng nhận ra mình đã biết ít về Roma biết bao nhiêu. Vẫn những di tích ấy, những công trình ấy, những cảnh vật ấy, nhưng bên trong đó là những câu chuyện trùng trùng điệp điệp, là những vẻ đẹp bây giờ tôi mới thấy được, là những giá trị bây giờ tôi mới nhận ra. Nhưng trước hết, đó là sự „thấy mình”. Bởi chắc hẳn mười lăm năm sau, nếu có quay lại đây, tôi cũng sẽ „bàng hoàng nhận ra mình đã biết ít về Roma biết bao nhiêu”. Vì Roma là vô tận vô cùng.


Vì những chuyến đi thực ra không phải để nhìn, mà là để thấy. Không phải thấy ngoại giới, mà là thấy chính mình. Để tìm thấy mình, trong cuộc tìm kiếm không ngừng, u buồn và miên viễn.

(8.9.2011)


Monday, 19 September 2011

Chiếc chìa khóa (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Chìa khóa từng ở đây, bỗng nhiên không còn nữa
Ta phải làm sao mở cửa vào nhà?
Chìa khóa mất rồi chắc ai đó sẽ tìm ra,
và ngắm nghía – anh ta cần gì nó?
rồi bước tiếp, tiện tay vứt bỏ
như quẳng đi miếng sắt vụn vô tình.

Nếu với tình yêu em dành cho anh
điều tương tự cũng xảy ra như vậy,
thì không chỉ chúng mình, mà toàn thế giới
sẽ hư hao mất một tình yêu.
Trên bàn tay xa lạ nhặt lên
tình yêu không mở ra căn nhà nào hết,
nó sẽ chỉ là một khuôn hình, không hơn không kém.
Xin những rỉ hoen phù hộ nó trên đời.

Quẻ bói này được lập người ơi
không dựa vào tiếng công kêu, các quân bài hay những vì tinh tú.


Wednesday, 14 September 2011

Lòng hận thù (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Hãy nhìn xem, trong thế kỷ chúng ta
lòng hận thù vẫn đầy hiệu quả,
vẫn đường đường phong độ làm sao.
Nó nhẹ nhàng vượt qua những rào cao.
Thật dễ dàng - nó nhảy ra, xộc đến.

Lòng hận thù không như bao tình cảm khác.
Nó vừa cũ vừa mới hơn chúng, đồng thời.
Tự nó đẻ ra nguyên nhân hồi sinh nó trên đời.
Nếu nó có thiếp đi,
thì cũng không bao giờ vĩnh viễn.
Chứng mất ngủ không khiến lòng hận thù cạn kiệt,
mà chỉ tiếp sức thêm.

Tôn giáo này hay tôn giáo kia -
miễn sao được quỳ xuống vạch xuất phát.
Tổ quốc này hay tổ quốc khác -
miễn sao được chạy bứt lên.
Công bằng và không tệ lúc đầu tiên.
Rồi nó tự thúc mình phải chạy.
Lòng thù hận. Lòng thù hận.
Khuôn mặt nó nhàu nhò nhăn nhúm
bởi say cuồng mê ngất của tình yêu.

Còn những tình cảm khác, ôi dào,
lờ mờ và ốm yếu.
Từ khi nào tình anh em bằng hữu
trông cậy được vào đám đông?
Có bao giờ, có bao giờ không,
lòng cảm thông được về đích trước?
Bao nhiêu người nỗi nghi ngờ lôi kéo được?
Chỉ lòng hận thù biết khích động mà thôi.

Nhanh trí, giỏi giang, cần mẫn tuyệt vời.
Lòng hận thù đã viết nên bao khúc ca, chẳng cần phải nói.
Bao trang sử nó đã từng đánh số.
Nó đã trải ra bao tấm thảm người
trên bao nhiêu quảng trường và sân chơi.

Chúng ta đừng nói dối, bạn ơi:
lòng hận thù có thể tạo ra cái đẹp.
Những quầng lửa của nó trong đêm đen vô cùng diễm tuyệt.
Trong ban mai hồng tươi những cuộn khói diệu vời.
Trước điêu tàn khó cưỡng nổi sầu lơi
nỗi cảm động và tâm tình bi lụy,
khó cưỡng nổi lòng hận thù trỗi lên mạnh mẽ
lớp lớp hàng hàng.

Về tương phản, nó là quán quân
giữa rú gầm và im lặng
giữa máu đỏ và màu tuyết trắng.
Nhưng hơn hết, nó chẳng bao giờ chán
với chủ đề tên đao phủ tinh tươm
trước nạn nhân ô uế, điếm đàng.

Với nhiệm vụ mới giao, nó luôn rất sẵn sàng.
Nếu phải đợi, lòng hận thù sẽ đợi.
Người ta bảo lòng hận thù mù quáng.
Mù quáng ư? Mắt xạ thủ tinh anh
và nhìn về tương lai táo bạo, kiên gan -
chẳng ai ngoài nó.


Sunday, 11 September 2011

Bức ảnh ngày 11 tháng 9 (Wisława Szymborska)

(ảnh lấy từ internet)



Họ nhảy xuống từ những tầng nhà cháy
- một, hai, rồi thêm vài người
dưới thấp, trên cao.

Bức ảnh đã giữ họ sống
và giờ đây giữ họ
trên mặt đất hướng về mặt đất.

Mỗi người vẫn còn vẹn nguyên
với khuôn mặt riêng
với máu còn ẩn kín.

Vẫn đủ thời gian
cho tóc xõa tung,
và chìa khóa, tiền xu
rơi ra khỏi túi.

Họ vẫn luôn còn trong tầm tay với
của không trung,
trong phạm vi những nơi
vừa mới mở.

Chỉ hai điều tôi có thể làm cho họ:
Miêu tả chuyến bay này
và không thêm câu cuối vào đây.


Thái Linh dịch