Thursday, 17 July 2014

Bàn về công bằng (Leszek Kołakowski)



(Thái Linh dịch)

Đã có lời bàn về sự công bằng thực chất là nỗi đố kỵ cải trang. Bây giờ xin có vài lời về công bằng như là một thực tại, chứ không phải một sự đội lốt.

Một khi hầu hết các triết gia, luân lý gia và lý thuyết gia pháp luật đều đã gắng sức giải thích công bằng là gì, hành động công bằng, con người công bằng và quốc gia công bằng là gì, cần phải nhận định rằng họ đã không đi đến một sự đồng thuận hay sáng tỏ nào trong vấn đề này. Từ đó cũng cần giả định rằng đây là một trong những viên gạch quan trọng nhất trong tòa nhà khái niệm của chúng ta, khi mà cái số mệnh ấy (không có sự sáng tỏ và đồng thuận) rơi xuống mọi viên gạch quan trọng mà các lý thuyết triết học luận bàn tới.

Trong nhiều trường hợp cụ thể có thể khá dễ dàng đi đến thống nhất về việc một hành động là không công bằng, ví dụ quan tòa tuyên án một người vô tội trên cơ sở những chứng cớ mơ hồ đầy nghi vấn. Cũng có thể, song đã ít hiển nhiên hơn, đưa ra những ví dụ về các hành xử công bằng. Chẳng hạn: ông già Noel chia quà cho mọi trẻ em có mặt trong cuộc vui một cách công bằng; „công bằng” ở đây có nghĩa là „đều nhau”. Nhưng khi nói vậy, có phải chúng ta đã giả định, dù muốn dù không, rằng nguyên tắc „mỗi người đều được bằng nhau” có một giá trị phổ quát? Ta hãy suy nghĩ một chút, phải làm thế nào để không chỉ đơn giản là thay đổi thế giới, mà còn phải lộn nhào trên dây, thực hiện một cuộc cách mạng với hàng triệu quân binh, để đưa được nguyên tắc này vào, dẫu vẫn biết trước rằng nó không đem lại kết quả mong muốn.

Những người viết về đề tài này, từ thời Luân lý học cho Nicomachus của Aristotles, đã không ít lần lưu ý rằng công bằng thường được hiểu đơn giản như là danh từ chung cho một phẩm hạnh; con người công bằng là con người cao quý, hành động công bằng là cái gì đó cần làm trong trường hợp cụ thể theo những quy tắc đạo đức, hành xử công bằng là hành xử phù hợp với chuẩn tắc luân lý hiện hành. Song trong nghĩa bao quát này khái niệm công bằng không mấy hữu dụng. Các chuẩn tắc đạo đức cũng rất khác nhau: chỗ này là đòi hỏi trả thù, chỗ kia là kêu gọi tha thứ, chỗ này được phép, chỗ kia lại không cho phép giết đối thủ chính trị. Cũng không thể nói người hành xử theo đúng luật pháp của nhà nước là công bằng, bởi có thể khẳng định rằng luật pháp đôi khi bất công, và điều này không chỉ ở các thể chế độc tài hay toàn trị (ví dụ trách nhiệm tố giác gia đình hay hàng xóm hay hình phạt vì tàng trữ sách cấm), mà còn cả ở các quốc gia nơi có các định chế dân chủ hoạt động. Một số người cho rằng hệ thống thuế lũy tiến là bất công, những người khác - rằng cấm sở hữu súng, những người khác nữa – rằng để thanh toán sự bất công đã qua thì phải dành các ưu đãi cho con cháu những người từng chịu bất công (ví dụ phân biệt chủng tộc hay phân biệt đối xử với phụ nữ).

Hãy giả thiết rằng tôi là công chức trong một nhiệm sở, nhưng tôi bị đuổi việc, tôi kiện lãnh đạo ra tòa và đòi bồi thường, vì như tôi khẳng định, tôi đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình. Chúng ta hãy tiếp tục giả định rằng tôi thực sự đã hoàn thành các nghĩa vụ đó, nhưng bị đuổi vì tính tình quá kinh khủng, tôi cãi nhau liên tục với mọi người, ai tôi cũng làm mất lòng, tôi thường nổi điên om sòm lên, chả ai chịu nổi tôi. Tôi có quyền đòi „công bằng” không? Điều này phụ thuộc vào định nghĩa từ công bằng, phần lớn chắc hẳn xem việc đuổi tôi là công bằng, nhưng sẽ luôn có một thiểu số với định nghĩa khác (tôi bị đối xử bất công khi tôi đã làm tất cả mọi việc mà người ta trả tiền để tôi làm).

Công bằng, theo công thức cổ xưa, là cho mỗi người cái mà anh ta xứng đáng được hưởng. Nhưng làm sao ta có thể biết được mỗi người xứng đáng được hưởng điều gì, theo sự công bằng phân phối, nghĩa là liên quan đến phân chia lợi ích, hay theo sự công bằng trừng phạt, nơi các lợi ích là phản-lợi ích – tức các hình phạt? Suốt nhiều thế kỷ người ta đã nghiên cứu về đề tài giá cả công bằng hay mức lương công bằng. Dự án đo giá trị hàng hóa thông qua lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra thứ hàng hóa đó có vẻ công bằng, bởi mỗi nhà sản xuất sẽ nhận được tỉ lệ với „công sức” bỏ ra. Song dự án này bất khả thi trong kinh tế thị trường, sự chuyển đổi từ một giá trị chung chung như vậy sang giá cả là không thể. Thị trường định giá, thị trường cũng định mức lương, nhưng thị trường không công bằng và không thể công bằng (nếu ai đó khẳng định thị trường là công bằng thì phải tuyên bố rằng thị trường công bằng từ định nghĩa, song hiển nhiên một giả định như thế chẳng có gì chung với những điều ta thường nghĩ – mặc dù không rõ ràng – khi nói về sự công bằng). Cung và cầu phụ thuộc vào những vận may đỏng đảnh, những trường hợp ngẫu nhiên, khủng hoảng ở một đất nước xa xôi nào đó, những thứ mốt không thể dự đoán trước v.v..., chẳng có gì là công bằng ở đây cả. Nếu thị trường chứng khoán phải tuân thủ các qui tắc công bằng thì nó sẽ không thể tồn tại. Thị trường gây ra các cuộc phá sản và khiến nhiều người mất việc. Quả thực, trong thế giới văn minh con người không chết vì đói, người thất nghiệp có trợ cấp tối thiểu, nhưng đó là các hoạt động phi thị trường của nhà nước, là phương thuốc chữa các hậu quả xấu của cơ chế thị trường. Tương tự, các áp lực xã hội về việc trả lương cũng là phi thị trường. Không thể khác được, khi mà việc loại bỏ thị trường đồng nghĩa với chế độ toàn trị cùng với mọi hệ quả chính trị và kinh tế của nó, với nghèo đói và mất tự do. Có thể nói các bảo đảm của nhà nước cho nạn nhân của thị trường là tác phẩm của công bằng được không? Có thể, với giả định mỗi người „được phép có” các phương tiện để tồn tại, rằng sẽ là tương phản với công bằng nếu ai đó chết vì đói khi có thể ngăn ngừa được điều này. Nhưng nếu không thể ngăn ngừa được, nếu hàng nghìn người chết đói vì nội chiến hay vì sự sụp đổ của mọi cấu trúc xã hội thì sao? Khi đó từ „công bằng” mất nghĩa.

Cũng không cách gì xác định „công bằng” sao cho mỗi lợi ích đều qui đổi được thành một thứ tương ứng; khi tôi cho người ăn xin hay một định chế từ thiện một xu, tôi không trông đợi bất kỳ sự trả công nào. Coi những người bình đẳng như nhau, còn những người bất bình đẳng không như nhau song tỉ lệ thuận với sự khác biệt – qui tắc này của Aristoteles là tốt nhưng khiếm khuyết trong nhiều trường hợp. Quả thực, theo suy tưởng của chúng ta mọi người phải bình đẳng trước pháp luật, do đó nếu luật pháp gây ra sự khác biệt giữa người với người (ví dụ khi tuyên phán thành lập tội danh, khi xét thưởng các đóng góp, khi từ chối các quyền lợi khác nhau của trẻ em, bảo đảm các ưu tiên cho người tàn tật), thì chỉ có thể thực hiện điều đó khi mỗi người thuộc một phạm trù nhất định đều được đối đãi như nhau. Khi chúng ta sống một cách bất khả kháng trong tập thể (đây là điểm được Rawl nhấn mạnh, ông là tác giả của luận văn về công bằng được đánh giá cao nhất trong vòng mấy chục năm trở lại đây), chúng ta cũng tham gia vào việc bảo vệ các quyền lợi tập thể, mà điều này chỉ có thể xảy ra khi mỗi người đều công nhận rằng người khác cũng có những quyền lợi như mình và quyền bảo vệ các quyền lợi ấy như mình.

Nói cách khác, hệ thống xã hội công bằng là hệ thống dựa trên thừa nhận sự có đi có lại của tất cả các đòi hỏi và quyền lợi. Nếu thiếu sự có đi có lại này, tập thể sẽ tan rã. Song liệu tôi có thể tự nhủ: tôi không muốn bất cứ sự có đi có lại nào, tôi chăm chút cho lợi ích của mình, không quan tâm đến lợi ích người khác, và tôi chỉ canh chừng để không ai tóm được gáy tôi? Có thể, nhiều người vẫn hành động như vậy mà không nhất thiết trước đó họ phải suy ngẫm về sự chặt chẽ của khái niệm công bằng; có thể, nhưng khi đó, lúc bị tóm và xử phạt, tôi sẽ không thể kêu ca rằng tôi phải chịu đựng một sự bất công nào đó.

Một khế ước xã hội ngầm chính là nền tảng của trật tự công bằng; vậy thế giới đòi hỏi ở tôi điều gì khi muốn tôi hành xử một cách công bằng? Có lẽ chính là việc tôi công nhận có một khế ước bất thành văn như thế, và rằng xét cho cùng thì điều đó cũng có lợi cho tôi mặc dù tôi khoái có nhiều quyền ưu tiên và chẳng đếm xỉa gì tới người khác hơn. Nhưng ta hãy lưu ý, trong cách hiểu này, công bằng đã không còn là quy tắc: „mỗi người được những gì mình xứng đáng”; hoàn toàn không cần giả định rằng ai đó xứng đáng được cái gì đó, thậm chí ta không cần nói rằng điều gì đó là tốt về mặt đạo đức, chỉ cần công nhận rằng sự đồng thuận về việc có đi có lại trong các đòi hỏi xuất phát từ các quyền lợi ích kỷ sẽ bảo đảm một trật tự ổn định và có thể chịu đựng được. Khái niệm công bằng như một đức hạnh khi đó trở nên không cần thiết. Chúng ta đặt giả thiết rằng mọi người có các quyền lợi mâu thuẫn và rằng sự thiếu hụt trong phần lớn các lợi ích mà người ta theo đuổi là không thể tránh khỏi. Không có bất cứ môn siêu hình học nào về sự công bằng, bất cứ quy định của luật tự nhiên, bất cứ bi kịch Antigone, bất cứ lệnh trời nào.

Nhưng con người luôn muốn biết nhiều hơn, muốn tin vào một trật tự tự nhiên hay một tiếng nói từ trời cao nói cho ta biết ta phải làm gì để thực thi công bằng, mà để có được điều đó thì luật thực định và việc thừa nhận sự có đi có lại của các đòi hỏi là chưa đủ. Chắc chắn tôi có thể hành xử bất công mà vẫn không vi phạm pháp luật, và đôi khi hành xử công bằng nhưng lại vi phạm nó. Có những mối quan hệ giữa người với người mà luật pháp không điều chỉnh (dẫu thời nay luật pháp càng ngày càng muốn điều chỉnh nhiều hơn) nhưng khái niệm công bằng lại được sử dụng. Chắc chắn khái niệm công bằng không thể đòi hỏi tôi đối xử với tất cả mọi người như nhau, không phân biệt những người thân thiết với tôi, bạn bè và những người tôi yêu. Nếu tôi làm vậy, tôi sẽ là một con quái vật. Tôi được phép ưu tiên những người khác nhau tuy theo tình cảm của mình (và thừa nhận rằng mỗi người đều được phép như thế), ngoại trừ các mối quan hệ mà pháp luật áp đặt điều gì đó bởi đòi hỏi vô tư không thiên vị. Chúng ta sẽ cảm thấy không hợp lý lắm nếu thẩm phán hay thành viên bồi thẩm đoàn tham gia phiên xử mà anh trai mình là bị cáo, hoặc một giảng viên hỏi thi con gái của mình. Bởi vậy chúng ta đặt giả thiết (có lẽ là hợp lý) rằng mỗi người đều bị tình nghi là họ sẽ cho những người họ đặc cách các quyền ưu tiên khi có thể.

Nhưng thực ra, điều mà tinh thần thế giới trông đợi ở chúng ta hoàn toàn không phải sự công bằng, mà là lòng tốt đối với người thân, tình bạn và lòng thương xót, nghĩa là những phẩm chất không cách nào đưa ra khỏi sự công bằng. Dưới góc độ này, chúng ta làm theo Chúa, như học thuyết Cơ đốc dạy dỗ chúng ta. Các học thuyết này nói rằng Chúa thường không hành xử với chúng ta theo các quy tắc công bằng, mà chỉ bằng tình yêu thương không có quy tắc nào hết. Không một ai tuyên bố học thuyết này có thể có công đức tới mức được hưởng sự cứu rỗi vĩnh cửu một cách công bằng; phát biểu điều này là đủ, để thừa nhận rằng đây là sự thật hiển nhiên. Các khuynh hướng cực đoan của Cơ đốc Giáo, của dòng August gốc, còn cho rằng nếu Chúa trị vì theo sự công bằng, thì chúng ta xuống địa ngục cả lượt, không có ngoại lệ, tất cả chúng ta đều đáng bị nguyền rủa đời đời. Ngay cả khi ta không chấp nhận thứ chủ nghĩa cực đoan này, thì lương năng cũng thầm nhắc chúng ta rằng sự cứu rỗi vình hằng không thể là sự đền đáp công bằng cho các công đức của chúng ta, dẫu đó là công đức vĩ đại nhất song hữu hạn. Bởi vậy, Chúa không công bằng, nhưng Chúa đầy lòng xót thương. Chúng ta cũng hãy như thế, không quá lo lắng về sự công bằng, đó chính là kim chỉ nam tốt.

(Trích từ tập Các thuyết trình mini vầ những vấn đề maxi, NXB Znak, Kraków 2008) 

Wednesday, 16 July 2014

Ghi chép (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Sống – là cách duy nhất
để phủ đầy lá quanh mình,
thở hổn hển trên cát,
hay cất cánh bay;

để làm một chú chó
hoặc vuốt ve bộ lông ấm của nó;

để phân biệt cơn đau
với tất cả những gì không phải là cơn đau;

để có mặt trong các sự kiện
xuất hiện trong những cảnh tượng,
tìm kiếm sai lầm nhỏ nhất trong số các sai lầm.

Là cơ hội đặc biệt
để nhớ trong chốc lát
những điều đã trò chuyện
bên ngọn đèn leo lét;

và để ít nhất một lần
vấp phải hòn đá,
bị ướt dưới mưa,
đánh mất chìa khóa trên bãi cỏ;

để nhìn theo tia chớp trong gió;

và để luôn luôn không rõ
về một điều quan trọng nào đó.


Nguyên tác:

Notatka

„Życie – jedyny sposób
aby obrastać liśćmi,
łapać oddech na piasku,
wzlatywać na skrzydłach,
być psem,
albo głaskać go po ciepłej sierści;
odróżniać ból
od wszystkiego co nim nie jest;
mieścić się w wydarzeniach,
podziewać w widokach,
poszukiwać najmniejszej między omyłkami.
Wyjątkowa okazja,
żeby przez chwilę pamiętać,
o czym się rozmawiało
przy zgaszonej lampie;
i żeby raz przynajmniej
potknąć się o kamień,
zmoknąć na którymś deszczu,
zgubić klucze w trawie;
i wodzić wzrokiem za iskrą na wietrze;
i bez ustanku czegoś ważnego
nie wiedzieć”.

Friday, 4 July 2014

Vấn đề của Việt Nam gần gũi với Ba Lan - Rafał Tomański

Tọa đàm về Biển Đông tại Đại học Almamer ngày 03.07.2014
(các diễn giả từ trái sang phải: Nguyễn Thái Linh - Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông, Lã Đức Trung (chủ tọa), nhà báo Rafał Tomański, GS. TS. Małgorzata Pietrasak - ĐH Łódz, Ảnh: Võ Văn Long)


Anh cả, quân đội trong tình trạng cho vào viện bảo tàng, những bước thận trọng trên từng tảng đá khi vươn ra biển – những từ ngữ này đã vang lên trong buổi tọa đàm về tình hình hiện nay của Việt Nam.

Hôm thứ Năm vừa qua, tại trường đại học Almamer ở Warszawa đã diễn ra buổi tọa đàm về những sự kiện đang xảy ra trên Biển Đông. Hội thảo do Viện Văn hóa và Khoa học Việt Nam của trường cùng Câu lạc bộ Lê Quý Đôn tổ chức. Chủ đề của buổi tọa đàm là chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tranh chấp nóng hổi

Từ đầu tháng 5, Trung Quốc đã hoạt động một cách hiệu quả để gây hấn người hàng xóm phía Nam của mình. Cuộc đọ sức diễn ra trên vài chiến tuyến. Trên Biển Đông số giàn khoan Trung Quốc đặt nhân lên, xem thường mọi yêu sách chủ quyền của Việt Nam và bất chấp sự phê bình của quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc. Máy bay khu trục lượn trên đầu ngư dân Việt Nam, những người cứ vài ngày lại phải chịu đựng sự tấn công của hải quân Trung Quốc. Những chiếc máy bay này lẽ ra cũng phải ở chỗ khác. Cuộc chiến lan tới cả các thư viện, nơi cả hai phía cùng lục tìm những tài liệu lịch sử ngày một cổ hơn và đáng tin hơn khẳng định chủ quyền của các hòn đảo tranh chấp mà xung quanh chúng đang diễn ra tất cả mọi chuyện lùm xùm.

Trong buổi gặp ở đại học Almamer, mọi người được xem hai bản đồ cổ của Đức. Một bản đồ từ cuối thế kỷ XIX, một bản đồ từ thời giữa hai thế chiến. Cộng đồng người Việt ở Ba Lan đã mua chúng từ thư viện của Đức và sẽ gửi về Việt Nam trong thời gian gần nhất để làm bằng chứng rằng các quần đảo Hoàng są và Trường Sa thuộc về Việt Nam từ xưa. Đây không phải là hoạt động duy nhất của người Việt ở Ba Lan. Từ tháng 5 đã có hai cuộc biểu tình của cộng đồng trước đại sứ quán Trung Quốc phản đối sự có mặt của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam. 16 nghìn đô la Mỹ đã được quyên góp để giúp sức trong việc bảo vệ lãnh hải. Các sự kiện ở Warszawa này hầu như đã bị truyền thông Ba Lan bỏ qua.

Lòng nhiệt thành của người Việt

Trong cuộc gặp, có thể thấy được lòng nhiệt thành tha thiết của người Việt đối với việc bảo vệ lãnh thổ. Họ có những lý do nghiêm trọng để bất an, bởi vẫn chưa biết đến bao giờ Trung Quốc mới dời giàn khoan. Sụ không khoan nhượng trong các hành động của Bắc Kinh trên Biển Đông không khiến cho những người dân thường cảm thấy yên ổn. May là chính quyền Việt Nam không mất bình tĩnh và không để cho bị khiêu khích. Những sự kiện xảy ra cách xa chúng ta hàng ngàn cây số có thể khiến ta nghĩ đến hành động của Nga đối với Ukraine và Crime. Trung Quốc là phiên bản Nam Á của nước Nga, là cường quốc vĩ đại với những khả năng quân sự vô hạn, bắt người khác phải theo ý mình. Việt Nam cũng tựa như Ucraine, muốn hướng đến phương Tây, muốn giữ vai trò là một trong những đồng minh quan trọng của Mỹ – bộ tham mưu Mỹ sẵn lòng nhìn thấy liên minh Mỹ cùng với Nhật, Hàn Quốc, Philippines và Việt Nam – và họ biết rằng trên nhiều lãnh địa họ có thể chiến thắng Trung Quốc về kinh tế. Hàng trăm những hòn đảo nhỏ nằm rải rác giữa Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia là Crime mà Putin Trung Quốc có thể tùy hứng đe dọa, xâm lược, xây căn cứ quân sự hay sử dụng cho những mục đích riêng.

Trung Quốc tạo ra những chủ thể quốc tế mới dưới hình thức các đảo nhân tạo gần Philippines. Làm sao có thể xác định tình trạng pháp lý của những hòn đảo nhân tạo do Trung Quốc đắp lên gần như từ con số không, nơi trên đó họ xây hàng đống nhà cửa, nền tảng cho các căn cứ quân sự và nơi thành phố nhỏ nhất của Trung Quốc được thành lập? Làm sao Việt Nam có thể giữ bình tĩnh và kiểm soát hành động của mình để có thể đương đầu được với gã khổng lồ từ hàng thế kỷ nay vốn coi họ chỉ như thằng em út? Đạo Nho và sự phục tùng đối với anh và những kẻ mạnh hơn xuất phát từ đạo Nho khiến cho những người nhỏ hơn và yếu hơn phải chịu sự bất tương xứng. Một đất nước được hình thành và tồn tại trong tinh thần của những tương quan lực lượng bất bình đằng qua nhiều thế kỷ như thế phải làm thế nào để đấu tranh cho lý lẽ của mình? Việc hiện đại hóa quân đội có ý nghĩa gì nếu đằng nào thì tầm vóc khả năng quân sự của Việt Nam cũng không thể chống lại được sức mạnh của Trung Quốc? Và cuối cùng, từ những hành động của Trung Quốc từ trước tới nay có thể dự đoán được những động thái tiếp theo của họ hay không? Hành động ráo riết quá mức trên Biển Đông của Trung Quốc hiện nay bắt nguồn từ những động thái trước đó của chính phủ họ. Hai năm trước, người Trung Quốc được nhận hộ chiếu mới với hình bản đồ có vẽ các quần đảo tranh chấp, còn từ một năm rưỡi nay người Nhật đã thấy Trung Quốc sát sạt trong cuộc tranh giành một quần đảo khác là Senkaku / Diaoyu.

Hậu quả có thể nghiêm trọng

Những vấn đề này đòi hỏi phải suy nghĩ rất nhiều, bởi những bất an ở châu Á có những hậu quả nghiêm trọng cho cả thế giới. Hậu quả của việc số tàu hải quân và hải giám Trung Quốc tập trung lên đến mức nguy hiểm có thể gây ra thảm họa kinh tế và chính trị không chỉ cho Việt Nam và Philippines, mà còn cho cả Nhật, Trung Quốc và Mỹ – người đang chăm chú quan sát tình hình trong khu vực. Những xáo trộn ở châu Á có thể lan rộng hậu quả ra thế giới rất nhanh, và khi đó người ta mới thấy rằng lẽ ra nên suy nghĩ sớm hơn và giúp đỡ trong việc giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ bề ngoài có vẻ như vô hại và chẳng mấy quan trọng liên quan đến vài hòn đảo nhỏ xíu mấp mé nổi lên mặt biển, nơi chẳng có nước ngọt, nhưng lại có hàng nghìn con rùa biển đẻ trứng to tới vài kí lô.

(bài đăng trên nhật báo Rzeczpospolita ngày 04.07.2014, Thái Linh dịch)
http://www.rp.pl/artykul/628874,1123359-Wietnamska-sprawa-bliska-Polsce.html

Một số hình ảnh từ buổi tọa đàm:














(Ảnh: Võ Văn Long)



Wednesday, 4 June 2014

Bàn về tự do (Leszek Kołakowski)


(Thái Linh dịch)
Có hai phạm vi tư duy nơi vấn đề tự do được suy xét, cả hai đều rất rộng; chúng độc lập với nhau về lô-gíc tới mức việc bản thân từ „tự do” thích hợp với cả hai không còn là điều hiển nhiên. Phạm vi tư duy thứ nhất là cuộc vật lộn vĩnh cửu với câu hỏi: ”con người có tự do không?”, tự do từ chính bản chất loài người của mình, từ bẩm sinh đã được hưởng tự do bất khả tước đoạt? Tự do theo nghĩa này - tức là, thí dụ, khả năng chọn lựa, sự chọn lựa hoàn toàn không bị cưỡng bách bởi bất cứ thế lực nào ngoài nhận thức con người – đã vừa bị nghi vấn vừa được công nhận nhiều như nhau trong lịch sử văn hóa. Tranh cãi này có liên quan nhưng không đồng nhất với tranh cãi về tất định luận phổ thông. Nếu mỗi sự kiện đều đã được định sẵn tuyệt đối bởi toàn bộ các điều kiện nơi nó xảy ra, thì việc bàn về tự do lựa chọn chẳng còn nghĩa lý gì. Nếu từ bản chất, luật nhân quả chung là tuyệt đối đến thế thì chúng ta hẳn đã bị buộc phải đưa ra những kết luận đầy nghịch lý. Điều được định sẵn hoàn toàn bởi các điều kiện thì cũng khả lường - „trên nguyên tắc”, mặc dù không nhất thiết „thực hiện được”. Bởi vậy ta có thể tưởng tượng rằng, khi kỹ năng tiên đoán của chúng ta được hoàn thiện đúng mức, một ngày nào đó, trên cơ sở tất định luận, ta có thể đọc, thí dụ, một tin như sau trên báo: „hôm qua Janek Kowalski đã sinh ra ở Piotrkow, người sau này sẽ trở thành nhà soạn nhạc kiệt xuất. Để chào mừng sự kiện này ngày mai Dàn nhạc Giao hưởng Warszawa sẽ chơi bản giao hưởng số 3 mà anh sẽ sáng tác vào năm 37 tuổi.”

Song tự do không chỉ là sự lựa chọn giữa những khả thể sẵn có, mà còn là sự sáng tạo, làm ra những điều hoàn toàn mới mẻ, hoàn toàn bất ngờ.

Trước kia cả các nhà vật lý lẫn các triết gia đều tin vào tất định luận cứng nhắc; họ không có chứng cớ cho nó, nhưng họ cho rằng niềm tin này là sáng suốt hiển nhiên, chỉ có những kẻ lầm lẫn mới nghi ngờ và nó là cơ sở tất yếu của tư duy khoa học và duy lý. Trong thế kỷ của chúng ta, niềm tin này bị bẻ gãy, chủ yếu nhờ ngành cơ học lượng tử, và gần đây nhất nhờ cả thuyết hỗn độn. Các nhà vật lý đã vứt bỏ giáo điều tất định luận. Tất nhiên từ đây không thể kết luận rằng con người được ban tặng ý chí tự do – các điện tử không có ý chí tự do – mà chỉ có thể khẳng định rằng niềm tin vào ý chí tự do không bị vật lý học xóa sổ hay làm cho vỡ mộng. Không. Có thể, thậm chí theo tôi là cần phải, tin vào sự tự do lựa chọn – theo nghĩa trên – và vào sự sáng tạo lựa chọn mới; tự do là một trải nghiệm sơ đẳng của chúng ta, trải nghiệm của mỗi người; nó sơ đẳng tới mức không thể tách ra thành các phần để có thể phân tích riêng rẽ, do đó có thể cảm tưởng rằng tự do là một thực tại phi chứng minh. Không có lý do nào để không tin vào trải nghiệm này, dẫu chính vì nó sơ đẳng. Chúng ta thật sự là thủ phạm của các hành động mà ta thực hiện, chứ không chỉ là công cụ của các thế lực khác nhau quét qua thế giới, dẫu rằng, tất nhiên, chúng ta bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên. Chúng ta cũng thật sự đặt ra cho mình các mục tiêu, tốt hay xấu, mà chúng ta hướng tới. Các điều kiện ngoại giới hay những người khác có thể khiến mong ước của chúng ta tan vỡ, chúng ta có thể, thí dụ, bị hạn chế về thể lực tới mức không có khả năng thực hiện hiệu quả bất cứ lựa chọn nào, nhưng chúng ta vẫn không bị lấy mất năng lực lựa chọn, mặc dù bị mất đi khả thể sử dụng thứ tự do này.

Như vậy là thứ tự do này được ban cho con người đồng thời với nhân tính của họ, là nền tảng của nhân tính ấy, tạo ra con người như một điều gì đó đặc biệt từ bản chất.

Ở đây không có lý do gì để chúng ta khẳng định theo thánh Augustin và Kant, rằng chúng ta chỉ tự do khi lựa chọn cái tốt chứ không chọn cái xấu, do đó tự do của chúng ta được xác định qua nội dung sự chọn lựa chứ không phải bản thân khả năng chọn lựa. Khẳng định như vậy nghĩa là gói gọn các học thuyết luân lý vào chính khái niệm tự do.

Song ta cũng nói về thứ tự do không hiện hữu trong bản chất tồn tại của chúng ta, mà lại là tác phẩm của văn hóa, của đời sống tập thể và pháp luật. Tự do theo nghĩa này là phạm vi các hành động của con người mà tổ chức xã hội không cấm cũng không bắt buộc, do đó con người có thể chọn những gì họ thích, làm hay không làm điều gì đó mà không gây ra nguy cơ bị trả đũa. Tự do theo nghĩa này tất nhiên là có mức độ, nó có thể nhiều hay ít hơn và ta thường so sánh các thể chế chính trị khác nhau bằng thước đo tự do – từ những thể chế nơi tự do gần bằng không, tức các thể chế toàn trị với hình thức cực đoan (ví dụ nước Nga thời Stalin, Trung Quốc thời Mao Trạch Đông và các chế độ cộng sản châu Á khác, Đức Quốc xã), đến các thể chế nơi các lệnh cấm và mệnh lệnh được giới hạn đến tối thiểu. Các chế độ toàn trị luôn có tham vọng điều chỉnh mọi hành vi của con người và không để cho các cá nhân có quyền chọn lựa. Các chế độ độc tài nhưng không toàn trị thì muốn lấy đi tự do của con người trong mọi lĩnh vực nơi tự do có thể là mối đe dọa cho chính quyền, nhưng trong các vấn đề không ảnh hưởng đến việc giữ chính quyền thì chúng không hướng tới việc kiểm soát tuyệt đối và không cần phải có một hệ tư tưởng toàn diện, bao quát.

Dễ thấy là mặc dù tự do theo nghĩa này có thể bị giảm thiểu đến bằng không, song nó lại không thể trở thành vô hạn. „Tình trạng tự nhiên” giả định mà trước đây các lý thuyết gia về đời sống xã hội xét đến, nơi không có bất cứ quyền lợi, luật lệ, bất cứ tổ chức đời sống tập thể nào, mà chỉ là cuộc đấu tranh không dứt của tất cả chống lại tất cả, chưa từng tồn tại, nhưng nếu tình trạng này có tồn tại đi chăng nữa, thì nó cũng sẽ không bao giờ là tình trạng tự do vô hạn. Không thể nói rằng trong một thế giới như thế „mọi thứ đều được phép” (hay „được làm mọi thứ”), vì một điều có thể được phép hay không là bởi một luật lệ nào đó. Nơi không có luật thì cũng không có tự do, từ này sẽ mất ý nghĩa; nói cách khác tự do trong thế giới của chúng ta luôn bị giới hạn. Robinson Crusoe không hưởng thụ sự tự do vô hạn, nói cho cùng thì anh ta không hưởng thụ chút tự do nào hết. Tự do – lớn hơn hay nhỏ hơn – chỉ có thể có được ở nơi có gì đó được phép và có gì đó bị cấm (xin nhắc lại, để vấn đề được sáng tỏ hơn, một câu tiếu lâm mà tôi không biết của ai, có từ thời chiến tranh thế giới thứ nhất: ở Áo những gì không bị cấm là được phép, ở Đức những gì không được phép là bị cấm, ở Pháp mọi thứ đều được phép kể cả những gì bị cấm, ở Nga tất cả mọi thứ đều bị cấm kể cả những gì được phép).

Qua đây chúng ta thấy rằng, mặc dù hai nghĩa trên của từ „tự do” rất khác nhau, tới mức có thể có tự do theo nghĩa thứ nhất mà không có tự do theo nghĩa thứ hai, song chúng có liên hệ với nhau ở mức độ ta có thể sử dụng cùng một từ mà không ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới, miễn là chúng ta không trộn lẫn các nghĩa đó với nhau. Trong cả hai trường hợp đều nói đến khả năng lựa chọn: trong nghĩa thứ hai là về các điều kiện tình thế của sự lựa chọn, về những gì nói chung tổ chức xã hội và luật pháp chừa lại cho chúng ta lựa chọn; trong nghĩa thứ nhất là về các điều kiện tinh thần của chính chúng ta cho sự lựa chọn và sáng tạo, về bản thân thực kiện rằng chúng ta có quyền năng lựa chọn và sáng tạo, mặc dù khả năng này của chúng ta không giả định bất cứ điều gì về phạm vi các lợi ích mà ta có thể thực sự lựa chọn.

Có hai sai lầm phổ biến cần chú ý khi nói về tự do. Sai lầm thứ nhất chúng ta mắc phải khi đổ vấy khái niệm tự do cho mọi đòi hỏi của con người và mọi lợi ích mà người ta khao khát. Thật ra cũng chẳng có gì không ổn trong câu: „tôi đã tự giải phóng khỏi cơn đau” hay „cơn đói”; nhưng mặc dù không bị đau hay bị đói là đòi hỏi cơ bản nhất của con người, thì cũng không đúng nếu nói rằng khi đòi hỏi này được thỏa mãn, chúng ta sẽ được hân hưởng một thứ tự do cụ thể nào đó. Khi đó nói về „tự do” là nhẫm lẫn bởi vấn đề ở đây không phải là phạm vi cũng như khả thể chọn lựa hay sáng tạo bất cứ thứ gì. Cơn đau qua đi và như vậy là tốt, loại bỏ cơn đau là lợi ích vô cùng đáng khao khát; lợi ích đáng khao khát cũng có thể là quả táo cho người đang đói hay giấc ngủ cho người mệt mỏi hay bất cứ thứ gì mà con người thèm muốn. Nhưng loại bỏ cơn đau hoặc ăn táo không phải là một thể loại tự do, mà là lợi ích đáng khao khát. Biết bao người trong thế kỷ chúng ta, và trước kia nữa, đã hy sinh đời mình trong cuộc đấu tranh cho tự do đúng nghĩa, nên việc kéo giãn ý nghĩa của từ này ra cho bất kỳ thứ gì bất kỳ khi nào con người khao khát sẽ làm mờ tối mạng lưới khái niệm của chúng ta và tước đi năng lực của từ chuẩn; cốt lõi của khái niệm bị đánh mất. Sự phân biệt phổ biến giữa „tự do đối với cái gì đó” và „tự do để làm điều gì đó” là không cần thiết.

Sai lầm thứ hai là khi cho rằng tự do theo nghĩa pháp lý thứ hai sẽ không có ý nghĩa nếu các đòi hỏi khác không được đáp ứng. Đây là một lý lẽ trước kia được những người theo chủ nghĩa cộng sản sử dụng phổ biến: „việc nhà nước có tự do chính trị thì giúp được gì cho một người thất nghiệp đói khát?” Nhưng nó giúp được đấy. Cái đói có thể là một cảm giác cấp bách hơn sự thiếu tự do chính trị , song khi các tự do này hiện hữu, những người thất nghiệp đói khát có nhiều cơ hội hơn rất nhiều để phấn đấu cải thiện số phận, họ có thể tố chức đấu tranh cho lợi ích của mình và có thể đòi hỏi quyền lợi nếu thấy mình bị thiệt thòi.

Do vậy, nếu việc gọi mọi lợi ích đáng khao khát là tự do là sai (dầu sao thì một trại tập trung không có nạn đói là điều có thể hình dung, nhưng sẽ là mạo hiểm nếu khẳng định rằng trại tập trung này bảo đảm cho các tù nhân các tự do nhất định, trong khi đó một thể chế tự do bảo đảm các tự do khác), thì không có gì phải nghi ngờ rằng tự do trong nghĩa pháp lý cũng là một ích lợi rất đáng khao khát; ở đây nó là lợi ích tự thân, không chỉ bởi nó là công cụ và điều kiện để đạt được các lợi ích khác.

Ít nhất từ đây dẫn đến kết quả là càng nhiều tự do (theo nghĩa này) càng tốt. Nguyên tắc này không thể được chấp nhận một cách vô hạn định. Chắc chắn phần đông trong chúng ta cho là tốt khi nhiều hành vi trước kia bị trừng phạt giờ đây không còn bị trừng phạt nữa, ít nhất là ở các nước văn minh (ví dụ đồng tính luyến ái hay phép thuật). Nhưng không ai có tư duy lành mạnh lại đòi hỏi tự do đi xe bên phải hoặc bên trái đường tùy thích. Ở nhiều nước có những ý kiến cho rằng trẻ em ở trường có quá nhiều tự do, quá ít kỷ luật và điều đó ảnh hưởng tới cả chất lượng giảng dạy lẫn giáo dục đạo đức và công dân. Hơn nữa hoàn toàn không chắc là trẻ em từ những tuổi nhỏ nhất muốn có càng nhiều không gian chọn lựa càng tốt, mặc dù khao khát này lớn lên theo tuổi tác; có lẽ trẻ nhỏ chấp thuận một cách tự nhiên rằng người lớn bảo cho chúng biết cần phải làm gì và chúng không đòi hỏi người lớn để chúng tự lựa chọn. Chính người lớn chúng ta trong nhiều việc cũng dễ dàng nghe theo sự lựa chọn của người khác; chúng ta không tự tin và chờ đợi lời khuyên của các chuyên gia dẫu biết rằng không phải chuyên gia nào cũng xứng đáng được tin tưởng. Ta biết rằng sự chọn lựa tốt thường phụ thuộc vào hiểu biết về sự vật, và không ai có thể khoe mình có kiến thức đầy đủ trong mọi chuyện khi cần chọn lựa. Chúng ta có tự do nhưng thà không sử dụng nó đối với những việc chúng ta không thành thạo.

Tóm lại, không có một nguyên tắc quan trọng chung xác định tự do nhiều hơn hay ít hơn bao nhiêu là tốt đối với chúng ta. Đôi khi chúng ta có cơ sở cho rằng tự do cũng có thể quá nhiều, không chỉ quá ít, và rằng tự do vượt ra ngoài một số khuôn khổ sẽ gây hại. Chắc hẳn sẽ an toàn hơn nếu luật pháp mắc tội khi cho phép quá nhiều hơn là quá ít tự do để công dân tự quyết, nhưng ngay cả nguyên tắc này cũng không thể được thừa nhận vô hạn chế.

(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi", NXB Znak, Kraków 2008)

Monday, 2 June 2014

Ấn tượng từ nhà hát (Wisława Szymborska)


(Thái Linh dịch)


Trong vở bi kịch, hồi sáu với tôi là quan trọng nhất:
cuộc phục sinh từ những cảnh chiến trường,
tóc giả, xiêm y được chỉnh đốn sửa sang
con dao được rút ra từ lồng ngực,
cổ được tháo đi chiếc dây thòng lọng
đứng cùng người sống xếp hàng ngang
hướng mặt về người xem.

Những màn cúi chào chung, những màn cúi chào riêng:
bàn tay trắng trên trái tim thương tích,
cái nhún chân của cô gái quyên sinh
thủ cấp đã bị chặt nghiêng đầu.

Những cặp đôi cúi chào cùng nhau:
sự dịu hiền khoác tay giận dữ
nạn nhân hân hoan nhìn tên đao phủ,
tên phiến loạn chẳng hề hấn gì cùng bạo chúa sánh vai.

Cái giẫm lên vĩnh cửu của mũi giày.
Vành mũ tròn đuổi xua đạo đức.
Sự sẵn sàng khiếm khuyết
để bắt đầu lại từ ngày mai.

Đi hàng một tiến vào những người chết từ trước rất lâu
ở hồi ba, hồi tư và giữa các hồi trong vở.
Sự trở lại tuyệt vời của những người bặt tín vô âm.

Ý nghĩ rằng họ không cởi bỏ phục trang,
chẳng tẩy rửa phấn son,
kiên nhẫn đứng sau cánh gà chờ đợi,
khiến tôi xúc động hơn nhiều lời kịch tràng giang.

Nhưng thực long trọng uy nghiêm chính là lúc hạ màn
và những gì dưới rèm nhung còn thấy được:
đây một bàn tay nhặt vội bông hoa,
bàn tay khác ở kia chụp thanh gươm rớt
Chỉ khi đó bàn tay vô hình thứ ba
mới thi hành bổn phận:
nắm lấy cổ họng tôi siết nghẹt.


 Nguyên tác:

Wrażenia z teatru 

Najważniejszy w tragedii jest dla mnie akt szósty:
zmartwychwstanie z pobojowisk sceny,
poprawianie peruk, szatek,
wyrywanie noża z piersi,
zdejmowanie pętli z szyi,
ustawianie się w rzędzie pomiędzy żywymi
twarzą do publiczności.

Ukłony pojedyncze i zbiorowe:
biała dłoń na ranie serca,
dyganie samobójczyni,
kiwanie ściętej głowy.

Ukłony parzyste:
wściekłość podaje ramię łagodności,
ofiara patrzy błogo w oczy kata,
buntownik bez urazy stąpa przy boku tyrana.

Deptanie wieczności noskiem złotego trzewiczka.
Rozpędzanie morałów rondem kapelusza.
Niepoprawna gotowość rozpoczęcia od jutra na nowo.

Wejście gęsiego zmarłych dużo wcześniej,
bo w akcie trzecim, czwartym, oraz pomiędzy aktami.
Cudowny powrót zaginionych bez wieści.

Myśl, że za kulisami czekali cierpliwie,
nie zdejmując kostiumu,
nie zmywając szminki,
wzrusza mnie bardziej niż tyrady tragedii.

Ale naprawdę podniosłe jest opadanie kurtyny
i to, co widać jeszcze w niskiej szparze:
tu oto jedna ręka po kwiat śpiesznie sięga,
tam druga chwyta upuszczony miecz.
Dopiero wtedy trzecia, niewidzialna,
spełnia swoją powinność:
ściska mnie za gardło.

Sunday, 1 June 2014

(ballet) Don Quixote

(Kitri trong vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng) 


 Có thể nói Don Quixote một trong những chủ đề xuyên suốt lịch sử ballet. Vở ballet đầu tiên với chủ đề này được trình diễn vào năm 1614, đúng 400 năm trước trong hoàng cung Pháp với nhan đề „Le ballet de Don Quichot”. Kể từ đó, Don Quixote liên tục trở đi trở lại trên sân khấu, là nguồn cảm hứng của biết bao thế hệ vũ công và biên đạo, từ thời ballet cung đình baroque, qua thời phục hưng, lãng mạn và hậu lãng mạn, cho tới tận ballet tân cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại. Hầu hết các nhà biên đạo ballet lừng danh đều đã dựng vở Don Quixote của mình, từ Louis-Jacques Milon, Charles-Louis Didelot, Paul Taglioni... qua August Bournonville, Marius Petipa, Aleksandr Gorski, Ninette de Valois tới George Balanchine, Rudolf Nuriejew, Alexei Fadeyechev... Trong số đó, Don Quixote do Marius Petipa dàn dựng với âm nhạc của Ludwig Minkus đã trở thành một kinh điển lớn của nghệ thuật ballet.

Có lẽ không cần giới thiệu nhiều về Marius Petipa, nhà biên đạo người Pháp, là cha đẻ và một tên tuổi gắn liền với thời hoàng kim của ballet Nga mà bất cứ người nào có đôi chút quan tâm đến ballet đều không thể không biết, tác giả của các vở ballet nổi tiếng như Hồ thiên nga, Công chúa ngủ trong rừng, Kẹp hạt dẻ, Faust, Raymonda, La Bayadère... Nhưng còn Ludwig Minkus? Nhạc sĩ người Áo gốc Do Thái này là một trong những nhà soạn nhạc ballet sáng tác dồi dào nhất, với gần 30 vở, gắn bó gần như cả cuộc đời mình với nước Nga và ballet Nga. Nhưng tên tuổi của ông không vượt ra ngoài khuôn khổ các vở ballet, và Don Quixote là một trong những tác phẩm khiến ông không bị rơi vào quên lãng sau khi qua đời năm 1917 tại cố quốc trong đói nghèo và cô đơn, mộ phần bị quân quốc xã san phẳng năm 1939. Bi kịch của ông là đã sống và sáng tác trong thời đại mà các nhà biên đạo chủ yếu chú trọng đến các vũ điệu và tính kể chuyện, sự hoàn hảo về trang trí hơn là các yêu cầu nghệ thuật khác cao hơn trong ballet. Âm nhạc của ông phục vụ những mục đích ấy, nơi nhà soạn nhạc phải ưu tiên các vũ công và nhà biên đạo và do đó, không được các nhà âm nhạc học thời nay đánh giá cao. Nhưng chúng ta còn nhớ, vào thời đó, khi các vở Công chúa ngủ trong rừng hay kẹp hạt dẻ được trình diễn lần đầu, các nhà phê bình đã không tiếc lời chê bai âm nhạc củ Tchaikovsky là vứt đi, hay „không thể múa được”.

Don Quixote của Marius Petipa, mặc dù dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của Cervantes, thật ra không phải là một phản chiếu sắc nét của chủ đề văn học này. Nhân vật Don Quixote mờ nhạt, thậm chí chỉ là cái cớ để các vũ công trình diễn các vũ điệu nối tiếp, liên tục. Xét về nội dung, có thể nói đây là một vở ballet không mấy phong phú hay sâu sắc. Nhưng về mặt biên đạo, đây là một vở ballet xuất sắc và kiểu mẫu (nhất là sau khi được Aleksander Gorski bổ sung thêm). Marius Petipa dựng Don Quixote khi đã là một nhà biên đạo dày dạn kinh nghiệm, sau khi đã tự mình biên soạn các vũ điệu không ai bì kịp theo trường phái ballet divertissement thời kỳ đỉnh cao với tính chất tân cổ điển. Trong Don Quixote tràn ngập những vũ điệu Tây Ban Nha mà Marius Petipa thông thạo hơn ai hết, bởi ông đã dựng các vở ballet đầu tiên của mình ở Madrid, và chính ông đã học múa các vũ điệu dân gian Tây Ban Nha trong những năm 1845-1847. Màn múa giấc mơ của Don Quixote trong hồi 2 là một trong những tuyệt tác của biên đạo ballet. Tiết mục múa đôi (pas de deux) của Kitri và Basilio ở hồi 3 (còn được gọi là Grand pas de deux) đã được các nghệ sỹ ballet kiệt xuất của các thời đại khác nhau gặt hái không biết bao nhiêu thành công vang dội trên khắp thế giới. Tiết mục múa đơn xoay 32 vòng (fouettés) của Kitri luôn là niềm chờ đợi của khán giả, không ít người còn đếm xem vũ công có xoay đủ 32 vòng hay không. Các vũ điệu trong Don Quixote vui tươi, sinh động, đầy nhiệt huyết nhưng cũng đầy quyến rũ, khiến người xem hoàn toàn chìm đắm trong một không gian Tây Ban Nha tràn ngập nhịp điệu và sắc màu.



(Grand pas de deux của Kitri và Basilio do Svetlana Zakharova và Andrei Uvarov thực hiện)



(Natalia Opisova trong vai Kitri và tiết mục xoay 32 vòng)

Vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng và trình diễn lần đầu vào năm 2014 theo biên đạo của Marius Petipe với phần biên đạo mới của nhà biên đạo Nga nổi tiếng Alexei Fadeyechev mang lại cho người xem tất cả không khí và tinh thần Tây Ban Nha ấy. Sân khấu được dàn dựng với những sắc màu tươi sáng, rực rỡ trong hồi 1 với không khí vũ hội linh đình, trong màn giấc mơ của Don Quixote ở hồi 2 lại tối giản và tinh khiết với gam màu trắng và lơ chủ đạo, tới hồi 3 lại là sự kết hợp khéo léo và tinh tế giữa các màu sắc rực rỡ với các màu thanh nhã nhẹ nhàng... có thể nói là phần dàn dựng đẹp nhất và thành công nhất cho vở Don Quixote mà tôi từng được xem. Vũ đoàn với các vũ công kỹ thuật rất cao nên Alexei Fadeyechev tha hồ có đất dụng võ và đã không khiến khán giả thất vọng.

(Thái Linh)

Thursday, 1 May 2014

Mùa Xuân tinh khiết

Tôi đến Thụy Sĩ gặp bạn vào mùa Xuân. Thật lạ, lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác hồi hộp và hào hứng đến thế. Trước mỗi chuyến đi xa, tất nhiên, đều có chút háo hức. Nhưng sau bao nhiêu chuyến đi tôi đã tưởng chẳng có gì có thể làm mình hồi hộp nữa. Tôi đi chỉ để gặp bạn, đơn giản vậy thôi, chúng tôi chọn Thụy Sĩ vì đây là nơi cả hai chưa từng đến và gần nơi bạn tôi đang làm việc.

Vậy mà lần này lại hồi hộp với một chuyến đi có vẻ như vô tội: bạn là bạn cũ, rất cũ, và Thụy sĩ không phải là nơi tôi định „chinh phục”. Làm sao có thể chinh phục một đất nước cái gì cũng chính xác và hoàn hảo, đầy rẫy xa xỉ phẩm, nơi người ta nói tới 4 thứ tiếng hành chính và một nửa dân số Geneva – thành phố tôi đến – có hộ chiếu nước ngoài? Làm sao có thể hồi hộp với một nơi chỉ gợi lên những hiệp định, hiệp ước, Liên Hợp Quốc, những cuộc họp, những cuộc trưng cầu dân ý, tinh thần thượng tôn pháp luật tuyệt đối, những ngân hàng và những cái máy đo thời gian mà người ta vẫn gọi là đồng hồ? Thậm chí cả với sự bình yên không chiến tranh từ gần 2 thế kỷ? Có thể khâm phục hay ngưỡng mộ những điều ấy, thậm chí có thể cảm thấy chúng... chán ngắt, nhưng vì sao lại hồi hộp?

Quả thực Thụy Sĩ – chẳng gì thì cũng là nơi khai sinh của ngành du lịch hiện đại - còn có Alps và những đỉnh núi như Metterhorn hay Dufourspitze, còn có hàng nghìn hồ nước lớn nhỏ không ai đếm xuể. Nhưng hồ và núi chưa bao giờ hấp dẫn tôi hơn biển. Mỗi khi có dịp, tôi đều tìm cách ra biển. Vậy cớ gì mà hồi hộp?

Tôi không biết. Chỉ biết khi máy bay sắp hạ cánh, nhìn xuống những ngọn núi trùng điệp của dãy Alps đỉnh còn trắng tuyết, tôi đã thành thật xúc động. Như khi lần đầu xem bức tranh „Nhớ một chiều Tây Bắc” của Phan Kế An. Và tôi nhớ Trần Dần. „Bản tôi ở/ non che/ núi phủ./ Những cánh buồm mây/ san sát/ đậu/ quanh nhà./ Một biển sương lam/ gió cuộn-/ bồng bềnh”... Những lời gọi ra đi. „Đi!/ Đi!-/ Trên đá nhọn tháng ngày,/ Chẳng quay nhìn/ vệt máu/ sau chân.”

Đi luôn là niềm thôi thúc của thi nhân. „Tôi không gọi là thi nhân những người làm thơ, có vần điệu hay không có vần điệu. Tôi gọi là thi nhân những người có thể thay đổi thế giới một cách sâu xa”(i). Trần Dần đã đi. Rimbaud đã đi. Phải chăng tôi hồi hộp vì chính sự ra đi? Nhưng tôi đã có bao nhiêu cuộc ra đi kia mà, những chuyến đi còn dài hơn xa hơn?

Tôi không giải thích được cảm xúc của mình cho đến khi ngồi với bạn trong quán Con tàu say ở làng cổ Yvoire trên đất Pháp, bên bờ hồ Geneva. Một ngẫu nhiên, một tình cờ lạ lùng, bởi chúng tôi không chủ ý chọn quán này. Thực đơn của quán được in bằng phông chữ viết tay nắn nót trên giấy kẻ ô ly, bài thơ Con tàu say xuyên suốt từ bìa đầu sang bìa sau. Rimbaud. Rimbaud. Rimbaud! Chàng thi sĩ tôi mơ hồ thoáng nhớ khi nghĩ đến sự ra đi của những thi nhân, vào thời khắc đó, khi chúng tôi ngồi trong quán giữa một buổi trưa mùa Xuân xanh lừng, đột nhiên trở về chất ngất trong tâm trí, chói lòa như một vết gươm, tinh khiết như một dòng máu phun trào.

Tinh khiết. Đó là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về Rimbaud. Tinh khiết. Đó cũng là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về bạn tôi suốt bao năm và vừa chợt nhận ra điều ấy khi nhìn bạn tôi lim dim say rượu vang, má hây hồng chòng chành ngồi trên con tàu trở về Thụy Sĩ, mặt hồ xanh biếc phẳng lặng gặp bầu trời xanh biếc phẳng lặng ở một điểm xa hút tầm mắt, nước trong suốt và không khí trong suốt.

Tôi đã tìm thấy một viên đá xanh!

 

Tôi nhớ lại màu tuyết trắng tinh khôi trên những đỉnh núi Alps, và những đồng cỏ non tươi, những đàn bò, những cánh đồng hoa cải vàng màu nguyên thủy dọc các con đường chúng tôi đi qua, bầu không khí trong trẻo dịu dàng của những ngày đầu Xuân, làng Annecy đầy cỏ hoa tinh khiết đẹp như buổi sơ khai, đàn thiên nga trắng muốt tựa những đóa hoa loa kèn dập dờn trên làn nước xanh trong tới đáy của hồ Geneva.... Tất cả đều là một cảm giác tinh khiết rưng rưng. Không phải tôi đến Thụy Sĩ, Annecy hay Yvoire, mà là đến với sự tinh khiết. Tôi cảm động, hồi hộp, vui thích không phải vì những danh từ, mà vì một tính từ. Tính từ ấy, nấp sau bao danh từ chỉ vạn vật, là nơi chốn tôi muốn trở về, là điều tôi luôn trân quý nâng niu giữa cuộc sống bề bộn ồn ào. Tinh khiết. Và bạn tôi là hiện thân sống của tính từ ấy!

Tôi đã định nói với bạn điều này ngay khi xuống tàu, nhưng ngôn ngữ thật bất lực và ngại ngùng . Mà có lẽ tôi cũng không cần phải nói ra. Tôi vẫn tin có một thứ ngôn ngữ khác xuyên qua hết thảy - bất chấp những ngôn từ thường nhật, bất chấp những phù phiếm xôn xao, bất chấp những đau đớn vô lý, những phẫn nộ và mỉa mai của cuộc sống - như một thứ ánh sáng tinh khiết lan tỏa giữa chúng tôi, giữa sự mẫn cảm của chúng tôi, giữa những ước vọng, mộng mơ và tư tưởng, khiến chúng tôi thấu hiểu nhau. Ngôn ngữ ấy - có vần hay không có vần, được nói ra hay không được nói ra - tôi gọi là thi ca.

Cũng không biết vì sao sáng nay, sau những ngày quay cuồng trong công việc như vẫn thế sau mỗi chuyến đi, tỉnh dậy muộn trong buổi sáng đầu tiên của kỳ nghỉ lễ, chưa rửa mặt, chưa chải tóc, việc đầu tiên tôi làm sau khi nhìn thấy bầu trời xanh tinh khiết ngoài cửa sổ là mở laptop, viết những dòng lộn xộn lan man này. Tặng bạn.


Warszawa, ngày đầu tiên của tháng Năm, 2014
  
---------
Chú thích:
(i)  Henry Miller

Wednesday, 19 February 2014

Những đứa con của thời đại (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Chúng ta là những đứa con của thời đại,
thời đại chính trị.

Mọi chuyện của anh, của chúng ta, của các bạn
chuyện ban ngày, chuyện ban đêm
Đều là chuyện chính trị.

Dù muốn dù không
các gen di truyền của anh vẫn mang quá khứ chính trị
da anh mang màu chính trị
đôi mắt anh mang cái nhìn chính trị

Mọi điều anh nói đều có tiếng vang,
Mọi sự lặng im của anh đều là thông điệp
Đằng nào cũng là chính trị hết.

Ngay cả khi thả bộ trong rừng
Anh cũng bước những bước đi chính trị
Trên nền đất chính trị.

Những câu thơ phi chính trị cũng là chính trị,
Vầng trăng sáng trên cao,
không còn là trăng nữa.
Tồn tại hay không tồn tại, đó là câu hỏi.
Câu hỏi gì, mến thương ơi, hãy trả lời đi.
Câu hỏi chính trị.

Thậm chí anh chẳng cần phải là người
Để có được tầm quan trọng chính trị.
Chỉ cần anh là dầu lửa
ngũ cốc hay nguyên liệu tái chế - là đủ.

Hoặc là cái bàn hội nghị, mà hình dạng
bị tranh cãi hàng tháng:
đàm phán về chuyện sinh tử
bên bàn tròn hay vuông.

Trong khi đó con người vẫn bỏ mạng,
súc vật chết,
nhà cửa vẫn cháy
đồng ruộng hoang tàn
như trong những thời đại mịt mùng xa lắc

không chính trị bằng.


Nguyên tác:Jesteśmy dziećmi epoki,
epoka jest polityczna.

Wszystkie twoje, nasze, wasze
dzienne sprawy, nocne sprawy
to są sprawy polityczne.

Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.

O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.

Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.

Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.

Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.

Albo I stołem obrad, o którego kształt
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci,
okrągłym czy kwadratowym.

Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.


Tuesday, 18 February 2014

Tra tấn (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch
Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể biết đau,
phải ăn, ngủ và hít thở,
nó có làn da mỏng, ngay dưới da là máu,
có móng và răng - một số lượng khá nhiều,
xương dễ gãy, các khớp co dãn.
Khi tra tấn, tất cả những điều này đều được xét đến.

Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể run lên, như đã từng run
trước khi thành La Mã được lập nên, và sau đó,
vào thế kỷ hai mươi trước và sau Thiên Chúa,
những đòn tra tấn vẫn như xưa,
chỉ trái đất ngày càng nhỏ lại
và bất kỳ điều gì xảy ra cũng tựa như cách một bức tường.

Chẳng có gì đổi thay.
Chỉ có người ngày một nhiều hơn,
Bên cạnh những đòn cũ xuất hiện nhiều đòn mới,
đòn thật sự, tưởng tượng, không có, hay tạm thời,
nhưng tiếng kêu thét thân thể đáp lại chúng
đã, đang và sẽ là tiếng kêu vô tội,
theo cung bậc và âm giai xưa cũ đời đời.

Chẳng có gì đổi thay.
Có chăng chỉ là kiểu cách, lễ nghi, các điệu vũ.
Động tác đưa tay lên che đầu
thì vẫn nguyên như cũ.
Thân thể quằn quại, co giật, giãy ra,
bị chặt chân sụp xuống, khuỵu gối,
bầm tím, sưng vù, chảy máu và dãi nhớt.

Chẳng có gì đổi thay.
Ngoại trừ những bờ sông,
đường biên của rừng, bờ biển, sa mạc và sông băng.
Giữa những phong cảnh ấy, một linh hồn bé nhỏ dật dờ,
khi ẩn, khi hiện, khi gần lại, khi xa mờ,
xa lạ với bản thân, không cách gì nắm bắt,
lúc chắc chắn, lúc phân vân
về sự hiện hữu của chính mình,
trong khi thân thể vẫn có đó, có đó và có đó
mà chẳng chốn nương thân.



Nguyên tác:
Nic się nie zmieniło.
Ciało jest bolesne,
jeść musi i oddychać powietrzem i spać,
ma cienką skórę, a tuż pod nią krew,
ma spory zasób zębówi paznokci,
kości jego łamliwe, stawy rozciągliwe.
W torturach jest to wszystko brane pod uwagę.

Nic się nie zmieniło.
Ciało drży, jak drżało
przed założeniem Rzymu i po założeniu.
w dwudziestym wieku przed i po Chrystusie,
tortury są, jak były, zmalała tylko ziemia
i cokolwiek się dzieje, to tak jak za ścianą.

Nic się nie zmieniło.
Przybyło tylko ludzi,
obok starych przewinień zwawiły się nowe,
rzeczywiste, wmówione, chwilowe i żadne,
ale krzyk, jakim cialo za nie odpowiada,
był, jest i będzie krzykiem niewinności,
podług odwiecznej skali i rejestru.

Nic się nie zmieniło.
Chyba tylko maniery, ceremonie, tańce.
Ruch rąk osłaniających głowę
pozostal jednak ten sam.
Ciało się wije, szarpie i wyrywa,
ścięte z nóg pada, podkurcza kolana,
sinieje, puchnie, ślini się i broczy.

Nic się nie zmieniło.
Poza biegiem rzek,
linią lasów, wybrzeży, pustyń i lodowców.
Wśród tych pejzaży duszyczka się snuje,
znika,powraca, zbliża się, oddala,
sama dla siebie obca, nieuchwytna,
raz pewna, raz niepewna swojego istnienia,
podczas gdy ciało jest i jest i jest
i nie ma się gdzie podziać.

Kết thúc và khởi đầu (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.

Phải có người xúc đống gạch nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy xác
đi qua.

Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.

Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.

Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh khác.

Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.

Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa mất.
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm thấy
những thứ đó chán ngấy.

Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào lên
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.

Những người biết
về những điều từng xảy ra nơi đây
phải nhường chỗ cho những người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.

Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm

và ngây ngắm mây bay.


Nguyên tác:
    Koniec i początek

    Po każdej wojnie

    ktoś musi posprzątać.
    Jaki taki porządek
    sam się przecież nie zrobi.
    Ktoś musi zepchnąć gruzy
    na pobocza dróg,
    żeby mogły przejechać
    wozy pełne trupów.
    Ktoś musi grzęznąć
    w szlamie i popiele,
    sprężynach kanap,
    drzazgach szkła
    i krwawych szmatach.
    Ktoś musi przywlec belkę
    do podparcia ściany,
    ktoś oszklić okno
    i osadzić drzwi na zawiasach.
    Fotogeniczne to nie jest
    i wymaga lat.
    Wszystkie kamery wyjechały już
    na inną wojnę.
    Mosty trzeba z powrotem
    i dworce na nowo.
    W strzępach będą rękawy
    od zakasywania.
    Ktoś z miotłą w rękach
    wspomina jeszcze jak było.
    Ktoś słucha
    przytakując nie urwaną głową
    Ale już w ich pobliżu
    zaczną kręcić się tacy,
    których to będzie nudzić.

    Ktoś czasem jeszcze
    Wykopie spod krzaka
    przeżarte rdzą argumenty
    i poprzenosi je na stos odpadków.

    Ci, co wiedzieli
    o co tutaj szło,
    muszą ustąpić miejsca tym,
    co wiedzą mało.
    I mniej niż mało.
    I wreszcie tyle co nic.

    W trawie, która porosła
    przyczyny i skutki,
    musi ktoś sobie leżeć
    z kłosem w zębach
    i gapić się na chmury.