Saturday, 9 February 2013

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần cuối



(Thái Linh dịch)


Prelude Rê thứ (prelude cuối cùng của opus 28) cũng chịu một số phận vô cùng hẩm hiu. Dấu nối legato nối các nốt nhạc cách xa nhau đến chóng mặt. Ở đây cũng vậy, trong phần giai điệu không hề có bất cứ sự tinh tế nào, thay vào đó là phản chiếu của sự bất khả kháng mà bè trầm thô bạo nhấn mạnh một cách gớm guốc. Phần giữa hợp âm rải của bè trầm chủ đạo trong chín nhịp đầu tiên ban đầu được đánh dấu là ngân, nghĩa là được đánh dấu đồng thời ở nốt móc hai và nốt đen. Nốt đen ngừng xuất hiện từ nhịp thứ mười.

Tôi những muốn biết chỉ dẫn này (và sau đó là việc bỏ nó đi) có xuất phát từ Chopin hay không. Tôi cho rằng sẽ thú vị nếu trở lại với nó ở những chỗ khác nhau trong bản nhạc, nghĩa là xem nốt thứ hai như nốt ngân. Một số bản in chỉ dẫn chơi staccato nốt cao của giọng thứ hai, nốt thứ năm trong mỗi nhóm, hay ít ra là chơi portato. Điều này có thể thực hiện được. Ôi, bao giờ chúng ta mới có được những bản in nhạc Chopin chuẩn, theo đúng những bản chép tay của ông? Tôi đã được nghe vài lần prelude này – gấp gáp như thường lệ, khi nhóm năm nốt nhạc lặp đi lặp lại bị rút xuống thành một thứ tiếng rì rầm nhộn nhạo – người chơi dường như e ngại sự đơn điệu, sợ cái sự xấu xí chủ tâm, chỉ còn duy nhất cách nhấn mạnh một cách nhẫn tâm nhịp điệu của năm nốt ấy bằng một nhịp khác, cũng tàn nhẫn, nhấn bằng nốt trầm thấp nhất (thường là âm chủ), lặp lại như nhát búa gõ nhịp hoàn hảo, chia nhịp sáu này ra làm bốn, nghĩa là tạo ra nhịp thứ hai hoàn toàn không phụ thuộc gì vào nhịp thứ nhất.



Tôi vốn phản đối cực lực ý kiến phổ biến về nỗi u sầu hoài nhớ trong nhạc Chopin, trong thứ âm nhạc mà tôi không biết bao lần đã bắt gặp biểu hiện của niềm vui cao nhã tuyệt vời nhất. Nhưng trong hai prelude này tôi chỉ tìm thấy nỗi tuyệt vọng đen tối nhất. Đúng vậy, sự tuyệt vọng, từ „u sầu” ở đây không có nghĩa lý gì, đó là cảm xúc bất khả kháng, hai lần bị ngắt quãng trong những nhịp cuối cùng của Prelude Rê thứ, lặp lại lần thứ hai một cách chấn động ở nhịp điệu run rẩy bồn chồn tựa như tiếng khóc thổn thức, cảm xúc sau đó bị bôi xóa bằng nét lướt tàn nhẫn cuối cùng kết thúc fortissimo ở đâu đó sâu thẳm kinh hoàng, chạm thấu đáy địa ngục.



Prelude Fa thăng thứ op.28 no 8, như nhiều bản nhạc khác của Chopin, mang tính chất perpetuum mobile. Từ đầu đến cuối bản nhạc không có điểm dừng nào, tuy nhiên ở đây các câu nhạc rất rõ ràng, mặc dù chúng liên quan chặt chẽ với nhau. Dẫu prelude này có nhịp nhanh, tôi vẫn thích bắt đầu chơi nó hơi rụt rè một chút, nhấn mạnh mô típ chính một cách rõ ràng và sáng sủa và như tò mò chờ xem chính Chopin sẽ trở nên thế nào. Câu đầu, như thường thấy ở Chopin, được lặp lại với một kết thúc khác. Thực sự là, cho dù tác phẩm này là một bản nhạc được soạn hoàn hảo thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ cho nó cái vỏ ngoài của một khúc phóng túng, tôi muốn thuyết phục về ấn tượng từng bước khám phá, lần lần tiến vào miền chưa biết. Các nhóm nốt móc ba, mặc dù được viết nhỏ, không thể chơi pianissimo như những nét hoa mỹ thông thường. Tôi ưa chơi chúng với âm thanh mạnh như những nốt nhạc được chơi bằng ngón cái; chỉ cần hơi ngân nốt nhạc này là đủ để mang lại nó cái ưu thế mà nó có, một khi nó là cơ sở cho tất cả các nốt còn lại. Tôi những muốn nhóm sáu nốt nhạc lớn (được lặp lại một cách cực đoan trong quãng tám) được xem như một khối, mỗi khối cận kề chặt chẽ với khối tiếp theo. Những nét hoa mỹ này, như thể xuất phát từ nốt nhạc đầu tiên, tương tự như giọng hòa âm, hình thành âm thanh, làm rõ nét giọng điệu không ngừng thay đổi và hợp nhất với nốt nhạc chính. Nếu nốt nhạc chính vang lên quá rõ, bản nhạc chỉ trở nên lóng lánh, là một giai điệu dễ dãi, nhưng mất đi toàn bộ sức hút và ý nghĩa. Ngược lại, nếu cho tất cả các nốt nhạc một cường độ âm thanh như nhau, prelude này lại khiến người ta thán phục như một trong những bản nhạc đẹp nhất của tập.

Nếu như tôi vẫn lên án rằng phần lớn các tác phẩm của Chopin bị chơi với nhịp quá nhanh, thì cũng tôi phải nói rằng Prelude Si thứ bị chơi quá chậm. Dường như người ta cố gắng khiến cho nó trở thành u sầu, càng u sầu càng tốt...Tôi nhớ đã nghe nó được chơi làm nền cho giọng đọc thơ Baudelaire. Điều này làm hại cả nhạc lẫn thơ. Ta hãy để sáng kiến này lại đó cho những người thực ra chẳng yêu thơ cũng chẳng yêu nhạc.



Không đi sâu vào chủ đề âm nhạc mô phỏng, sự lặp lại một cách đầy ngoan cố trong Prelude Si thứ nốt nhạc cao (âm chủ) và các âm át trong Prelude Rê trưởng phải mạnh và rõ, vô tình với giai điệu lẩn trong nó; đơn điệu, tàn nhẫn như giọt nước mưa rơi không ngừng, như sức mạnh thiên nhiên vô tình với cảm xúc con người, và qua đó gột bỏ hết mọi sự tinh vi và cường điệu.

Để thực sự thưởng thức âm nhạc, tôi không thấy cần cảm thụ nó thông qua văn học hay hội họa, và „ý nghĩa” của bản nhạc chẳng có nghĩa gì mấy với tôi. Nó bóp nghẹt bản nhạc và làm phiền tôi. Bởi vậy mặc dù công nhận Schhubert, Schumann hay Faurégo đều quan trọng như nhau, tôi vẫn thích âm nhạc không có lời hơn cả, nhất là âm nhạc thần bí của những buổi tế lễ. Âm nhạc thoát ra khỏi thế giới vật chất và cho phép chúng ta cũng thoát khỏi nó. Nếu như có một số prelude (giọng Sol trưởng và Fa trưởng) không gợi ra bất cứ phong cảnh nào, thì tiếng rì rầm của bè trầm trong prelude thứ nhất và giọng cao nhất trong prelude thứ hai khiến tôi không ngừng liên tưởng đến tiếng rì rào của dòng sông đang chảy. Trong prelude thứ nhất cũng như thứ hai, những nốt nhạc đầu tiên rút gọn thứ mà ta không còn dám gọi là giai điệu đến cấu trúc đơn giản nhất, dường như được tiếng rì rầm này gây ra và như bắt nguồn ngẫu hứng từ nó. Trong Prelude Sol trưởng (op.23 no 3) đó thậm chí là những nốt y hệt, chỉ cách xa nhau hơn, như sự gọi mời kín đáo và tế nhị biểu hiện trong phần đệm chập chờn này. Nên để ý đến nó và tạo ra cảm giác tinh tế hầu như không thể nhận thấy, mà điều đó là bất khả nếu chơi prelude này với nhịp nhanh khó chịu như những nghệ sỹ trình diễn vẫn làm. Thật thoải mái làm sao! Trong cả bản này lẫn bản kia ta chỉ vừa mới bỏ điệu mở đầu để sang điệu khác, rất giống, trong khoảnh khắc đã trở lại ngay với điệu ban đầu. Ở đây Chopin từ bỏ mọi sự tế nhị dịu dàng, từ bỏ các sắc thái bí ẩn của những điệu khác, điều mà ông sẽ đẩy toàn bộ phần âm nhạc sau này vào, mặc dù trước đó ông đã làm sửng sốt, đôi khi chọc tức người đương thời. Tôi khâm phục việc khi chối bỏ mọi uyển ngữ và mánh khóe, âm nhạc của Chopin càng riêng biệt tới mức khó có thể hình dung mấy nhịp này do bất kỳ ai khác viết ra. Ông càng là Chopin khi càng ít cố gắng là Chopin. Không hề có một phép tu từ, không hề có khát khao thổi phồng ý tưởng âm nhạc và khai thác gì nhiều hơn từ đó, mà trái lại, khao khát giản lược đến cùng cực sự biểu lộ của nó và hướng đến hoàn hảo.

(Hết)

Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 1
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 2
Những ghi chép về Chopin (André Gide) - phần 3




Sunday, 3 February 2013

Ngợi ca những giấc mơ (Wisława Szymborska)


Thái Linh dịch

Trong mơ
tôi vẽ như Vermeer van Delft.

Tôi nói thành thạo tiếng Hy Lạp
không chỉ với người sống.

Tôi lái chiếc xe hơi
ngoan ngoãn nghe lời.

Tôi tài hoa,
viết ra những trường ca vĩ đại.

Tôi nghe thấy những giọng nói
không tệ hơn lời thần thánh uy nghiêm.

Các bạn hẳn sẽ ngạc nhiên
vì tôi chơi dương cầm với ngón nghề tuyệt kỹ.

Tôi bay lượn như cần phải thế
nghĩa là bay lên từ chính mình.

Khi ngã xuống từ mái nhà
tôi rơi êm ru trên cỏ.

Với tôi chẳng có gì là khó
việc thở dưới nước sâu.

Tôi không phàn nàn gì đâu:
tôi khám phá ra Atlantis.

Tôi cảm thấy vui thích
vì luôn kịp tỉnh giấc trước khi qua đời.

Khi chiến tranh vừa được châm ngòi,
tôi lập tức trở mình sang phía khác.

Tôi là, nhưng không buộc phải là
đứa con của thời đại.

Vài năm trước tôi nhìn thấy
có hai mặt trời.

Chim cánh cụt thì mới hôm kia thôi.
Hoàn toàn sắc nét.

Tuesday, 29 January 2013

Cái chết của những người tình (Charles Baudelaire)



Thái Linh dịch


Giường ta sẽ ngát hương thơm dìu dịu
Những ghế dài trũng xuống tựa mồ sâu
Và kỳ hoa trên kệ khoe màu,
Nở vì ta dưới trời xanh tươi đẹp

Hai trái tim ta như đuốc hồng cháy rực
Tỏa miệt mài đến hơi ấm cuối cùng
Phản chiếu đôi luồng sáng mênh mông
trong hai linh hồn, đôi gương lồng bóng.

Huyền bí sắc hồng lơ đêm nhập nhoạng
Ta trao cho nhau một tia chớp mà thôi
như nức nở trĩu dài lời vĩnh biệt;

Trung tín và hân hoan, một thiên thần sẽ đến
Rồi nhẹ nhàng khẽ mở cửa ra
Hồi sinh những tấm gương mờ, những ngọn lửa phôi pha.

(dịch từ bản tiếng Ba Lan của Bronisława Ostrowska)


Saturday, 26 January 2013

Thơ những ngày mất ngủ



Anh đâu rồi, yêu thương của em,
Trong những tháng ngày này dài quá!
Ngực rạn vỡ vì những lời xa lạ
Làn da buồn băn khoăn...

Em nhớ anh mỗi phút bảy mươi lần
Năm giác quan, nỗi nhớ là thứ sáu
Những da diết len trong từng mạch máu
Chảy về đâu cũng chạm phải yêu thương.

Tựa cánh chim chung thủy với không gian
Tựa nhành hoa lặng thầm cùng mặt đất
Em nhớ anh, cũ xưa như sự thật
Em nhớ anh, tinh khôi như sự sống trên đời.

Em vẫn nghe đâu đó tiếng anh cười
giữa phù phiếm, đam mê và minh triết...
Em thầm gọi mà anh nào hay biết,
Sa mạc, bầu trời, hơi ấm của em!

Khi ngày dài, đêm cũng dài thêm
Thu lại sang, lá vàng vì mất ngủ
Màn hình trắng như tận cùng nỗi nhớ
Anh đâu rồi, yêu thương của em?

Thái Linh

Monday, 21 January 2013

Hay, vì đau

Cuộc trò chuyện về nghệ thuật Ba Lan giữa Grzegorz Sroczyński  - phóng viên báo Gazeta Wyborcza , và giáo sư Maria Poprzęczka - chủ tịch Hội Sử gia Nghệ thuật (Ba Lan), hiện đang giảng dạy tại Đại Học Tổng Hợp Warszawa, đăng trong chuyên san Giày cao gót (Wysokie Obcasy) số ra ngày 27.10.2012. Thái Linh dịch (bản dịch đã được trích đăng tại Tuổi Trẻ Cuối Tuần)


(GS. Maria Poprzęczka)


Grzegorz Sroczyński: Càng kỳ quặc càng tốt.

Maria Poprzęczka: Nghệ thuật đương đại à? Có lẽ anh quá lời.

GS: Có một cái xô, có một thứ dung dịch màu đỏ nhỏ vào đó, xung quanh treo mấy sợi dây, từ loa phát ra tiếng nghiến kèn kẹt khủng khiếp. „Tác phẩm vô đề”. Hãy thử tỏ ra minh triết xem nào.

MP: Trong Salon de Paris trưng bày nghệ thuật chính thống nổi tiếng thế kỷ XIX, người ta treo hàng trăm bức tranh phong cảnh và các ả khỏa thân. Chán phèo.

GS: Nhưng ít ra với ả khỏa thân thì còn hiểu được người ta muốn nói gì.

MP: Thật lạ là con người không muốn đứng trước điều khó hiểu là tác phẩm của bàn tay người khác. Trước tác phẩm bất khả tư nghì của các thế lực cao siêu -Thượng đế, Chúa hay thiên nhiên – thì họ lại thích. Một số người thậm chí còn khao khát những thứ kỳ cục ấy. Nhưng khi một nghệ sỹ sản tạo ra cái gì đó khó hiểu thì lại nảy sinh nghi ngờ rằng anh ta lừa dối tôi và muốn biến tôi thành thằng ngốc.

GS: Thế anh ta có lừa dối không?

MP: Đáng tiếc là cũng thường như vậy.

GS: Tôi có mấy người bạn cạch đi xem kịch từ khi họ đi xem cái gì đó tiền vệ, ở đó họ bị đổ một thứ mỡ nâu lên người, bị ấn lên sân khấu và bắt đóng giả làm chó sói

MP: Có cách rất tốt cho tình huống này: bỏ về. Tôi đã không đi xem kịch suốt 20 năm.

GS: Cái gì cơ?

MP: Thì thế đấy. Tôi còn có cả lý thuyết về chuyện vì sao tôi không đi xem kịch. Bởi vì tôi không thích việc đóng giả. Đây nhé, người ta bắt tôi ngồi vào ghế rồi xem Holoubek và Łomnicki đang đóng giả rằng họ không phải là Holoubek và Łomicki mà là người khác, rồi tôi lại còn phải trả tiền nữa chứ!

GS: Một giáo sư về nghệ thuật đương đại có thể không đi xem kịch được sao?

MP: Như anh thấy đấy, có thể. Tôi đọc các bài phê bình trên báo chí để biết tình hình thôi.

GS: Bây giờ bà cũng không đi?

MP: Bây giờ tôi có đi, nhưng chỉ khi nào có gì đó thật đặc biệt. „Hamlet” của Klata trong Xưởng đóng tàu Gdańsk, „Macbeth” của Jarzyna trong một nhà máy cũ. Xem những thứ cổ truyền đối với tôi là mất thời gian. Thỉnh thoảng tôi bỏ về.

GS: Lần cuối cùng là khi nào?

MP: Ở Berlin, vì người ta hò hét trên sân khấu kinh quá. Không được để cho ai khủng bố mình hết, kể cả các nghệ sỹ. Nếu anh không thích cái xô kia thì khi đó anh nên bỏ ra ngoài và không quay lại nữa.

GS: Một người có văn hóa có thể không thèm quan tâm đến nghệ thuật đương đại không?

MP: Có thể. Anh ta sẽ mất chút gì đó, nhưng cũng không đến nỗi quá nhiều. Có hàng đống rác rưởi. Rất nhiều.

GS: Đặc điểm chính của cái thứ rác rưởi đương đại này là gì?

MP: Thứ cấp. Bịp bợm. Tự mãn. Sự vội vã để thành công. Và sự gây rối tri-thức-cảm-xúc. Chính là cái điều anh vừa nói: bạn không thích có nghĩa là bạn chưa đủ trình. Nếu bạn không hiểu thì biến đi mà xem tranh Matejko(1). Trong sinh hoạt nghệ thuật của chúng ta, đáng tiếc, vẫn tồn tại sự phân chia ra „chúng tôi” và „họ”.

GS: Chúng tôi là ai?

MP: Thế giới nghệ thuật và các định chế của nó, các nghệ sỹ, các nhà trưng bày, các phê bình gia, và công chúng lui tới các buổi khai mạc.

GS: Còn họ?

MP: Là số còn lại.

GS: Những người hâm mộ Lichen(2) và tranh tôn giáo hàng chợ?

MP: Cũng có họ. Mặc dù đó là sự phân chia quá đơn giản và nhầm lẫn. Giữa nghệ thuật đương đại được trưng bày và các tác phẩm tôn giáo hàng chợ trải ra một khuynh hướng rộng lớn và nhiều dòng các sản phẩm nghệ thuật. Nhưng cũng chẳng có gì phải ảo tưởng – nghệ thuật không và chưa từng là quân bình (egalitarian-ND). Sẽ mãi luôn có „chúng tôi” và „họ” nào đó, „người mình” và „người khác” nào đó. Cốt sao cho sự phân chia này không làm nảy sinh ra thù nghịch và khinh thường. Chỉ chừng ấy thôi và những chừng ấy.

GS: „Họ” muốn nghệ thuật ít nhất cũng phải hiểu được. Và có cái gì đó đèm đẹp treo trên lò sưởi.

MP: Ở Thành Cổ Warszawa có thể mua được những thứ đẹp và dễ hiểu. Tôi hoàn toàn không nói giễu ở đây. Tôi cho rằng nếu ai đó thích thứ nghệ thuật này thì không nên xấu hổ vì điều đó. Anh ta có quyền thích như thế. Tôi hay ngó nghiêng các sản phẩm này, tôi rất quan tâm đến tranh pháo ngoài dòng văn hóa chính thức. Tôi loại ra đồ lưu niệm cho khách du lịch. Sau khi sàng lọc thì hóa ra tranh phong cảnh chiếm ưu thế. Những bức „tranh phong cảnh chung chung”.

GS: „Tranh phong cảnh chung chung” là thế nào?

MP: Có cây cối xanh xanh, có sông hồ và có núi, hơi phủ tuyết một chút. Có thêm con vật gì đó vào thì càng tốt.

GS: Con hươu.

MP: Ví dụ thế. Và đây không phải là đặc sản Ba Lan chúng ta. Mười mấy năm trước Komar và Melamid – hai nghệ sỹ Nga rời Liên Xô sang phương Tây và trở nên khá thành đạt – đã làm một cuộc thăm dò trên phạm vi toàn cầu, từ Pernambuco đến Kyoto về „bức tranh được mong muốn nhất” và „bức tranh ít người thích nhất”. Họ làm thăm dò này một cách chuyên nghiệp, sử dụng các cơ quan thăm dò dư luận ở từng nước. Và trong tất cả các nền văn hóa bức tranh được mong muốn nhất đều giống nhau: mặt trời, bầu trời xanh, nước, núi và động vật. Nghĩa là thiên đường.

GS: Thế „bức tranh ít người thích nhất” ra sao?

MP: Trừu tượng – những khối hình học gì đó được vẽ bằng màu chết. Nhu cầu cần có thiên đường là thứ bẩm sinh của chúng ta, cũng có thể thấy rõ điều này trong tranh ở Thành Cổ Warszawa. Có thể đó là một cô gái tóc vàng ngực lớn, có thể đó là con ngựa – có Nguyên soái cưỡi hoặc không – nghĩa là thiên đường đã mất thời tiền chiến. Người ta có nhu cầu để cuộc sống dễ thương hơn đôi chút.

GS: Nghệ thuật đương đại thật xa xôi với nhu cầu đó.

MP: Vì nó không phục vụ nhu cầu này. Chừng nào nghệ thuật còn được hình thành theo đơn đặt hàng cụ thể – giáo sỹ cần tượng thánh cho nhà thờ, hoàng tử cần nàng Vệ nữ khỏa thân cho phòng ngủ, nhà quý tộc cần chân dung tiền nhân – tất cả đều rõ ràng. Nhưng sau đó định chế bảo tàng xuất hiện. Một không gian công chúng chuyên biệt chỉ dành cho nghệ thuật và chỉ để xem nghệ thuật. Một thay đổi căn bản. Bảo tàng và phòng trưng bày, mặc dù xuất hiện vào thế kỷ XVIII, vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong đời sống nghệ thuật ngày nay.

GS: Như thế nào?

MP: Nghệ sỹ đã không còn sáng tạo theo đơn đặt hàng của cá nhân cụ thể nữa. Nghệ thuật đương đại hình thành trước hết là để triển lãm. Walter Benjamin từ rất lâu đã đưa ra khái niệm giá trị triển lãm, dần dần nó đã thay thế tất cả các giá trị khác. Điều này đồng điệu cùng với cách hiểu hiện đại về nghệ thuật như một hiện tượng tự trị thuần túy. Như vậy nếu nghệ thuật mang tính tự trị và bị tước bỏ các chức năng khác mà người ta gọi một cách xem thường là các chức năng phục vụ, thì nó chỉ còn đủ tiêu chuẩn để triển lãm. Và để cho thị trường nghệ thuật.

GS: Giá trị triển lãm, tức những gì các phê bình gia ưa thích?

MP: Không, vì các cuộc triển lãm vẫn là dành cho công chúng. Chỉ có điều người xem đương đại không có dung nhan, không cụ thể như trước kia. Họ là vô danh, giả định và tiềm tàng.

GS: Ở nước ta thì họ còn vắng mặt nữa. Bảo tàng Tate Modern ở London mỗi năm có vài triệu lượt người xem. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Warszawa nằm trong phòng trưng bày cũ của hãng đồ gỗ Emilia và thường vắng teo.

MP: Thế anh thử đến gian trưng bày hội họa thế kỷ XVII và XVIII trong Bảo tàng Quốc gia đi. Ở đấy mới là vắng teo. Chuyện người Ba Lan thích nghệ thuật thời xưa còn nghệ thuật đương đại thì không, chỉ là ảo ảnh. Mọi loại nghệ thuật đối với chúng ta đều khá xa lạ. Ở đây sự khác biệt giữa Ba Lan và phương Tây rất rõ rệt, đáng tiếc.

GS: Từ đâu mà có sự khác biệt này?

MP: Từ lịch sử. Văn hóa Ba Lan cổ không phải là văn hóa tranh pháo, đó là văn hóa của những thứ xa xỉ, gấm vóc, xa hoa, vũ khí trang trí lộng lẫy. Người ta yêu những đồ ấy chứ không yêu tranh - thứ được xem là nghệ thuật hạng hai. Tình trạng này kéo dài rất lâu. Vào giữa thế kỷ XIX khi chúng ta có một bên là thi ca lãng mạn vĩ đại và âm nhạc Chopin, một bên là nền hội họa khiêm tốn, sự chênh lệch lớn đến nỗi Julian Klaczko đã đặt câu hỏi về „lý do tồn tại của nghệ thuật Ba Lan”. „Từ hàng thế kỷ Ba Lan đã chiến thắng bằng gươm và thập tự, chứ không phải bằng cây cọ và cái đục. - ông chứng minh, và khi đó cũng gây ra cuộc tranh cãi lớn. Ngày nay chúng ta vui mừng vì giai đoạn đó ta có Piotr Michałowski, nghệ sỹ tầm cỡ châu Âu. Nhưng ông chỉ là một nghệ sỹ không chuyên lớn. Stanisław Witkiewicz cha đã viết rằng nghệ thuật Ba Lan khoảng năm 1850 là „một con số không to tướng”.

GS: Và sau đó là cái ông Matejko khủng khiếp.

MP: Anh đừng nói thế. Nhờ Matejko mà người Ba Lan trân trọng hội họa. Chính ông là người đã chỉ ra rằng môn nghệ thuật này có thể nằm cao nhất trong thang giá trị dân tộc, thậm chí có thể lớn lên đến tầm cỡ nghệ thuật tiên tri. Các thể hệ họa sỹ tiếp theo đã được hưởng lợi từ điều đó, nhất là trong giai đoạn Ba Lan Trẻ(3), cho dù họ chẳng tri ân và còn đả kích Matejko là họa sỹ tồi.

GS: Thế Matejko của chúng ta có khá không?

MP: Nhưng từ góc nhìn nào?

GS: Từ góc nhìn đơn giản đó có phải là thứ hội họa khá không. Trên phông nền châu Âu.

MP: Đây không phải là một câu hỏi được đặt đúng cách.

GS: Sao lại không? Đơn giản là: họa sỹ khá hay tồi. Bà là phê bình gia nghệ thuật mà.

MP: Chính vì vậy mà tôi không đánh giá theo những tiêu chuẩn không phù hợp. Đó không phải là điều quan trọng trong hội họa này. Matejko không khéo tự lăng xê. Nhưng bá tước giáo sư Stanisław Tarnowski đã khắc sâu nhiều câu nói của ông, trong đó có cái câu hay bị trích dẫn này: „Tôi không vẽ như tôi hiểu các tiêu chuẩn nghệ thuật của bức tranh hoàn hảo. Tôi muốn nói đến những điều quan trọng hơn điều đó...”

GS: Chính thế đấy. Nghệ thuật xoàng, nhưng được cái đúng đắn, bởi nó „nói đến những điều quan trọng hơn”.

MP: Đó không phải là nghệ thuật xoàng. Những bức tranh ấy được vẽ rất tốt trong truyền thống mà Matejko tiếp nhận. Con ngựa là con ngựa. Khẩu súng là khẩu súng. Hiệp sỹ là hiệp sỹ. Có thể ông không thích Matejko, nhưng đó là một họa sỹ rất hay.

GS: Hay ở chỗ nào?

MP: Ở cách minh họa lịch sử. Đó là những trình diễn vĩ đại lớn lên trong trí tưởng tượng Ba Lan.

GS: Chúng không thật.

MP: Thì sao nào? Tôi dẫn thêm một câu của Matejko, nó vụng về và do đó chắc là đáng tin: „Quan trọng là bức tranh gây ấn tượng với mọi người”. Và chúng gây ấn tượng. Gần đây tôi vào blog của học sinh cấp 2 xem các em viết gì về Matejko sau khi tham quan bảo tàng. Các em viết: „Kính phục!” Nguyên văn thế đấy.

GS: Do đâu mà có sự kính phục này?

MP: Thanh niên ngày nay được giáo dục trong văn hóa hình ảnh, lóng lánh và chuyển động. Mà trong tranh Matejko có chuyển động, có sự thống thiết và hành động. Có cả sự tàn bạo và máu me. Tức là những gì nuôi dưỡng văn hóa đại chúng. Hội họa về bản chất là bất động và câm, nhưng nó lại phải thuyết phục, truyền đạt các ý tưởng, kể chuyện. Có thể viết về lịch sử hội họa châu Âu – từ thời Phục hưng – như về sự gắng sức để chiến thắng những điều bất khả ấy. Matejko với sự biểu hiện cực đoan của mình là ví dụ cho cố gắng này: phá vỡ sự bất động, bất ngôn và tĩnh lặng. Cử chỉ kia, nét mặt nọ – tất cả đều với cường độ cao nhất! Đôi khi người ta đạt được hiệu quả mạnh mẽ bằng sự trống rỗng, yên lặng và vô ngôn. Nhưng đó không phải là Matejko.

GS: Và có lẽ nói chung không phải là người Ba Lan.

MP: Chính thế.

GS: Matejko có một ưu điểm – ít ra là người ta cũng biết tranh ông vẽ cái gì. Bây giờ Phòng trưng bày Zachęta trưng bày các sản phẩm đương đại và phải tích cực giải thích chúng. Thậm chí họ phát hành cả những cuốn hướng dẫn nhỏ cho người xem với các câu hỏi thế này: „Tác phẩm có kể câu chuyện nào không?” „Trong tác phẩm này có sử dụng những dấu hiệu biểu tượng điều gì không?”, „Vì sao tác phẩm không có nhan đề?”

MP: Tốt chứ sao. Bằng cách này Zachęta mời những người xem chưa được giáo dục vào cuộc đối thoại. Đó là những câu hỏi khích động, tấn công vào thói quen tiếp thu. Bởi vì có thể người xem vẫn luôn chờ đợi „Trận chiến ở Grunwald”(4).

GS: Người xem chờ đợi rằng ít nhất cũng biết được „tất cả là về cái gì”.

MP: Thì các phê bình gia là để làm việc đó. Những người trung gian giữa nghệ sỹ và công chúng. Chúng ta phải giải thích „tất cả là về cái gì” một cách kiên nhẫn, dễ hiểu và hấp dẫn, chứ không phải cứ khinh khỉnh ngạo mạn cố thủ trong pháo đài của mình.

GS: Bởi vì nghệ thuật đương đại phải được giải thích cho những người bé mọn à?

MP: Không phải bé mọn, mà đơn giản là công chúng. Rất khó nói người Ba Lan có hiểu nghệ thuật đương đại hay không, vì họ chưa có cơ hội làm quen với nó. Mấy năm trước nước ta còn chưa có bảo tàng nghệ thuật hiện đại. Chúng ta có cả núi việc khổng lồ trong việc giáo dục và các bảo tàng cần chú trọng vào điều này. Tập hướng dẫn nhỏ của Zachęta mà anh thấy buồn cười chính là một thử nghiệm giáo dục sáng suốt. Nếu người Ba Lan đã chỉ được xem nền nghệ thuật bị cắt khúc từ năm 1914 đến năm 1945 thì khó lòng ngạc nhiên khi bây giờ họ thấy sốc khi xem Julita Wójcik gọt khoai tây trong phòng trưng bày quốc gia.

GS: Nhưng cô ấy gọt khoai tây để làm gì?

MP: Để tôn vinh cái điều vốn là thường nhật, nhất là đối với phụ nữ. Không ít người nội trợ sẽ cảm thấy vui sướng rằng việc cô ta làm hàng ngày lại có thể được đưa vào một định chế văn hóa quốc gia.

GS: Tôi e rằng Julita Wójcik chả đến được với bà nội trợ thực thụ nào. Bởi vì chỉ có Maria Poprzęcka và các bà các cô Warszawa khác mới đến phòng trưng bày để khám phá cái công việc kỳ lạ này. Lần cuối bà gọt khoai tây là khi nào?

MP: Ba ngày trước, vì sau đó tôi ăn cơm. Tôi tự nấu ăn, tôi thích đồ nấu ở nhà.
Tôi đồng ý là thiếu sự liên kết giữa „những người bình thường” với nhóm ước lệ các bà các cô Warszawa thường hay lui tới các cuộc khai mạc triển lãm kia. Tôi đấu tranh với điều này trong khả năng của mình.
(…)

GS: Thế phải xem một bức tranh trong bảo tàng như thế nào?

MP: Ai thích thế nào thì xem như thế. Tôi có thể đi hết cả phòng trưng bày và nhìn lên trần. Phải biết tự bảo vệ trước lạm phát nghệ thuật. Có lần ở khoa tôi đã dám nói rằng trong các bảo tàng, tôi thích nhất là xem bức tranh ngoài cửa sổ. Tụi sinh viên nhắc lại điều này với tôi suốt nhiều năm sau.

GS: Vì sao lại là bức tranh ngoài cửa sổ?

MP: Vì ở đó là cuộc sống. Tôi quan tâm đến con người hơn quan tâm đến nghệ thuật rất nhiều – lời thú nhận đầy thỏa hiệp của một sử gia nghê thuật.
Tôi đã nghiên cứu hội họa thế kỷ XIX trong một thời gian khá dài. Nghệ thuật hiện đại khiến tôi thấy thú vị vì trong đó có đời sống: cơ thể, con người và hoạt động. Nhiều khi là chính nghệ sỹ biến cơ thể của mình thành vật thể nghệ thuật.

GS: Bauman viết về sự bất khả của tiền vệ trong nghệ thuật hiện đại: „Không có cái mới khi không có chuẩn tắc. Không có dị giáo khi không có chính thống giáo.”

MP: Chuẩn tắc vẫn đang hiện hành, vẫn có thể phân biệt những thứ nổi bật với những thứ xoàng xĩnh mà. Trong nghệ thuật đương đại Ba Lan có một thứ mà tôi gọi là „nhóm đại diện”. Đó là các nghệ sỹ gửi tác phẩm ra nước ngoài, được trao giải thưởng, có các cuộc trưng bày dấu ấn. Đó chính là bộ chuẩn tắc này.

GS: Nó có tốt không?

MP: Không tệ.

GS: Có gì trong đó?

MP: „Kim tự tháp súc vật” của Kozyra mở ra bộ chuẩn tắc này.

GS: Đó mà là nghệ thuật lớn à? Cái con ngựa với con chó, con mèo và con gà ấy?

MP: Không phải là chuyện đó.

GS: Chính thế, lại không phải chuyện đó. Gống như Matejko.

MP: Kozyra rất tuyệt.

GS: Cũng với những nguyên tắc y như Matejko: „Bởi vì tôi nói đến điều quan trọng hơn”.

MP: Không, khác chứ. Nhưng ta hãy cho qua „Kim tự tháp súc vật” đi, nó đã được nói quá nhiều rồi. Hãy nói về tác phẩm tuyệt nhất của Kozyra - „Nghi lễ mùa Xuân”.

GS: Nhưng cơ thể già nua thực hiện các chuyển động giật cục.

MP: Một tác phẩm đầy xúc động. Nó kết nối đến nhiều truyền thống khác nhau: vở ba lê „Nghi lễ mùa Xuân” của Stravinsky, tức là tới tác phẩm khai mở âm nhạc thế kỷ XX, và sâu hơn, là truyền thống tế lễ tà giáo – cô gái được chọn làm vật hiến tế sẽ phải nhảy múa tới chết để cuộc sống mới hồi sinh. Trên các màn hình được xếp vòng tròn, ta thấy điệu múa và nghe các motiv của Stravinsky. Kozyra trung thành với biên đạo ban đầu của vở ba lê, nhưng để những người già trong viện dường lão làm vũ công, họ được chụp ảnh khỏa thân trên nền trắng, hết tấm này tới tấm khác tiếp theo nhau. Phương pháp làm phim hoạt hình cho phép những người già có thể thực hiện được các động tác cực khó ngay cả đối với những vũ công trẻ chuyên nghiệp. Giao vai này cho những người già thật là việc khó có thể chịu đựng, nhưng gây rúng động và chân thật. Họ là những người bị hiến tế trong cuộc sống của chúng ta.

GS: Theo bà tác phẩm này nói về điều gì?

MP: Nói một cách lâm li: về số phận con người. Tất cả chúng ta đều chết.

GS: Quá hiển nhiên.

MP: Không hề, thế mới nói! Ngày nay điều này hoàn toàn không hiển nhiên! Anh thử nhìn quanh mà xem. Chúng ta sống trong thế giới bị tước mất cái chết. Nó đã bị y học hóa, chúng ta chết trong các bệnh viện, giấm giúi và đầy xấu hổ. Chúng ta sống như thể không có tuổi già. Tôi không nhớ nổi một tác phẩm nghệ thuật nào đề cập đến đề tài này một cách bi kịch có thể sánh được với tác phẩm của Kozyra. Những thứ kinh dị, Zombie, những xác chết sống được văn hóa đại chúng ưa thích đến thế so với nó chỉ là trò trẻ con.

GS: Đó thật sự là tác phẩm tầm cỡ quốc tế à?

MP: Đúng. Đó là một tác phẩm hoàn hảo.

GS: Làm sao bà nhận biết được một tác phẩm hay?

MP: Như mọi người thôi: nó làm tôi xúc động hay không. Thế anh nghĩ tôi đi khắp bảo tàng và hành xác à? Ngược lại. Là trực giác vô tư thuần khiết. Một tác phẩm nghệ thuật hay khi tôi khó nói thành lời. Không thể dùng lý trí phân tích được. Không thể kể về nó được. Bởi vì cảm xúc xuất hiện xâm chiếm tôi mạnh mẽ tới mức trong khoảnh khắc tôi xóa bỏ hết toàn bộ học thức và sự tiếp thu mang tính phê bình. Khi tôi nhìn ngắm thứ gì đó và không còn là phê bình gia nghệ thuật nữa, khi đó tôi thấy rằng mình đang tiếp xúc với nghệ thuật thực thụ.

GS: Nếu đã nhìn thấy mọi thứ rồi thì khó có được niềm thích thú ấy

MP: Khó.

GS: Bà có hay thấy thích không?

MP: Ít. Tôi là người lạc quan, nhưng không phải là người nhiệt tình.

GS: Trong vòng 23 năm của nước Ba Lan độc lập thì được mấy lần?

MP: Vài lần. „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. Tranh của Tarasewicz, nhất là những bức được trưng bày chòi ra khỏi khung, bê tông màu đổ ra cầu thang và tường phòng trưng bày. Tranh của Jarosław Modzelewski.

GS: Bức nào?

MP: Ví dụ con thuyền không người neo bên bờ. Con thuyền của Charon đang chờ. Chờ tôi.

GS: Lại là về cái chết.

MP: Không có gì khác đáng nói, thật đấy.
Nếu đã là nói chuyện nghiêm túc thế này, thì tôi tin rằng nghệ thuật là hành động của con người cho phép thoát khỏi thế tục để hướng đến siêu hình. Tôi đứng trước bức tranh của Modzelewski và cứ muốn ngắm mãi. Ngắm mãi và ngắm mãi. Chỉ cần được yên tĩnh thôi.

GS: Cảm xúc thế nào?

MP: Cam chịu số phận. Khác với trường hợp „Nghi lễ mùa Xuân” - đó là một kiểu sốc.

(Con thuyền bên bờ, tranh Jarosław Modzelewski)

GS: Các nghệ sỹ đương đại Ba Lan muốn cho chúng ta xem gì?

MP: Cơ thể và sự mục ruỗng của nó. Các cơ thể già nua, tàn tật, ốm yếu, bệnh hoạn, thương tích trước đây chưa được nghệ thuật mở cửa. „Nhà tắm nữ” của Kozyra, „Cuộc đi dạo” của Żmijewski. „Những nghi lễ thầm kín” của Libera.

GS: Trong phim này Libera chăm sóc người bà của mình, thay tã, rửa ráy, lau dọn. Các nghệ sỹ Ba Lan cho chúng ta xem những thứ ấy để làm gì?

MP: Bởi đó là sự thật về thân phận con người.

GS: Cái đẹp của nghệ thuật là thế à?

MP: Nghệ thuật không ngừng hướng tới ba lý tưởng của Platon: chân, thiện, mỹ. Điều cốt yếu của tam giác này là các giá trị này liên kết chặt chẽ với nhau. Nếu điều gì đó chân thực thì nó cũng đẹp và thiện.

GS: Bà tin điều đó chứ?

MP: Tôi tin. Cơ thể già nua là chân thực, và do đó đẹp. Chỉ có điều chúng ta sống trong áp lực khủng khiếp của những cơ thể không tồn tại và không hiện thực. Không ai trông như trong Photoshop cả. Điều này quá rõ ràng, nhưng nhắc lại mãi vẫn không đủ – chúng ta trưng ra bệnh tật, sự già nua, cái chết, những thứ không nằm trong tinh thần của các pa-nô, quảng cáo và văn hóa đám đông. Nghệ thuật nhắc chúng ta nhớ đến những điều tàn bạo này.

GS: Vậy là cuối cùng chúng ta cũng biết được tại sao mọi người không đi xem nhũng thứ đó: họ xem những thứ đau xót ấy làm gì?

MP: Nếu người ta chỉ trông đợi ở nghệ thuật sự vui thích và an ủi – họ có quyền làm vậy. Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là consolatio – an ủi.

GS: Thế thứ nghệ thuật kia có an ủi bà không?

MP: Có. Bởi vì chính những cô xinh đẹp trên pa-nô mới hành hạ tôi. Đó không phải là cuộc sống thật. Đó là ảo giác, thứ ảo giác gây hại, lừa dối và hạ thấp người khác.

GS: Chúng ta sống trong một thế giới kỳ cục. Ta nhìn ngắm sự thật đáng tiếc trong các phòng trưng bày, sau đó bước ra ngoài và cần mẫn cười bằng những đôi môi tô son. Ngược lại với trước đây.

MP: Định nghĩa cổ của Aristoteles về nghệ thuật nói đến ba cách mô phỏng hiện thực. Thứ nhất, có thể mổ phỏng như nó vốn thế. Đó là lãnh địa của các nghệ sỹ duy thực. Thứ hai, có thể mô phỏng hiện thực tốt hơn là nó vốn thế, đó là nhiệm vụ quan trọng của nghệ thuật châu Âu từ thời Phục hưng. Cách mô phỏng thứ ba là thể hiện hiện thực tệ hơn là nó vốn thế. Mọi sự bóp méo, làm biến dạng, xuyên tạc nằm ở đây. Định nghĩa kinh điển không có tình huống thứ tư – cuộc sống trong hiện thực đã được tô hồng, mà nghệ thuật phải lột đi lớp son.

GS: Những gì của nền nghệ thuật chúng ta sẽ còn lưu lại?

MP: Không nhiều. Như mọi khi.

GS: Không nhiều là những gì?

MP: Tôi đã nói đến vài thứ rồi đấy: „Nghi lễ mùa Xuân” của Kozyra. „Mắt trả mắt” của Żmijewski. „Bài hát Ba Lan” của ông chắc chắn cũng vậy.(...)

GS: Còn gì nữa?

MP: Pawlak. Ví dụ bức tranh „Người Ba Lan làm quốc kỳ” của ông.

GS: Sasnal?

MP: Tôi không phải là người hâm mộ ông ấy.

GS: Ông ấy rất tuyệt.

MP: Chắc chắn là lương thiện. Mặc dù thành công về mặt thương mại – dù sao thì ông cũng là nghệ sỹ Ba Lan đắt giá nhất – ông vẫn thực hành nghệ thuật của mình một cách lương thiện, không biến thành nhà sản xuất. Tôi nghĩ ông cảm thấy rất khó khăn trong vai trò nghệ sỹ nổi danh.

GS: Có gì nữa không?

MP: „Dương bản” của Libera. Nghệ sỹ chọn một số bức ảnh gốc – các hình tượng của truyền thông thế kỷ XX đã đi vào tâm thức đại chúng. Em bé Việt Nam bị bỏng bom napal đang chạy trốn, Che Guevara bị bắn nằm trên cáng, các tù nhân trại tập trung sau hàng rào dây thép gai. Libera chụp các người mẫu y hệt như thế và làm các „dương bản” mới cho những bức ảnh đó. Thật rúng động.

GS: Bức ảnh nào gây rúng động nhất?

MP: Ảnh trại tập trung.

GS: Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi đã đứng chết lặng.

MP: Tôi cũng thế.

GS: Nhưng tôi không biết tại sao.

MP: Tôi cũng không biết. Nghệ thuật là thế, người ta không biết.

( bức ảnh trong tác phẩm Dương bản của Zbigniew Libera)

GS: Bà nói chút gì đó về bức ảnh này đi.

MP: Chúng ta nhìn thấy bức ảnh quen thuộc trong sách giáo khoa chụp các tù nhân trại tập trung, chỉ là đột nhiên có gì đó không ổn ở đây. Những người này trông như khách trọ vui vẻ của các viện an dưỡng, áo tù được thay bằng sọc áo pijama, thay vì thép gai thì chúng ta nhìn thấy những sợi dây được gắn lên đó thứ trang trí rẻ tiền nhất – dây thường xuân nhựa.

GS: Theo bà thì nó nói về cái gì?

MP: Về thế giới vui vẻ dối lừa, hồng hào như một lò sát sinh vào buổi sáng. Những người đứng sau các sợi dây cười cần mẫn vào ống kính. Đây không còn là những bộ xương bọc da sống mà chúng ta biết đến trong bức ảnh gốc. Nhưng vẫn có một thứ còn lại, đó là họ luôn đứng ở sau một cái hàng rào.

GS: Hàng rào với những dây thường xuân bằng nhựa.

MP: Phải. Chính là chúng ta đang đứng đó.

----------

Chú thích:
1. Họa sỹ Ba Lan thế kỷ XIX nổi tiếng với các bức tranh lịch sử

2. Tên một làng ở miền Trung Ba Lan, có Thánh đường Đức Mẹ – một trong những nhà thở tráng lệ nhất thế giới

3.Thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, âm nhạc và nghệ thuật Ba Lan, kéo dài từ 1891 đến 1918, chủ trương phản kháng lại chủ nghĩa thực chứng, không tin tưởng vào trật tự thế giới cũ, đề cao sự vượt trội của nghệ sỹ tới tầm vóc tiên tri, đòi tự do và tách nghệ thuật khỏi di sản văn hóa, ảnh hưởng triết học Schopenhauer, Nietzch và Bergson.

4.Tên bức tranh nổi tiếng nhất của Matejko



Thursday, 25 October 2012

Thơ M. I. Lermontov -Thái Linh dịch

Cánh buồm

Trắng lên đơn độc một cánh buồm
Trong màu biển biếc giữa mờ sương...
Buồm mải tìm chi nơi viễn xứ?
Những gì bỏ lại ở quê hương?

Gió rít, cuộn dâng lớp sóng cuồng
Cột buồm kẽo kẹt ngả nghiêng luôn...
Ôi! Buồm không kiếm tìm hạnh phúc,
Chẳng lánh niềm vui chốn dặm trường!

Luồng ngọc biếc xanh dưới cánh buồm
Trên cao tia nắng ánh vàng buông...
Nhưng buồm kiêu bạt đòi bão tố
Như thấy yên bình trong gió giông!

(1832)


Mắt huyền

Giữa ngàn sao đêm hè, ta chỉ thấy
Hai vì sao nơi đáy mắt nàng
Mắt nhung huyền, đôi mắt phương Nam!
Giờ tao ngộ là phút giờ ngang trái.

Nếu có hỏi, những vì sao đêm ấy,
Chúng chỉ nói về hạnh phúc chốn thiên đàng.
Mắt huyền ơi, nơi sao đáy mắt nàng
Tim ta thấy cả thiên đàng, địa ngục.

Trong mắt nàng ánh tình yêu sáng rực
Mắt nhung huyền, đôi mắt phương Nam!
Những vì sao ban ngày và những vì sao đêm
Từ phút ấy trong hồn ta sáng mãi.

(1830)

Thursday, 18 October 2012

Nơi đây (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Tôi chẳng hay nơi khác ra sao,
nhưng nơi đây trên Trái đất này mọi thứ đều khá bộn.
Nơi đây sản xuất ra ghế và nỗi buồn,
những cái kéo, đàn vĩ cầm, sự ân cần, máy bán dẫn,
những đập nước, những trò đùa và chén tách.

Có thể mọi thứ nhiều hơn ở nơi nào khác,
nhưng vì một số lý do, nơi ấy không có các bức tranh,
không có bánh gối, bóng hình ti vi, và mùi soa lau nước mắt.

Các địa phương kèm vùng ngoại vi ở nơi đây nhiều không kể xiết.
Anh có thể đặc biệt thích vài nơi,
đặt cho chúng tên riêng,
và bảo vệ chúng trước cái ác.

Có thế có những chốn tương tự ở nơi nào khác,
nhưng chẳng ai thấy chúng đẹp xinh.
Chẳng ở đâu, hay hiếm ở nơi đâu,
anh có riêng thân trên
với những phụ tùng cần thiết
để thêm con mình vào đám trẻ dưng.
Ngoài ra anh còn có tứ chi và cái đầu kinh ngạc.

Sự vô tri nơi đây làm việc luôn quá sức,
nó luôn đếm, đo, so sánh điều chi,
rồi từ đó rút ra kết luận và nguyên căn.

Tôi biết, tôi biết anh đang nghĩ gì.
Nơi đây chẳng có gì bền chắc,
bởi từ ngàn xưa đến ngàn sau thiên nhiên luôn thống trị.
Nhưng hãy nhìn xem – các thế lực thiên nhiên mệt mỏi dễ dàng
và đôi khi chúng phải nghỉ thật lâu
đến lần sau.

Tôi biết anh còn nghĩ đến đâu.
Chiến tranh, chiến tranh, chiến tranh.
Nhưng giữa các cuộc chiến tranh là giờ nghỉ.
Nghiêm – con người xấu xa.
Nghỉ – con người thiện hảo.
Khi nghiêm những hoang mạc được tạo ra.
Khi nghỉ nhà cửa được xây nên đẫm mồ hôi trán
và người ta nhanh chóng dọn vào.

Đời sống trên trái đất chẳng đắt đỏ là bao.
Anh chẳng phải trả xu nào cho những giấc mơ, thí dụ.
Cho ảo ảnh – chỉ khi đã mất.
Cho việc sở hữu tấm thân – chỉ bằng tấm thân.

Dường như thế vẫn còn chưa đủ,
anh quay không mất tiền trong vòng đu quay của các hành tinh,
và cùng nó quay lậu vé trong bão tuyết thiên hà,
trong thời gian chóng mặt
tới mức ở nơi đây trên trái đất
chẳng có gì thậm chí kịp run lên.

Anh hãy nhìn cho rõ mà xem:
Cái bàn nằm nơi nó hằng nằm đó,
tờ giấy trên bàn vẫn nguyên như cũ,
qua cánh cửa sổ nghiêng hờ chỉ làn gió hiu hiu,
và trên tường không có vết nứt khủng khiếp nào
có thể cuốn anh biến vào vô định.  



Tuesday, 9 October 2012

Thời mạt kỉ (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Thế kỉ XX của chúng ta lẽ ra phải tốt đẹp hơn các thế kỉ trước.
Nhưng nó không còn kịp chứng tỏ điều này,
chỉ còn vài năm đếm trên đầu ngón tay,
hơi thở thể kỉ gấp gáp,
bước chân thế kỉ liêu xiêu.

Đã xảy ra quá nhiều điều
đáng lẽ không phải xảy ra,
còn điều phải đến
lại không đến.

Lẽ ra phải tiến tới mùa xuân
và hạnh phúc, cùng những điều khác.

Nỗi sợ hãi
phải rời bỏ thung lũng và non xa.
Sự thật phải cán đích trước dối trá.

Đáng lẽ không được diễn ra
một số điều bất hạnh,
ví dụ như chiến tranh
hay nạn đói, vân vân.

Sự bất khả tự vệ của những kẻ bất khả tự vệ,
lòng tin cậy, và những điều tương tự như thế
lẽ ra phải được tôn trọng.

Ai từng muốn hân hưởng thế giới,
đang đứng trước một công việc
bất khả thi.

Trò ngốc nghếch không khôi hài.
Sự minh triết chẳng tươi vui.

Niềm hy vọng, tiếc thay
đã không còn là thiếu nữ,
vân vân và vân vân.

Thượng đế, lẽ ra, rốt cuộc đã phải tin vào con người
thiện hảo và mạnh mẽ,
nhưng thiện hảo và mạnh mẽ
vẫn luôn là hai kẻ khác nhau.

Sống ra sao? - trong thư có người hỏi tôi như thế,
đó chính là người tôi đang định hỏi
y chang.

Một lần nữa và như mọi khi,
như trên cho thấy,
không có câu hỏi nào khẩn thiết hơn
những câu hỏi thơ ngây.


Nguyên tác:

Miał być lepszy od zeszłych nasz XX wiek.
Już tego dowieść nie zdąży,
lata ma policzone,
krok chwiejny,
oddech krótki.


Już zbyt wiele się stało,
co się stać nie miało,
a to, co miało nadejść,
nie nadeszło.


Miało się mieć ku wiośnie
i szczęściu, między innymi.


Strach miał opuścić góry i doliny.
Prawda szybciej od kłamstwa
miała dobiegać do celu.


Miało się kilka nieszczęść
nie przydarzyć już,
na przykład wojna
i głód, i tak dalej.


W poważaniu być miała
bezbronność bezbronnych,
ufność i tym podobne.


Kto chciał cieszyć się światem,
ten staje przed zadaniem
nie do wykonania.


Głupota nie jest śmieszna.
Mądrość nie jest wesoła.


Nadzieja
to już nie jest ta młoda dziewczyna
et cetera, niestety.


Bóg miał nareszcie uwierzyć w człowieka
dobrego i silnego,
ale dobry i silny
to ciągle jeszcze dwóch ludzi.


Jak żyć - spytał mnie w liście ktoś,
kogo ja zamierzałam spytać
o to samo.


Znowu i tak jak zawsze,
co widać poniżej,
nie ma pytań pilniejszych
od pytań naiwnych.


Thursday, 4 October 2012

Cuộc sống nhọc nhằn cùng ký ức (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Tôi là khán giả tồi cho ký ức của mình.
Nó muốn tôi không ngừng lắng nghe giọng nó,
còn tôi thì cựa quậy không yên, gây mất trật tự,
nghe được chăng hay chớ,
đi ra đi vào, rồi lại đi ra.

Nó muốn chiếm của tôi toàn bộ tâm trí và thời gian.
Khi tôi ngủ, nó làm điều này khá dễ.
Ban ngày thì hên xui, nên nó bực mình.

Nó ấn cho tôi thư, ảnh ngày xưa một cách nhiệt tình,
nó khơi ra những chuyện linh tinh và quan trọng,
hướng mắt tôi vào những nơi bị bỏ qua, sao lãng,
và làm chúng đông đúc lên bằng những người thân đã chết của tôi.

Trong các câu chuyện của nó đương nhiên tôi luôn trẻ hơn rồi.
Điều đó cũng hay, nhưng để làm quái gì mãi cái tình tiết ấy.
Mỗi tấm gương mang cho tôi một thông điệp khác.
Nó nổi trận lôi đình khi tôi nhún vai.

Đầy thù hằn, nó lôi ra mọi lỗi lầm của tôi,
những lỗi lớn, đã được quên dễ dãi.
Nó nhìn vào mắt tôi, chờ đợi
xem phản ứng ra sao.
Rồi cuối cùng lại an ủi ngọt ngào
rằng mọi thứ còn chưa quá tệ.

Ký ức muốn tôi sống cùng và chỉ cho riêng nó.
Tốt nhất là trong căn phòng kín mít tối mò,
nhưng trong các dự định của tôi luôn có ánh nắng bây giờ,
những đám mây thời nay, những con đường hiện tại.

Đôi lúc tôi ngán nó đến tận cổ.
Tôi đề nghị chia tay. Từ nay mãi mãi.
Khi ấy nó mỉm cười thương hại,
bởi biết rằng đó cũng chính là bản án cho tôi.  


Nguyên tác:

Jestem złą publicznością dla swojej pamięci.
Chce, żebym bezustannie słuchała jej głosu,
a ja się wiercę, chrząkam,
słucham i nie słucham,
wychodzę, wracam i znowu wychodzę.
Chce mi bez reszty zająć uwagę i czas.
Kiedy śpię, przychodzi jej to łatwo.
W dzień bywa różnie, i ma o to żal.

Podsuwa mi gorliwie dawne listy, zdjęcia,
porusza wydarzenia ważne i nieważne,
przywraca wzrok na prześlepione widoki,
zaludnia je moimi umarłymi.

W jej opowieściach jestem zawsze młodsza.
To miłe, tylko po co bez przerwy ten wątek.
Każde lustro ma dla mnie inne wiadomości.
Gniewa się, kiedy wzruszam ramionami.

Mściwie wtedy wywleka wszystkie moje błędy,
ciężkie, a potem lekko zapomniane.
Patrzy mi w oczy, czeka, co ja na to.
W końcu pociesza, że mogło być gorzej.

Chce, żebym żyła już tylko dla niej i z nią.
Najlepiej w ciemnym, zamkniętym pokoju,
a u mnie ciągle w planach słońce teraźniejsze,
obłoki aktualne, drogi na bieżąco.

Czasami mam jej towarzystwa dosyć.
Proponuję rozstanie. Od dzisiaj na zawsze.
Wówczas uśmiecha się z politowaniem,
bo wie, że byłby to wyrok i na mnie.