Monday, 11 April 2016

Kỷ nguyên của dối trá (chúng ta bị lừa mị như thế nào)



Phỏng vấn nhà xã hội học nổi tiếng, giáo sư Zygmunt Bauman do Jacek Żakowski - phóng viên tạp chí Polityka thực hiện tháng 12.2004.
Trích từ tập Hành trang cần thiết của người trí thức”. Thái Linh dịch.
Jacek Żakowski: - Ông không thể tưởng tượng được tôi đã vui mừng thế nào khi ông nói về „niềm đam mê lột trần những dối trá bao che trách nhiệm về những bất hạnh của con người...” trong cuộc trò chuyện với Keith Tester. Nhưng Tester đã không khai triển mạch này. Và tôi vẫn không biết những dối trá ấy là gì. Giờ ta hãy thử vạch trần chúng một cách triệt để.
Zygmunt Bauman: - Triệt để? Anh định triệt để vạch trần và đưa đám sự dối trá?
Tôi rất muốn ông ít nhất cũng hạ gục vài sự dối trá lớn.
Thế thì anh đã ở thế yếu rồi. Cuộc chiến với dối trá là bất khả chiến thắng. Dối trá tự bản chất là vĩnh cửu và có ở khắp nơi. Georges Duhamel đã rất thông thái khi nói rằng: „Giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ”.
Ông cũng cho rằng như vậy?
Điều này có thể dễ dàng chứng minh một cách lô gích. Cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng. Thế nhưng các câu trả lời dối trá thì có cả đống.
Vậy vì sao „niềm đam mê lột trần dối trá” lại dẫn lối cho một trong những nhà xã hội học đương đại vĩ đại nhất?
Hẳn là anh muốn nói đến những dối trá chính trị?
Nếu như chúng thường bao che „bất hạnh của con người” nhất.
Điều này không mấy thú vị. Dối trá chính trị sớm muộn gì cũng trở nên rõ ràng đối với tất cả mọi người. Chẳng ai ngạc nhiên khi nghe thấy rằng Blair nói dối về vũ khí khủng khiếp của Hunsein, hoặc rằng Đức đã nói dối về cuộc tấn công của Ba Lan vào đài phát thanh ở Gliwice. Ở đây chẳng cần đến triết học lẫn xã hội học. Những thứ ấy chỉ làm tôi mất thời gian. Tôi quan tâm đến những lò xo ẩn quyết định số phận của những con người bình thường – như anh và tôi.
Ông tin là có „những lò xo ẩn của số phận”?
Có những quá trình vĩ đại mà chúng ta tiếp nhận như những đòn đánh hay bản án của số phận, mặc dù về bản chất chúng là hậu quả hành động có ý thức ít hay nhiều của ai đó. Có những sự kiện có vẻ như bất ngờ hay bất khả kháng, nhưng lại xuât phát từ chuỗi quyết định của con người, từ hệ thống các mối liên kết mà chúng ta có thể có ảnh hưởng nếu biết tự ý thức.
Những âm mưu lớn nào đó?
Những tham vọng thầm kín thì đúng hơn, chúng vẫn luôn hiên hữu nhưng ngày nay chúng đặc biệt phức tạp và khó tránh khỏi bởi có tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau hiển nhiên của các vận mệnh toàn cầu. Chuyện một tia sét từ trời quang đánh trúng đầu người công nhân đang làm việc trong nhà máy ở Leeds hay ở Warszawa có thể là hậu quả của điều gì đó xảy ra ở Singapore hay New York. Người công nhân chẳng biết gì về điều ấy và cũng chẳng có chút ảnh hưởng nào đối với nó. Hơn nữa – thậm chí Gordon Brown (bộ trưởng tài chính Anh), tổng thống Pháp, thủ tướng Đức hay thủ tướng Ba Lan cũng chẳng có ảnh hưởng gì.
Điều này chưa có gì chung lắm với sự dối trá.
Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau toàn cầu khiến nguyên nhân của vị thế chúng ta thoát khỏi các quan sát của con người. Điều này mở ra một không gian chưa từng thấy trong lịch sử cho những sự dối trá và lừa mị vĩ đại. Trước kia không có ngần ấy chỗ cho dối trá, bởi vì các mối nguy hiểm và cách bảo vệ trước chúng được hình thành trong mối liên hệ hiển nhiên. Nếu có bệnh dịch thì cần phải đóng cửa không cho người lạ vào. Nếu có lũ lụt thì phải leo lên ngọn đồi khô ráo. Ngày nay chúng ta không hiểu được mối liên hệ giữa các hiểm nguy và hành động của chúng ta. Ta được biết về chúng từ những người thông thái viết trên báo chí. Ô nhiễm không khí, hành tinh nóng lên, lỗ thủng tầng ô zôn, nguồn gốc của tình hình kinh tế, nguyên nhân khủng bố, lý do thất nghiệp – đó không phải là những hiện tượng có thể nắm bắt được bằng các giác quan tự nhiên. Các chuyên gia nói cho chúng ta nghe về chúng. Nếu các chuyên gia không nói, chúng ta không biết mình đang đứng trước nguy hiểm. Hơn thế nữa – vì chúng ta phải dựa vào ý kiến của các chuyên gia để đánh giá tình hình và một người bình thường không có cách gì kiểm soát họ, người ta có thể nói dối chúng ta thoải mái. Các chuyên gia có thể nói với chúng ta rằng khí nhà kính không có hại, rằng thuyết đơn phương tốt hơn việc xây dựng cộng đồng quốc tế, rằng đó là con đường đúng đắn duy nhất đưa đến phát triển, rằng sô cô la hay rượu kéo dài tuổi thọ hoặc ngược lại.
Và theo ông là không có cách gì xác minh điều đó.
Không có! Thực tế ai cũng có thể ngang nhiên nói dối chúng ta. Trước kia ai cũng rõ là các chính trị gia nói dối, bởi thế người ta tìm sự thật ở các chuyên gia, những người có thẩm quyền, các trí thức, những nhà thông thái. Ngày nay các chuyên gia, trí thức, những nhà thông thái nói dối cũng ngang nhiên và nhẹ nhàng như các chính trị gia mỗi lúc một nhiều hơn. Bởi vậy khi chúng ta nghe thấy theo các nghiên cứu gần nhất một thứ men nào đấy có trong thức ăn kéo dài hoặc rút ngắn tuổi thọ, thì mọi người lập tức hỏi ngay: „Ai tài trợ cho nghiên cứu này?”. Ngày càng phổ biến ý kiến cho rằng nếu nghiên cứu được tập đoàn sản xuất thuốc lá đặt hàng thì kết quả sẽ là thuốc lá tốt cho sức khỏe. Chắc hẳn chẳng còn luận điểm nào vô lý đến mức không thể đánh đổ nó bằng kết quả các nghiên cứu tiến hành trong các trung tâm được công nhận.
Nhưng có thể đánh đổ nó bằng các nghiên cứu khác.
Chính thế! Có thể đánh đổ hoặc chứng minh luận điểm đúng đắn nhất hay ngu ngốc nhất dễ dàng như nhau! Và chúng ta được gì? Khi tra từ khóa „sự dối trá” ở Google tiếng Ba Lan, tôi tìm thấy trong vòng hai phần mười giây hơn 10400 tài liệu. Con người có thể làm gì với điều này? Còn với từ khóa „sự an toàn” gần đây tôi nhận được địa chỉ tới 17 triệu tài liệu. Tôi có nhờ vậy mà thông thái hơn không? Paul Virilio viết về „quả bom thông tin” mà theo ông còn nguy hiểm đối với sự tồn tại của loài người hơn cả bom nguyên tử, bởi nó ngăn cản việc hiểu được những gì đang xảy ra.
Và việc đưa ra những quyết định hợp lý.
Việc phán đoán đã trở nên bất khả rồi, nói gì đến quyết định hợp lý!
Do đó ngày nay sự dối trá căn bản đầu tiên là luận điểm rằng chúng ta có thể phân biệt dối trá và sự thật?
Chúng ta không biết phân biệt và ngày càng không biết. Đó là siêu dối trá của tư duy duy lý đương đại, vô sở bất tại và đang ngày một hùng mạnh. Chúng ta biết phân biệt dối trá và sự thật ư?
Nhưng đó chưa phải là một trong những điều dối trá vĩ đại đương thời „bao che trách nhiệm về bất hạnh của con người.”
Đó là điều dối trá mở ra khả năng gói ghém giả dối tránh nhiệm vào bất cứ cái hộp nào.
Ví dụ?
Ví dụ sự an toàn.
Nghĩa là?
Ở đây có lẽ tôi đã tháo dỡ ra được điều gì đó, nhưng tôi đề nghị kiên nhẫn một chút. Anh có nhớ lý thuyết của Bahtin nói rằng bản chất của quyền lực là dựa trên nỗi sợ không? Trước hết là nỗi sợ vũ trụ mà hầu như mỗi người đều cảm thấy từ thủa lọt lòng. Mỗi khi nghĩ đến vũ trụ, nhìn những cơn sóng lớn, những vực sâu, những ngọn núi ngất trời, chúng ta cảm thấy sự nhỏ bé, mong manh, bất lực của mình. Đó là nỗi sợ tự nhiên mà từ đó tôn giáo, văn hóa, triết học lấy được sức mạnh. Nỗi sợ thứ hai là nỗi sợ chính quyền. Sức mạnh của quyền lực chính trị dựa vào đó. Nỗi sợ chính quyền có thể được tạo ra. Để đạt đến sức mạnh của nỗi sợ vũ trụ, quyền lực chính trị phải được cắt đo theo cỡ quyền lực của Thượng đế. Nó phải có quyền năng rộng khắp, vô sở bất tại và bất khả thấu. Đó phải là quyền lực tầm cỡ của cả Kinh Thánh và Sách Job gộp lại. Bởi Job rốt cuộc đã cảm nhận được, điều đó có nghĩa là Thượng đế không chỉ tạo ra, mà còn thay đổi luật lệ theo ý mình, vì vậy không có sự tuân phục luật lệ Thượng đế nào bảo đảm an toàn cho chúng ta trên trần thế. Leszek Kołakowski đã đào sâu vấn đề này thật tuyệt vời. Và trước đó Carl Schmidt đã viết: „quyền lực thực sự tự chủ phụ thuộc vào sức mạnh thực hiện các ngoại lệ”. Sư phụ trong lãnh vực này là Stalin, người đã khủng bố được toàn thể xã hội, tới mức thậm chí những người phục tùng nhất cũng không chắc chắn được về ngày mai, bởi vậy họ biết ơn hắn chỉ bởi hắn không tống họ vào nhóm những kẻ nổi loạn. „Stalin yêu dấu chăm lo cho người lương thiện – Người đã không đày tôi đi Siberia”.
Nhưng cái đó liên quan như thế nào đến thế giới ngày nay?
Vâng, mỗi chính quyền, bao gồm cả chính quyền ngày nay, để thực hiện vai trò của mình, cần tính chính danh gieo rắc trên nỗi sợ. Đó không thể là nỗi sợ vũ trụ như trong thời ai Cập cổ đại – bởi chính quyền của chúng ta là thế tục. Nhất thiết cần có nỗi sợ chính quyền. Chính quyền đứng trước công dân phải có thể nói với anh ta: „Chính chúng tôi bảo vệ anh trước các hiểm nguy đang rình rập. Chỉ có việc tuân phục các luật lệ do chính quyền đặt ra cho cộng đồng chúng ta mới khiến anh được an toàn!” Nhưng chính quyền ấy ngày nay phải bảo vệ chúng ta trước điều gì? Trước kia các hiểm nguy của thế giới rất hiện thực. Các hiểm nguy là thiên tai, súc vật, kẻ lạ. Chính quyền phải bảo vệ nhân dân trước những điều này. Sau đó là các chu trình kinh thế, khủng hoảng, thất nghiệp. Từ thời Bismarck nhà nước nhận phần bảo vệ trước những hiểm nguy khác nữa, sau thế chiến II nó mang hình thức nhà nước xã hội đảm bảo cho mọi người điều kiện sống tối thiểu và bảo hiểm cho cá nhân trong các trường hợp bất hạnh – ốm đau, thất nghiệp, tàn tật, nghèo đói và tuổi già. Các nhà nước của thế kỷ hai mươi theo một nghĩa chính trị nào đó là các hợp đồng bảo hiểm. Mô hình này đang kết thúc. Nhà nước đương đại đã không còn biết bảo hiểm cho các công dân của mình trước các bất hạnh cá nhân. Không có cả nguồn lực lẫn ý muốn làm điều đó. Nó đẩy trách nhiệm này cho các lực thị trường và sự khôn ngoan của cá nhân. Ai không xoay xở được sẽ trở thành „người bỏ đi”. Thế giới đương đại là thế giới của „bản kiểm kê thiếu”. Thứ gì không sử dụng được hoặc đã bị chán sẽ bị vứt bỏ. Trước tiên những thứ bị vất vào sọt rác mỗi lúc một nhiều hơn. Giờ đây cả con người, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các châu lục cũng bị vứt vào sọt rác. Châu Phi trở thành „rác thải của toàn cầu hóa”. Khi ngọn gió chính trị hay kinh tế thay đổi, gần như mỗi người chúng ta đều có thể ngày một ngày hai trở thành rác. Và càng lúc càng khó tin được việc ai đó bảo vệ chúng ta trước điều đó. Nhất là nhà nước. Rủi ro cuộc sống đã bị tư nhân hóa và cá thể hóa.
Nhưng sự dối trá nằm ở đâu?
Tôi đang tiến đến nó, nhưng ở đây bắt đầu có các bậc thang. Bởi chính quyền, để có tính chính danh, để biện minh cho đòi hỏi phục tùng, phải là lá chắn duy nhất trước các nguy hiểm đe dọa công dân và là người dẫn đường đến thế giới an toàn. Chính quyền đương đại, vẫn mang tính địa phương như thời xưa, nhưng hoạt động trong thế giới toàn cầu hóa, đã không thể và không muốn bảo vệ chúng ta trước những đỏng đảnh của thị trường, trước số phận bất hạnh, trước rủi ro bệnh tật. Có sự cám dỗ - và do đó tồn tại khả năng - chuyển chức năng bảo vệ trước nỗi sợ mà nhân danh nó chính quyền đòi hỏi chúng ta phục tùng từ phạm vi này sang phạm vi khác.
Sang phạm vi nào?
Ở đây tôi có chút khó khăn về ngôn ngữ. Để chỉ việc không có các nguy cơ trong tiếng Ba Lan chỉ có một từ - an toàn. Tiếng Anh có hai từ: security và safety. Security liên quan đến các mối liên hệ xã hội – thứ ở Ba Lan gọi là an toàn xã hội – như thu nhập ổn định, thoát nghèo, có nhà ở, hy vọng vào tuổi già yên ổn. Còn safety liên quan chủ yếu đến sự bảo toàn cơ thể – sự chắc chắn là tôi không bị ai đầu độc bằng thức ăn hay nước uống, không bị ai trộm hay cướp, không bị ai bắn, không bị ai bắt cóc mất con, không bị đặt bom... Chính quyền đương đại ngày càng hướng sự chú ý của nhân dân theo hướng này nhiều hơn. Không thể hứa hẹn cho nhân dân security và một xã hội nơi họ có thể cảm thấy secure, chính quyền càng ngày càng nói nhiều hơn về các hiểm họa safety. Họ muốn lấy được lòng biết ơn của chúng ta, khi không có bom nổ, khi ta không bị bọn côn đồ đánh, hay khi ăn mày bị quét sạch khỏi đường phố. Báo động vàng. Báo động da cam. Báo động đỏ. Phù, thành công rồi, cuộc tấn công đã bị vô hiệu hóa! Càng ít security, càng nhiều hưng phấn và ồn ào quanh safety. Có thể bằng cách này làm nhân dân nhầm lẫn, mất cảnh giác, hướng sự chú ý của chúng ta khỏi những bê bối và bất lực của chính quyền.
Điều này có thể được khẳng định trong các so sánh quốc tế. Cuộc chiến với khủng bố nóng bỏng nhất ở những nơi nhà nước ít quan tâm nhất đến phạm vi security hoặc từ bỏ chúng một cách đột ngột nhất – Mỹ, Anh, Ba Lan. Những nước không có gì đặc biệt xảy ra với security thì cuộc chiến này có vẻ nhẹ nhàng hơn.
Nhưng điều này không chỉ liên quan đến cuộc chiến với khủng bố. Trong các phạm vi khác của safety mức độ căng thẳng cũng phân bố tương tự. Càng ít security, thì cuộc chiến với khói thuốc lá, với việc vượt tốc độ trên đường bộ, với bạo hành gia đình và các thể loại côn đồ... càng ồn ào. Ở Mỹ ám ảnh chống thuốc lá bắt đầu cùng với chủ nghĩa tân tự do và lớn lên cùng nó. Ở Đức chính quyền bắt đầu nói về việc lái xe vượt tốc độ trên đường cao tốc khi nhà nước xã hội bắt đầu bị cắt giảm. Chắc không phải ngẫu nhiên mà ở châu Âu luật cấm hoàn toàn việc hút thuốc lá trong nhà do chính Ireland đưa ra,nước có chỉ số cạnh tranh cao nhất – nghĩa là, nói cách khác, ít safety nhất, các rủi ro cuộc sống rõ ràng nhất và nhà nước ít mang tính phúc lợi nhất.
Ông có cảm giác là bằng cách đó, chính quyền đánh lạc hướng sự chú ý của người dân khỏi những cuộc cải cách đau đớn?
Tôi không biết chứng minh điều này. Nhưng tôi nhìn thấy sự đồng thời rất rõ ràng. Và tôi cũng thấy những người bị tước mất security dễ dàng đồng ý với các hạn chế được biện minh bằng nhu cầu bảo vệ safety cho họ hơn. Tôi đã quan sát phản ứng của hàng nghìn người lang thang ở sân bay London khi các chuyến bay đi Mỹ bị hoãn vì có báo động khủng bố. Không có ai chửi bới, mọi người ngoan ngoãn chờ đợi. Họ nói về cái chính quyền đã hoãn các chuyến bay với sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn. Người ta mất kỳ nghỉ hay công chuyện ở Mỹ cũng chẳng sao. Mọi người đều hạnh phúc vì chính quyền đã lo lắng cho họ. „Nếu chúng ta ngồi cùng máy bay với bọn khủng bố thì sẽ ra sao? Nghĩ đến cũng đã thấy sợ rồi!”. Thực kiện là chẳng có tên khủng bố nào bị bắt và không có dấu vết đáng tin nào được đưa ra về việc ai đó có thể bị nguy hiểm không khiến cho lòng biết ơn của công dân giảm xuống.
Nhưng sự dối trá ở đâu?
Tôi không biết có sự dối trá không. Nhưng tôi biết là có một không gian mới cho dối trá và lừa mị (manipulation) dân chúng. Tôi không biết bọn khủng bố có thực sự có kế hoạch gì không. Nhưng tôi biết rằng nếu chính quyền tự nghĩ ra báo động đó, như Stalin luôn liên tiếp nghĩ ra những âm mưu gây tranh cãi, thì chính quyền sẽ có được lòng biết ơn của mọi người mà gần như không tốn chút hơi sức nào. Không thể kiểm tra được điều này trên thực tế. Rủi ro ở đây khác với các hiểm nguy khác, bởi nó không nhìn thấy được, khó đo đếm và không được xác minh.
Có thể dễ dàng khẳng định có vụ nổ nào không hay những người về hưu có được tăng lương hưu hay không. Nhưng rất khó đánh giá có rủi ro thực tế về việc bom nổ hay không. Chắc luôn có rủi ro nào đó.
Xét từ số báo động giả và từ nhưng dối trá chính trị bị đưa ra ánh sáng, có thể giả định là ở đây chúng ta có vấn đề.
Nhưng có lẽ ông cũng tin là có khủng bố chứ?
Tôi tin là có và tôi tin chính quyền chiến đấu với khủng bố, nhưng tôi cảm thấy họ lạm dụng - có thể là một cách có ý thức – nỗi sợ mà khủng bố gây ra để xóa đi các khía cạnh ít vẻ vang hơn trong hoạt động của họ. Những cái xe tăng bao vây sân bay London có phải là để chiến đấu với khủng bố? Hay nhiều hơn là để tăng cảm giác bị đe dọa và cảm giác biết ơn của công dân đối với chính quyền đang bảo vệ họ và nhờ nó mà họ giữ được mạng sống? Anh có tưởng tượng được việc dùng xe tăng để tìm một phụ nữ mang chất nổ trong người và sẽ làm nổ máy bay không? Trong cuộc chiến với không tặc xe tăng ít hiệu quả, nhưng chúng gây ấn tượng mạnh với những người đang sợ hãi. „Họ lo lắng cho chúng ta, chăm sóc chúng ta, bảo vệ chúng ta, chúng ta mang ơn họ về mạng sống”.
Ông cho rằng chính phủ và các cơ quan an ninh ở Mỹ, Anh, Ba Lan hay Ý đã có những âm mưu để biến chúng ta thành bầy người sợ hãi, mất phương hướng, dễ bị lừa mị và mất tự chủ?
Tôi nói về sự bất khả thấu nguyên nhân của các mối đe dọa safety, về sự khó khăn ngày càng lớn trong việc điều tra sự thật, về phạm vi ngày một rộng hơn của việc sử dụng sự dối trá. Trong gương mặt khủng hoảng tính chính danh của chính quyền xuất phát từ những quá trình toàn cầu hóa, phải chăng nhà nước có khuynh hướng tạo ra cảm giác bị đe dọa trong phạm vi nó cảm thấy hơi chắc chắn hơn và có thể cho thấy nó làm được nhiều hơn?
Nếu nó có (khuynh hướng ấy) thì sao?
Đây là câu hỏi căn bản cho nhà xã hội học. Thế giới thay đổi ra sao khi mọi người không còn hy vọng vào security và chỉ chú ý tới safety? Họ sẽ sống ra sao, nếu sự chú ý của họ chỉ tập trung vào việc mua sắm lên đời các hệ thống báo động, cửa sắt, khóa, áo chống đạn, mặt nạ khí và có trời mới biết được gì nữa... Hiển nhiên là dẫu có cả đám hỗn độn ấy thì nguồn gốc của những bất an và căng thẳng vẫn còn nguyên không được động chạm đến. Ngược lại, một cơ chế tự thúc mình được khởi động – càng nhiều sợ hãi, mớ hỗn độn quanh các hệ thống báo động, cửa, khóa càng lớn. Mớ hỗn độn càng lớn, nỗi sợ hãi càng mạnh. Nỗi sợ không được xoa dịu sẽ tìm nguồn và sẽ cần đến mỗi lúc một nhiều hơn các đối tượng khác nơi nó có thể giải tỏa. Ở đây hiệu quả phụ nguy hiểm sẽ là những căng thẳng giữa các sắc dân hay giữa các nền văn hóa. Trong xã hội đa sắc tộc của phương Tây ngày nay điều này có nghĩa là sự xói mòn lòng tin và thống nhất xã hội. Ở đây đã không còn là chuyện đùa nữa. Chúng ta đi đến tâm điểm của bản sắc xã hội, của nền dân chủ và cấu trúc chính trị chính là dựa vào lòng tin và sự thống nhất xã hội. Và kết quả cuối cùng là người ta làm quá ít để chuẩn bị cho chúng ta bước vào cuộc sống trên hành tinh toàn cầu hóa và chung sống an toàn.
Đây là điều ông nghĩ đến khi nói về việc „lột trần những dối trá bao che trách nhiệm về bất hạnh của con người”?
Đây chỉ là một trong số các ví dụ.
Thế các ví dụ khác?
Anh hãy lấy ví dụ cách tính tổng sản phẩm nội địa, tức là GDP. GDP luôn luôn tăng, nhưng sao người ta có vẻ không cảm thấy cuộc sống tốt hơn nhiều? Vì sao?
Vì sự tăng trưởng nhắm vào vài phần trăm những người tự cường nhất vốn vẫn là những người giàu nhất?
Đó là một nguyên nhân. Nhưng bản thân tăng trưởng GDP thực chất là một siêu dối trá toàn cầu, nếu người ta xem nó là thước đo cho sự phồn vinh của con người. Bởi vì GDP ghi nhận lượng tiền qua tay trong phạm vi một nền kinh tế nào đó. Nhưng nó không xem xét tới một khu vực rộng lớn của kinh tế đạo đức, kinh tế gia đình, láng giềng, môi trường. Khi ngồi một mình trong nhà ăn hay quán bar và nuốt đồ ăn nhanh, thì tôi chẳng thấy dễ chịu gì cho lắm, nhưng tôi thực hiện một nghĩa vụ xã hội nào đó, bởi hóa đơn tôi sẽ trả được tính vào thành phần của GDP và làm cho chỉ số tăng trưởng kinh tế lớn hơn. Nhưng khi vợ tôi nấu cho tôi bữa trưa và chúng tôi ăn cùng con cái, thì điều đó có thể sẽ dễ chịu, lành mạnh hơn đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ cư xử phi xã hội và phi kinh tế, vì GDP không ghi nhận điều đó. Khi gia đình tan rã và cả nhà đều chui ra quán hay các bar ăn nhanh, chắc hẳn hạnh phúc và cả nhân tính của chúng tôi cũng bớt đi, nhưng GDP lại tăng. Khi ông hàng xóm giúp tôi cắt cỏ, còn tôi giúp ông ấy sửa giàn hoa, cả hai chúng tôi đều được hưởng lợi gấp đôi – vì công việc được hoàn tất và nhân thể, chúng tôi cảm thấy dễ chịu hơn trong khu vực của mình. Nhưng GDP sẽ thiệt hại vì điều này, vì mỗi người chúng tôi đều có thể thuê thợ và hóa đơn sẽ được thống kê, đánh thuế. Tương tự, khi tuổi cao sức yếu, tôi sẽ dễ chịu nếu được con gái chăm sóc, hơn là phải đến cái trại nào đó chờ chết. Nhưng sự chăm sóc lấy tiền được GDP ưu ái hơn, còn sự chăm sóc từ trái tim theo góc nhìn thống kê kinh tế là công việc vô giá trị.
Đồng ý, có thể dễ dàng tưởng tượng mô hình phát triển kinh tế dựa trên phát triển dịch vụ, nơi người ta làm việc và thu nhập mỗi lúc một nhiều hơn khi cung cấp dịch vụ lẫn nhau, nhưng đồng thời tất cả mọi người đều tốn tiền và mất chất lượng sống, bởi một mặt họ chi tiêu mỗi lúc một nhiều hơn, nhưng mặt khác lại bị mất đi những niềm vui giản dị, những mối liên hệ tình cảm tích cực với người khác thay cho những liên hệ kinh tế lạnh lùng. Nhưng đó có phải là dối trá không?
Đó là sự dối trá nguy hiểm. Thực chất người ta đo cái điều biểu hiện sự xói mòn xã hội và tan rã gia đình, nhưng chúng ta trưng ra như là thành công kinh tế hay thành công về văn minh! Điều có thật và đau đớn, được cảm nhận rộng rãi là mất mát, lại được kinh tế thị trường trình bày như lợi ích. Người ta gói ghém nỗi bất hạnh của sự tan rã các mối liên kết giữa người với người hay những phiền phức thông thường trong sự dối trá dựa trên trao đổi thương mại của tăng trưởng kinh tế. Ai cũng muốn làm việc cách nhà 500m, đi bộ đi làm, về nhà ăn trưa, sau giờ làm chăm vườn cùng lũ trẻ và cùng nấu bữa tối. Nhưng từ góc nhìn GDP thì sẽ tốt hơn nếu anh làm việc cách nhà 50 km. Khi đó anh tốn khối tiền và thời gian để đi làm. Tất nhiên anh sẽ ăn quán. Anh đặt pizza cho bữa tối, trẻ con do cô giúp việc trông, vườn thuê thợ làm vườn. Thêm vào đó, anh sẵn lòng làm thêm ngoài giờ hay một công việc thứ hai, vì lúc nào anh cũng thiếu tiền cho mọi thứ. Có thể trên danh nghĩa anh giàu hơn rất nhiều, nhưng thực tế lại nghèo và bất hạnh hơn. Chính phủ khoác lác bằng tăng trưởng GDP, nhưng không nói tăng trưởng GDP làm tăng chất lượng cuộc sống ở mức độ nào, và hủy hoại chất lượng cuộc sống ở mức độ nào. Khi mọi nhu cầu và khao khát của chúng ta - từ ăn uống đến tình dục - đều được thị trường thỏa mãn và khi toàn bộ cuộc sống chúng ta được quy về việc thu chi tiền, chúng ta trở thành những sinh vật bất hạnh nhất, cô đơn nhất và vô nghĩa lý nhất trên trái đất. Tất nhiên chúng ta có thể thương mại hóa toàn bộ phạm vi cuộc sống vốn dựa vào các mối quan hệ đạo đức, vào cộng đồng, sự tự lập, nhưng cuộc sống khi đó trông sẽ ra sao?
Ông tự nghĩ ra điều đó, hay ông đọc ở đâu?
Khó có thể đọc được điều này ở đâu. Ban đầu tôi cảm thấy nó. Sau đó tôi đã tìm tòi rất lâu. Phê phán truyền thống đối với chủ nghĩa tư bản tua-bin (turbocapitalism) dựa vào việc vạch trần sự leo thang những thèm khát bị thúc đẩy bởi các chiêu tiếp thị ngày càng tinh vi và các quảng cáo ngày càng quyền lực. Sự dối trá này đã được biết đến từ lâu. Kinh tế đương đại ngày càng dựa nhiều hơn vào việc nghĩ ra một sản phẩm mới (hoặc bề ngoài là mới), sau đó nhờ vào tuyên truyền mạnh mẽ để đánh thức những ham muốn mới, nhồi vào đầu mọi người ý nghĩ là thiếu những sản phẩm ấy họ sẽ không hạnh phúc. Truyền thông sống bằng quảng cáo không thể không tham gia vào siêu dối trá của nền văn minh tiêu dùng. Sự dối trá này từ vài chục năm nay đã đẩy chúng ta vào nỗi bất hạnh mỗi lúc một lớn hơn của những ham muốn không được thỏa mãn, được khơi dậy một cách giả tạo. Nhưng sự dối trá tồi tệ nhất của nền kinh tế dựa trên quảng cáo là việc toàn bộ viễn cảnh về cuộc sống và ý nghĩa tồn tại trong sự tuyên truyền này bị giới hạn vào thứ dầu gội đầu mới, thứ bột làm thạch hay cái xe mới.
Sự dối trá này không chỉ „bao che sự bất hạnh”, mà đơn giản là tạo ra nó.
Nó tạo ra đồng thời bao che. Nguồn cơn của bất hạnh là sự leo thang ham muốn vượt quá khả năng thỏa mãn chúng. Nền kinh tế dựa vào tiêu dùng sẽ sụp đổ theo cách khác. Vỏ bọc do quảng cáo tạo ra nằm ở ảo giác rằng có thể thỏa mãn ham muốn. Song sự thật là trong xã hội tiêu dùng cơ hội để thỏa mãn chúng rất thấp. Người ta đổ nhiều tiền bạc và công sức nhất vào việc đánh thức ham muốn, chứ không phải vào việc thỏa mãn chúng. Để thỏa mãn những ham muốn bịa đặt bị khơi dậy một cách giả tạo chúng ta làm việc cật lực, hành hạ người thân, hủy hoại những phạm vi sống phi thị trường (không có ý nghĩa kinh tế) của chúng ta. Cuộc đuổi bắt này không bao giờ chấm dứt. Không có vạch đích trên đường đua tiêu dùng. Khi anh làm việc cật lực và rốt cuộc bỏ ra được đủ tiền mua nhà hay xe hơi, những thứ sẽ phải mang lại hạnh phúc cho gia đình anh, ngay sau đó anh sẽ nhận được quảng cáo xe hơi từ chính hãng ấy, cái xe sẽ mang lại nhiều hạnh phúc hơn nữa, hoặc quảng cáo nhà nơi sẽ có nhiều tình yêu và hơi ấm gia đình hơn. „Hãy mua đi, rồi bạn sẽ hạnh phúc”. Những sự dối trá vĩ đại của xã hội tiêu dùng nằm ở chỗ những lời hứa mang đến kết quả mong muốn phải bị vi phạm hàng ngày. Trong hệ thống tiêu dùng chúng ta như Syzyf hay đúng hơn như con lừa đuổi theo củ cà rốt ở đầu gậy, hoặc như con chuột trong vòng quay. Anh vừa mới mua xong một thứ đồ phải mang lại hạnh phúc cho anh và gia đình thì đã được biết không phải là nó, rằng nguồn gốc của hạnh phúc là thứ gì đó khác kia. Trong bóng đổ của những niềm hi vọng tót vời che lấp mọi thứ, mỗi lúc một mới hơn, đống đồ vừa mới bóc tem mà ta sẽ bỏ đi lớn dần lên, bởi thực sự chúng chẳng cho ta hạnh phúc hoặc không so sánh được với những sản phẩm tiềm năng khác chưa được dùng thử.
Vậy con người nên học được khá nhanh rằng đồ vật không mang lại hạnh phúc.
Cái khó ở đây là lý trí của chúng ta – sau khi bị đặt dưới sự tẩy não vĩ đại và có hệ thống bằng quảng cáo – từ lâu đã không còn lành mạnh nữa. Theo nguyên tắc của Goebbels sự dối trá của chủ nghĩa tiêu dùng, được lặp lại hàng triệu hay hàng tỉ lần, đã trở thành sự thật được công nhận rộng rãi. Tiêu dùng hậu hiện đại là thói quen xấu tuyệt đối gây nghiện. Nó lây nhiễm y như nghiện ma túy hay nghiện tình dục. Nhìn thấy một quảng cáo mới, người ta rơi vào trạng thái hưng phấn không lành mạnh mà người ta không biết làm chủ. Người ta cảm thấy bất ngờ hưng phấn khi kịp sở hữu thứ gì đó. Nhưng ngay sau khi mua người ta trải nghiệm sự thất vọng và sự tuột hứng đau đớn chỉ có thể bị đẩy lùi bằng cách thỏa mãn những liều ham muốn tiếp theo. Cũng như đa số thói quen xấu, liều cần thiết để chiến thắng nỗi thất vọng không ngừng tăng lên. Vậy là chúng ta ngày càng rơi vào bất hạnh và sự cầm tù của ham muốn được gói ghém trong hình dung sai lầm về hạnh phúc. Sự dối trá này thống trị những ước mơ của con người và qua giấc mơ con người áp đảo thế giới.
Nhưng bằng cách nào, thưa giáo sư, sự dối trá bắt đầu thống trị, còn sự thật thì người ta lại không nghe?
Ở đây tôi sẽ viện đến Aristotles, người đã viết rằng việc điều tra sự thật diễn ra ở chợ (agora), nghĩa là ở phạm vi công cộng. Ở đó mối liên hệ giữa cái mà ông gọi là oikos (nghĩa là việc riêng) và ecclesia (việc chung) được thiết lập. Ở chợ, từ hàng thế kỷ, các nhu cầu cá nhân bị chuyển thành các lợi ích xã hội, còn các quyền lợi tập thể bị chuyển thành ngôn ngữ của các quyền và nghĩa vụ cá nhân. Bằng cách đó, sự thật được điều tra một cách diễn ngôn, người ta xác định điều xã hội chấp nhận là sự miêu tả đúng thực tại. Bây giờ không còn cái chợ như thế nữa. Trong cái chợ ngày nay người ta chủ yếu kể về những trải nghiệm cá nhân của mình. „Tôi đã làm được điều đó”. „Họ đã không làm được điều đó.” „Cái này dễ thương.” „Cái ấy đáng tiếc”. Diễn ngôn khép lại trong tầm chân trời cá nhân. Nó xoay quanh những gì con người có thể tự nhìn thấy hay trải nghiệm. Những gì chúng ta có thể sờ, nếm, ngửi. Các kinh nghiệm tập thể thiếu cái „nền vật chất” hay cơ chế xã hội cho phép chúng kết tinh và mở đường đến sự thật chung, khách quan, bên trên cá nhân.
Nhưng vì sao lại thế, thưa giáo sư?
Ai đó đã nói rất đúng rằng người tiêu dùng là kẻ thù của công dân. Công dân quan tâm đến sự thật có giá trị xã hội vượt lên trên cá thể, bởi anh ta tìm kiếm sự viên mãn trong cộng đồng mà anh ta thuộc về, hay cộng đồng mà anh ta muốn lập ra. Người tiêu dùng chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn các ham muốn cá nhân của mình. Anh ta không nghĩ đến sự thật hay dối trá. Anh ta chỉ sử dụng khía cạnh hữu dụng, dễ chịu, vui vẻ. Trong thế giới của những người tiêu dùng mối giao tiếp giữa ecclesie và oikos bị cắt đứt. Các nhân vật của công chúng thậm chí bảo đảm với chúng ta rằng công bằng là khái niệm rỗng được các nhà tư tưởng bịa ra, rằng chỉ có quyền lợi cá nhân là hiện thực và rằng – ngay cả nếu thuật ngữ „xã hội công bằng” có nghĩa gì đó - thì chính là sự khuyến khích các quyền lợi cá nhân. Nhưng nếu chỉ tồn tại các quyền lợi thì chúng ta phải tìm sự thật như thế nào? Thứ luật chung nào là khả dĩ trong thế giới người tiêu dùng? Tôi không nói đến lời giải đáp triết học. Tôi là nhà xã hội học và với tư cách một nhà xã hội học, tôi cảm thấy bất an vì sự biến mất rõ rệt của các cơ chế xã hội truy tầm sự thật.
Có nghĩa là kỷ nguyên dối trá đang chờ đợi chúng ta?
Điều này phụ thuộc vào mọi người, mà mọi người, đáng tiếc, lại thờ ơ với sự thật.
Ở Ba Lan người ta không tranh cãi về chuyện gì khác cả. Ai nói dối? Ai nói dối hơn? Ai lừa đảo? Sự thật và dối trá là chủ đề số 1.
Nhưng sự thật nào? Những sự dối trá nào? Ngày nay chúng ta đưa đạo dức chính trị vào đạo đức cá nhân của các chính trị gia. Clinton là một ví dụ tốt. Khi ông phá bỏ hệ thống an sinh xã hội được Roosevelt thành lập và Johnson xây dựng, khi ông hủy bỏ các chương trình xã hội liên bang và chuyển chúng cho các tiểu bang, khi các bang bắt đầu cạnh tranh để cắt giảm trợ cấp, vì mỗi tiểu bang đều muốn tránh làn sóng đói nghèo tràn sang từ bang lân cận, người ta không đặt vấn đề đạo đức đối với ông ta. Mà ông ta đã nghi ngờ nguyên tắc đạo đức cơ bản rằng trách nhiệm của nhà nước là chăm lo cho dân chúng. Nhưng khi ông nói dối về chuyện ngoại tình với thực tập sinh, người ta đòi phải bãi nhiệm ông vì lý do đạo đức. Người ta công nhận rằng tổng thống đã vi phạm nguyên tắc luân lý.... Đây là đặc trưng của tình hình mới. Sự dối trá hay vụ ngoại tình hủy diệt chính trị gia. Nhưng vi phạm đạo đức của đời sống xã hội thì có thể dễ dàng xoay xở. Khi vấn đề sự thật được giản lược đến việc nói thật dẫu là của những cá nhân tuyệt vời nhất, thì sự thật về xã hội, về tình trạng và số phận của cộng đồng biến mất khỏi tầm mắt. Nếu chính trị gia nói dối, có thể lột mặt nạ anh ta và bãi nhiệm. Có các công cụ để làm việc đó. Công tố viên, tòa án, các nhà báo tò mò hay các ủy ban điều tra. Nhưng khi những sự thật của chung sống xã hội bị dối trá, người ta chủ yếu im lặng. Bởi các sự thật định đoạt số phận chung của chúng ta không thể được xác định bởi các công tố viên, các quan tòa và các ủy ban điều tra. Việc xác định chúng đòi hỏi phải có agora. Mà agora đang biến mất.
Nghĩa là lỗi lại ở sự tiêu dùng?
Chủ nghĩa tiêu thụ – một phần. Nhưng không chỉ có mình nó. Sự tràn ngập thông tin cũng có thể tạo điều kiện cho dối trá áp đảo. Truyền thông đương đại cũng vậy. Kỹ thuật truyền đạt thông tin và kỹ thuật truy tầm sự thật được chi phối bởi các lô gíc khác nhau. Nguồn thông tin phổ biến nhất hiện nay là truyền hình về bản chất không thể gây sự chú ý của người xem trong khoảng thời gian cần thiết để đưa ra căn bản của luận điểm. Trong cuộc tranh luận trên truyền hình, cùng lắm chỉ có thể làm người đối thoại điếc tai và tương vào anh ta (và vào khán giả) những lời châm chích ngắn ngủi. Mà truy tầm sự thật thì cần tập trung và gắng sức. Chẳng bao giờ đến được với sự thật bằng những tiếng la hét hay những lời châm chích. Khi cuộc tranh luận dẫn đến trận khẩu chiến bằng những lời châm chích, việc phân biệt sự thật và dối trá là bất khả.
Nhất định phải thế, hay đó chỉ là một giai đoạn lịch sử thôi?
Tôi không bao giờ chấp nhận là tình hình phải như nó đang là. Nếu chúng ta phản kháng, nếu chúng ta trò chuyện vài giờ – như chúng ta đang làm, chứ không phải vài phút, thì sự thật sẽ khá hơn. Thông tin đưa ra càng quá liều và càng nông thì càng ít có cơ hội cho một cuộc tranh luận nghiêm túc, chúng ta càng có nhiều khả năng bị chìm trong dối trá. Chúng ta đứng trước lựa chọn – và chúng ta sẽ ra sao cũng phụ thuộc vào chúng ta.
Ông muốn thay đổi số phận của thế giới bằng lời nói?
Anh biết không, người ta từng hỏi Cornelius Castoriadis: „Ông muốn thay đổi thế giới à?”. Và ông trả lời: „Xin Chúa che chở cho tôi! Tôi chỉ muốn thế giới tự thay đổi. Như nó đã từng làm thế trong lịch sử của mình”.



Tuesday, 8 December 2015

Bím tóc (Tadeusz Różewicz)


Thái Linh dịch

Khi tất cả phụ nữ được đưa đến
đã bị cạo đầu hết
bốn công nhân dùng chổi
làm bằng cây đoạn để quét
và gom tóc

Dưới các tấm kính sạch bóng
là tóc cứng quèo của những người bị ngạt chết
trong lò hơi
trong tóc ấy có những chiếc trâm
và những chiếc lược ngà

Những mái tóc không được ánh sáng thấu qua
không bay tung trong gió
không có bàn tay nào vuốt nữa
không chạm mưa hay những đôi môi

Trong thùng lớn rối bời
những mớ tóc khô
của những người chết vì hơi ngạt
và bím tóc xám
cái đuôi chuột bé xíu thắt nơ
mà ở trường các cậu bé hư
vẫn giật.

(bài thơ được tác giả viết năm 1948 sau khi thăm bảo tàng Auschwitz)


Sunday, 29 November 2015

Chú ruồi (Jan Brzechwa)

(Thái Linh dịch)

Mọi người ai nấy đều tắm
Chú ruồi cũng muốn sạch tinh.
Chủ nhật ruồi tắm dầu đen,
Thứ hai tắm trong nước xúp,
Thứ ba - rượu vang lặn ngụp,
Thứ tư - xúp vịt vẫy vùng,
Thứ năm - nước bắp cải hầm,
Thứ sáu - xốt gỏi bò băm,
Thứ bảy – nước quả mơ ép...
Tắm vậy ích gì không biết?
Ích gì? Ruồi chỉ thấy phiền,
Cả người lép nhép bẩn nguyên!
Nhưng chuyện phải tắm bằng nước

Thì ruồi chẳng nghĩ ra được.


Nguyên tác
Mucha

Z kąpieli każdy korzysta,
A mucha chciała być czysta.
W niedzielę kąpała się w smole,
A w poniedziałek w rosole,
We wtorek - w czerwonym winie,
A znowu w środę - w czerninie,
A potem w czwartek - w bigosie,
A w piątek - w tatarskim sosie,
W sobotę - w soku z moreli...
Co miała z takich kąpieli?
Co miała? Zmartwienie miała,
Bo z brudu lepi się cała,
A na myśl jej nie przychodzi,
Żeby wykąpać się w wodzie.

Wednesday, 10 June 2015

Có thể tất cả những điều này (Wisława Szymborska)

(Thái Linh dịch)

Có thể tất cả những điều này
đang xảy ra trong phòng thí nghiệm?
Dưới một ngọn đèn ban ngày
và tỉ tỉ ngọn đèn đêm?

Có thể chúng ta là thế hệ thử nghiệm?
Bị đổ từ ống này sang ống khác,
bị xóc lắc trong bình,
bị quan sát bởi cái gì đó hơn cả con mắt,
từng người
cuối cùng sẽ bị lấy nhíp gắp?

Có thể khác:
không có bất cứ can thiệp nào?
Các thay đổi tự diễn ra
theo kế hoạch?
Kim đồ thị vẽ chậm chạp
những đường dích dắc định trước?

Có thể cho đến giờ chúng ta chẳng có gì thú vị?
Màn hình kiểm tra thỉnh thoảng mới bật lên?
Chỉ khi có chiến tranh và là chiến tranh to,
có một số cuộc nổi dậy trên trái đất,
hay những chuyến di cư lớn từ điểm A sang B?

Có thể ngược lại:
Ở đó người ta chỉ thưởng thức từng hồi?
Và đây, một cô bé trên màn hình
đang đơm cúc vào tay áo.
Máy cảm ứng kêu inh ỏi
các nhân viên chạy vào.
Ồ, sinh vật nhỏ này là sao,
có một trái tim bên trong đang đập!
Thật duyên dáng nghiêm cẩn
khi xâu kim!
Ai đó phấn chấn la lên:
„Báo với Sếp ngay,
để ông ấy đến xem tận mắt!”


Nguyên tác:

Może to wszystko

Może to wszystko 
dzieje się w laboratorium? 
Pod jedną lampą w dzień 
i miliardami w nocy? 

Może jesteśmy pokolenia próbne? 
Przesypywani z naczynia w naczynie, 
potrząsani w retortach, 
obserwowani czymś więcej niż okiem, 
każdy z osobna 
brany na koniec w szczypczyki? 

Może inaczej: 
żadnych interwencji? 
Zmiany zachodzą same 
zgodnie z planem? 
Igła wykresu rysuje pomału 
przewidziane zygzaki? 

Może jak dotąd nic w nas ciekawego? 
Monitory kontrolne włączane są rzadko? 
Tylko gdy wojna i to raczej duża, 
niektóre wzloty ponad grudkę Ziemi, 
czy pokaźne wędrówki z punktu A do B? 

Może przeciwnie: 
gustują tam wyłącznie w epizodach? 
Oto mała dziewczynka na wielkim ekranie 
przyszywa sobie guzik do rękawa. 

Czujniki pogwizdują, 
personel się zbiega. 
Ach cóż to za istotka 
z bijącym w środku serduszkiem! 
Jaka wdzięczna powaga 
w przewlekaniu nitki! 
Ktoś woła w uniesieniu: 
Zawiadomić Szefa, 
niech przyjdzie i sam popatrzy! 


Thursday, 23 April 2015

Phiên bản các sự kiện (Wisława Szymborska)



Thái Linh dịch


Nếu được phép lựa chọn
Hẳn chúng ta sẽ suy nghĩ rất lâu.

Cái cơ thể được đề nghị cho ta thật không thoải mái
và tàn tạ đi một cách xấu xí.

Những cách thỏa mãn cơn đói
sẽ khiến ta ghê tởm,
sự di truyền ép buộc
và sự chuyên chế của các tuyến
khiến ta khó chịu.

Thế giới quanh ta
không ngừng tan vỡ.
Những kết quả của nguyên nhân
nổi trận lôi đình.

Trong số những số phận được đưa ra cho chúng ta xem
ta sẽ từ chối phần lớn
với nỗi buồn và sự kinh hoàng.

Thí dụ những câu hỏi thế này sẽ được đặt ra:
có đáng để sinh trong đớn đau
một đứa con chết lưu
và trở thành thủy thủ để làm gì
nếu không thể cập bến.

Chúng ta sẽ chấp nhận cái chết
nhưng không dưới bất kỳ hình thức nào.
Tình yêu lôi cuốn chúng ta,
ổn thôi, nhưng đó là tình yêu
biết giữ lời hứa.

Cả sự bất kiên định trong đánh giá
lẫn sự phù du của các tuyệt tác
đều khiến chúng ta khiếp sợ
việc phụng sự nghệ thuật.

Mỗi người đều muốn có tổ quốc không láng giềng
và sống một cuộc đời
trong khoảng lặng giữa các cuộc chiến.

Không ai trong chúng ta muốn cầm quyền
hay bị cai trị,
không ai muốn là nạn nhân
cho những ảo ảnh của mình và người khác,
sẽ không có tình nguyện viên
cho việc tụ tập, diễu hành,
cho những bộ lạc tuyệt chủng lại càng không
mà thiếu chúng
lịch sử sẽ không cách gì tiếp diễn
suốt nhiều thế kỷ dự kiến.

Trong khi đó một số lượng lớn
những vì sao từng sáng
sẽ tắt đi và nguội ngắt.
Sẽ đến lúc phải quyết định.

Với rất nhiều hạn chế, rốt cuộc cũng sẽ xuất hiện
các ứng cử viên
cho cương vị một số thầy lang và nhà thám hiểm,
cho vài triết gia không chút tiếng tăm,
cho đôi ba thợ làm vườn,
nhạc sỹ và nghệ nhân vô danh -
dẫu ngay cả những sinh linh ấy
cũng không thể thỏa mãn
vì thiếu các ứng cử viên khác.

Phải suy nghĩ lại một lần nữa
về tất cả mọi thứ.

Chúng ta được đề nghị
một chuyến du hành
mà ta sẽ trở về
chóng vánh và chắc chắn.

Chuyến đi ra ngoài sự vĩnh cửu
dẫu có nói gì thì cũng vẫn chán ngắt,
sự vĩnh cửu không biết trôi qua,
chuyến đi có thể không bao giờ lặp lại.

Chúng ta sẽ bị nỗi nghi ngờ vây bủa
liệu khi biết trước tất cả mọi thứ
ta có biết thực sự tất cả mọi thứ.

Liệu một lựa chọn sớm như vậy
có là lựa chọn
hay tốt hơn nên cho nó vào lãng quên
còn nếu chọn
thì chọn nơi ấy.

Chúng ta sẽ nhìn Trái đất.
Đã có những kẻ mạo hiểm sống ở đó.
Một cái cây mảnh khảnh
bám vào đá
nhẹ dạ tin
không bị gió giật đi.

Một con vật nhỏ
đào hang
với nỗ lực và niềm hy vọng
theo chúng ta là kỳ cục.
Chúng ta sẽ thấy mình quá thận trọng,
bé mọn và nực cười.

Chẳng bao lâu hàng ngũ chúng ta bắt đầu giảm bớt.
Những người thiếu kiên nhẫn nhất biến mất.
Họ sẽ đi tiên phong nhóm ngọn lửa đầu tiên
- Phải, điều đó sáng rõ.
Chính bởi ngọn lửa họ thắp lên
bên bờ dốc của dòng sông có thật.

Vài người
thậm chí sẽ quay trở lại.
Nhưng không về phía chúng ta.
Và dường như họ vừa giành được thứ gì đó? trên tay? 

Sunday, 29 March 2015

Điều gì là cốt yếu trong cuộc đời?



(Thái Linh dịch)
Cuộc trò chuyện đặc biệt với triết gia Leszek Kołakowski về cách sống và điều cốt yếu trong cuộc đời do phóng viên Jacek Żakowski, tuần báo Polityka thực hiện.

Jacek Żakowski: Một người đàn ông ngoài bốn mươi đi gặp nhà thông thái...

Leszk Kołakowski: Nghĩa là giống như anh?

hoặc một cô tóc vàng tuổi đôi mươi chân dài đến nách...

Cái này thì không giống anh rồi.

người đó ngồi xuống bên nhà thông thái và hỏi: „Điều gì là cốt yếu trong cuộc sống?”. Nhà thông thái sẽ nói gì với người ấy?

Nhà thông thái làm sao mà biết được?

Ông ta đã đọc hàng nghìn cuốn sách, đã sống trên đời gần 77 năm, đã nổi danh là thông thái. Nếu ông ta không biết thì còn ai biết?

Gần 77 năm? Nghĩa là tôi phải là nhà thông thái nọ?

Bởi thế tôi mới đến đây.

Nhưng nếu tôi nhận vai này thì tựa như tôi tự nhận mình là sư phụ. Cái đó không tốt. Muhammad Ali có thể nhảy quanh võ đài và hét vang rằng anh ta giỏi nhất thế giới. Nhưng những người khác thì không làm thế được.

Ta hãy cho rằng có một người đang rất cần những lời khuyên và sự giúp đỡ đang đứng trước mặt ông. Có thể anh ta không biết phải làm gì với đời mình. Có thể anh ta dã sắp xếp cuộc sống của mình không ổn. Có thể anh ta cảm thấy giờ là giây phút cuối cùng để thay đổi điều gì đó và tập trung vào thứ thực sự cốt yếu. Ông phải giúp anh ta.

Và tôi phải già vờ là mình biết một công thức phổ quát nào đó?

Thế ông không biết sao?

Chuyện này khó... Một công thức như thế có lẽ là hữu ích cho những người khác. Có những người – dẫu rằng rất hiếm – coi cuộc sống của mình như một cống hiến. Họ có thể thực hiện cống hiến này trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong y học, chính trị, khoa học, cứu trợ xã hội, trong các tổ chức quốc tế. Có lẽ là họ được viên mãn trong cuộc sống, bởi họ có cảm giác về một ý nghĩa lớn lao hơn sự tồn tại của bản thân.

Ông có thấy gần gũi với điều đó không?

Tất nhiên. Nhưng tôi không chắc có thể học được hay biết cách tiến tới quan điểm đó hay không. Mặt khác, tôi cũng thấy gần gũi với quan điểm của Phật giáo cho rằng đời là bể khổ. Chúng ta chẳng thay đổi được gì. Cõi niết bàn mở ra trước mắt chúng ta chỉ khi ta có thể dứt bỏ mọi ham muốn, giới hạn những mong đợi của mình đến tối thiểu. Có những người đạt được sự giải thoát về tinh thần nhờ việc tự hạn chế. Nhưng tôi cũng không biết có thể khuyên tất cả mọi người điều đó hay không.

Việc tự hạn chế để đạt được hạnh phúc có hấp dẫn ông không?

Tôi không nói về hạnh phúc, vì tôi không biết nó là gì. Và tôi chưa từng biết. Nhưng có cái hay trong khuynh hướng hạn chế ham muốn để chấp nhận nghịch cảnh một cách bình thản trong đạo Phật hay chủ nghĩa khắc kỷ. Không bị trói buộc bởi các nhu cầu, không phát điên phát rồ vì không đạt được điều chúng ta mong muốn. Không muốn quá nhiều. Không với quá cao. Tốt hơn là ít muốn hơn và ít thất vọng hơn. Ví dụ: tôi là một cô tóc vàng xinh đẹp, quyến rũ, tài năng. Tôi đến Hollywood để trở thành ngôi sao, nhưng tôi toàn đóng các phim vớ vẩn. Tôi thất vọng. Tôi thấy đời tôi uổng phí, bất hạnh, tôi phải đi chết hay sao? Tốt hơn là tôi nên đặt mục đích thấp hơn.

Nếu ông với tư cách cô gái tóc vàng trở thành ngôi sao thì ông cũng có thể thất vọng và thấy đời uổng phí.

Bởi chuyện đời có uổng phí hay không là chủ quan. Không thể đánh giá khách quan điều đó. Giả sử tôi là một thợ làm vườn. Tôi không làm gì khác. Tôi không màng danh vọng hay địa vị. Tôi chỉ muốn đủ ăn và có những lợi ích căn bản, nhưng tôi chẳng thèm những giá trị được đại chúng coi là vĩ đại. Tôi không muốn trở thành Einstein. Có điều gì không ổn nếu tôi không muốn trở thành Einstein?

Nhất là khi điều đó có thể có các kết cuộc khác nhau.

Thường là kết cuộc không hay. Tôi nhớ có một nhà vật lý kiệt xuất đã nói: „Hoặc là trở thành Einstein, hoặc là không đáng sống.” Nhưng ông ta cũng không phải là Einstein. Phải chăng điều đó có nghĩa là đời ông ta là bỏ đi?

Có thể điều căn bản không phải là trở thành Einstein, mà là việc cố gắng trở thành Einstein?

Điều đó tất nhiên là tốt hơn rồi. Cố gắng hướng tới những điều vĩ đại nói chung là tốt. Nhưng nếu tôi giả định trước rằng tôi sẽ không đạt được những điều đó, thì chắc chắn tôi sẽ không đạt được. Bởi những điều lớn lao không đến tình cờ. Chúng đòi hỏi nỗ lực. Bởi vậy dẫu sao điều quan trọng vẫn là có một chút hy vọng. Nhưng không quá nhiều. Chỉ vừa đủ để tránh thảm họa khi tôi hiểu ra rằng tôi sẽ không là Einstein. Nếu không tôi sẽ thấy đời mình là bỏ đi.

hoặc ông sẽ đánh mất ý nghĩa cuộc đời, nếu ông trở thành Einstein...

…. hoặc tôi cứ nỗ lực không ngừng một cách vô ích. Đó cũng có thể là uổng phí cuộc đời.

Có lẽ tôi đã có lời khuyên đầu tiên của nhà thông thái. Cốt yếu là không mong muốn quá nhiều.

Đồng ý , „monng muốn không quá nhiều” có lẽ là công thức tốt cho một cuộc sống viên mãn.

Nhưng không quá nhiều cái gì? Vì có nhiều lợi ích khác nhau. Tôi đã nghĩ ngay ra cả tá trong đầu. Tuổi trẻ, dân tộc, tiền bạc, công việc, tình bạn, lạc thú, niềm vui, gia đình, tình dục, danh tiếng, hạnh phúc, kiến thức, quyền lực, tự do...

Ta hay bỏ hạnh phúc sang một bên, vì tôi không biết nó là cái gì. Mỗi người định nghĩa nó một khác. Cần phải chấp nhận rằng, như nó vốn là, hạnh phúc không tồn tại.

Có những bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của hạnh phúc. Ai cũng có thể nói cho ông biết hôm nay họ có hạnh phúc bằng hôm qua hay không. Thực kiện về việc khó miêu tả hay nắm bắt được về một điều gì đó không dẫn đến kết luận là nó không tồn tại.

Đó sẽ là bằng chứng về tồn tại của thiếu hạnh phúc. Nhưng nếu tôi muốn đồng ý với anh rằng hạnh phúc tồn tại, thì tôi sẽ nói rằng đó là cuộc sống của một đứa trẻ cho tới khi nó khoảng 5 tuổi trong một gia đình thực sự yêu thương và không gặp bất hạnh lớn nào trong thời gian đó.

Còn sau đó theo ông đã là bất hạnh?

Có thể đó chưa phải là bất hạnh, nhưng nó thay đổi quan hệ của chúng ta đối với cuộc sống. Thuyết hoài nghi đã bước vào cuộc sống của chúng ta, và nhận thức rằng thế giới là bất thiện hảo. Đứa trẻ nhỏ không đặt ra câu hỏi về hạnh phúc và không biết đến khái niệm hạnh phúc. Khi ai đó có trong đầu khái niệm về hạnh phúc và tự hỏi phải làm sao để mình hạnh phúc, phải sắp xếp cuộc sống thế nào, điều gì là cốt yếu trong đời, thì có nghĩa người đó đã không còn và sẽ không bao giờ thực sự hạnh phúc nữa. Không ai không bao giờ đạt được hạnh phúc được biết đến như nó vốn là.

Nhưng có thể đến gần nó nhiều hơn hay ít hơn. Việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi: „điều gì là cốt yếu trong đời” về bản chất là để phục vụ cho điều đó. Tuổi trẻ theo ông có quan trọng không?

Tuổi trẻ cũng là thứ chúng ta có thể bỏ sang một bên, vì đó là thứ mà phần lớn mọi người luôn mất đi. Nhưng cũng không phải tất cả. Có những người trẻ mãi đến cùng, theo một nghĩa nào đó.

Làm thế nào chia tay với tuổi trẻ để ít xa rời hạnh phúc nhất?

Đơn giản như đang giỡn. Giải thoát khỏi cảm giác rằng tuổi trẻ là một giá trị gì đó đặc biệt. Nếu ta không thấy tuổi trẻ là một lợi ích thì ta cũng không thấy mình mất mát gì khi già đi.

Cái đó nói thì dễ... Chắc hẳn có lúc ông từng nghĩ: „Điều này với tuổi tác của tôi đã không còn thích hợp nữa”.

Cái gì không còn thích hợp nữa? Tuổi tôi không còn thích hợp để quyến rũ phụ nữ nữa? Từ khi nào thì không còn thích hợp? Nếu tôi chắc chắn rằng điều đó không hiệu quả thì tôi sẽ không cố thử. Nhưng chúng ta có thể biết chắc điều đó không? Tôi không cho rằng tuổi trẻ như một lợi ích là cốt yếu trong cuộc sống và cần phải cho nó một tầm quan trọng đặc biệt. Ngược lại điều quan trọng là con người giải thoát được khỏi sự tôn sùng tuổi trẻ. Bởi sự tôn sùng này có thể làm lãng phí một quãng đời của chúng ta.

Vậy ta bỏ tuổi trẻ sang một bên. Nhà thông thái còn có thể chọn điều gì trong danh sách này là điều cốt yếu trong cuộc đời?

Theo những tiêu chuẩn nào?

Theo tiêu chuẩn điều gì đáng để đánh cược trong đời chăng?

Một người bình thường không có quan điểm Phật giáo và không coi thường các lợi ích của thế giới, nhưng biết hân hưởng những điều tốt lành nho nhỏ, cụ thể, cần mỗi thứ một chút. Không có gì xấu khi ai đó vui sướng vì có chút tiền hay một công việc hay ho. Nhưng không thể xây dựng một thang giá trị phổ quát. Phần lớn chúng ta không muốn từ bỏ bất cứ thứ gì. Chúng ta biết rằng các ích lợi xung đột và giới hạn lẫn nhau, rằng „khó mà vừa ăn bánh vừa có nó”, rằng ta không thể có đầy đủ tất cả mọi thứ, rằng cả những người trong mắt chúng ta là có đầy đủ mọi thứ cũng không nhất thiết phải thấy họ được số mệnh ưu đãi. Có lẽ dễ hơn khi nói thiếu điều gì sẽ khiến ta phiền muộn nhiều hơn. Schopenhauer cho rằng lợi ích là không có đau khổ. Ví dụ bây giờ tôi ngồi đây và không cảm thấy đau chỗ nào. Vậy là tốt. Nhưng tôi không thấy điều này là cái gì đó quan trọng. Khi bắt đầu bị đau, và nếu đó là cơn đau dữ dội, thì tôi thấy nó là quan trọng nhất.

Vậy có lẽ – để được ông cho biết nhiều hơn, tôi nên hỏi điều gì là tồi tệ nhất trong cuộc đời. Không hỏi tiền có quan trọng không, mà hỏi thiếu tiền có kinh khủng không.

Nhưng ở đây cũng không có thang giá trị phổ quát. Với người bị tra tấn thì các đòn tra tấn là tồi tệ nhất. Với người đói thì đó là cơn đói. Người ta tự sát vì không thể trả nợ nần, hoặc vì thất tình. Bởi vậy có thể điều cốt yếu nhất là tự giải thoát khỏi đau khổ. Dẫu rằng mặt khác (vì trong cuộc sống điều gì cũng có hai mặt) những người theo chủ nghĩa khắc kỷ khẳng định rằng nhà thông thái thực sự là người không còn đau khổ, thậm chí không đau khi bị tra tấn.

Nếu đó là sự thật thì sự minh triết là cốt yếu nhất trong cuộc sống. Nhưng chẳng biết những người theo chủ nghĩa khắc kỷ có đổi ý khi bị tra tấn hay không.

Có các truyền thuyết về những nhà thông thái nhờ minh triết mà sống sót.

Nhưng có thật không?

Chính vậy, ở đây lại có một chướng ngại tiếp theo. Thực chất chúng ta biết ít về người khác. Và qua đó cũng biết ít về chính mình. Nhưng chắc chắn sụ minh triết, kiến thức, kỹ năng hân hưởng những điều đẹp đẽ dù nhỏ bé trong chừng mực nào đó có thể bù đắp những thiếu thốn hay đau đớn mà mỗi người phải chịu đựng. Tôi có thể cô đơn, nghèo túng, bệnh tật, đói ăn mà vẫn hân hưởng thi ca. Nhưng điều đó không dễ. Khả năng này cần được tôi luyện. Có thể học cách hân hưởng phần giá trị của thế giới có thể tiếp cận được. Điều này quan trọng, bởi nó cho chúng ta cảm giác rằng thế giới không chỉ được dựng nên từ cái xấu, từ đau khổ, bất hạnh và đấu tranh.

Văn hóa là thuốc phiện?

Khi anh nói „thuốc phiện” thì anh đã giả định rằng đó là ảo giác. Tôi hút ma túy để có ảo giác. Nhưng khi tôi sử dụng các lợi ích tinh thần thì không phải là tôi đang trải nghiệm ảo giác. Đó là một phần thật của thế giới đáng để chúng ta tiếp xúc, bởi nó cho tôi thấy rằng bất chấp mọi điều kinh khủng của cuộc sống, bất chấp mọi bất hạnh, đau khổ, đau đớn, thiếu thốn, trong thế giới này vẫn có điều gì đó rất tốt lành và đẹp đẽ. Thậm chí khi tôi học toán và nhờ đó hiểu được các chứng minh nào đó, thì đó là lợi ích, nó cho tôi tham gia vào phía tốt lành của trật tự thế giới này. Những lợi ích như thế có rất nhiều và tôi có thể sự dụng chúng mà không cần giàu có, quyền lực, danh tiếng, nghĩa là tất cả những thứ mà người ta tranh đấu vì chúng.

Vậy văn hóa sẽ là cốt yếu trong cuộc sống.

Tham gia vào các lợi ích tinh thần do con người tạo ra. Về điều này thì tôi không cần phải xung đột với những người khác. Và đó có thể là những thứ hoàn toàn nhỏ bé – chỉ cần tôi có thể thực sự hân hưởng chúng. Tôi có thể đi trên phố và hân hưởng việc ngắm nhìn một tác phẩm kiến trúc, một khu vườn xinh đẹp, một người phụ nữ ăn mặc trang nhã, một cái xe hơi tuyệt đẹp. Đó là những lợi ích nhỏ nhặt, nhưng rất hiện thực. Thậm chí tôi có thể ngồi trong căn phòng lạnh lẽo và hân hưởng thi ca hay âm nhạc. Rất đáng họcmột chút những thứ này để có thể thực sự hân hưởng chúng. Để có thể thán phục âm nhạc hay hội họa, phải biết chút gì đó về chúng. Nhưng điều cốt yếu nhất là nuôi dưỡng trong mình sự sẵn sàng hân hưởng những cái đẹp dễ tiếp cận.

Điều này nghe rất hay, nhưng hơi lý tưởng. Phần lớn chúng ta thích tạo ra những lợi ích khiến người khác thán phục, bởi sau sự thán phục dành cho tác phẩm là sự thán phục dành cho tác giả.

Danh vọng và những tràng pháo tay là lợi ích mà việc theo đuổi nó thường dẫn đến bất hạnh. Bởi đó là những lợi ích mà người ta thường cố gắng để đạt được một cách vô hiệu. Không chỉ vì khó đạt được chúng. Trước hết là bởi danh vọng nói chung chỉ có thể đạt được khi người ta siêu đẳng trong một lĩnh vực nào đó. Khi ai đó nghĩ đến danh vọng, mà không nghĩ về sự siêu đẳng, thì cùng lắm anh ta chỉ đạt được sự nổi danh đại chúng. Để nổi tiếng thực sự, cần phải là Einstein hay Greta Garbo.

Hoặc là Leszek Kołakowski.

Ồ không, tôi không nổi tiếng. Nổi tiếng bây giờ là những người chúng ta luôn thấy trên TV.

Danh tiếng với ông có vẻ là điều ngại ngùng.

Vì sao? Trong danh vọng không có gì xấu. Có gì xấu khi ai đó muốn trở thành giáo hoàng hay Muhammad Ali. Chỉ việc những giấc mơ về danh vọng thường không thành hiện thực mới là xấu.

Phần lớn những mơ ước của con người đều không thành hiện thực. Còn nếu chúng thành hiện thực, thì hóa ra là không phải thế. „Đáng lẽ không phải như thế, bạn thân mến”.

Với danh vọng cũng thường như vậy.

Nhưng giấc mơ danh vọng – có lẽ là của phân nửa những người bình thường – có cần phải từ bỏ không, hay đó là nhu cầu tự nhiên được người khác công nhận?

Nhu cầu được khẳng định là điều tự nhiên và hầu như không thể dứt bỏ, trừ khi nó bị nhận thức Phật giáo giết chết. Bởi Phật giáo giải phóng chúng ta khỏi mọi ham muốn một cách hiệu quả nhất. Đó không chỉ đối với các đồ vật, mà còn đối với các trạng thái: danh tiếng, quyền lực, của cải. Bởi vậy Phật giáo là một trong những tín ngưỡng đẹp nhất và minh triết nhất mà loài người tạo ra.

Thật thú vị khi một triết gia gần như suốt đời viết về Cơ đốc giáo và chủ nghĩa cộng sản về cuối đời lại có khuynh hướng Phật giáo.

Vì sao lại về cuối đời? Tôi luôn dành cho Phật giáo và văn hóa Vệ đà một sự tôn trọng đặc biệt.

Nhưng ông đã không viết gì về Phật giáo hay Ấn Độ giáo.

Vì tôi không biết đủ về chúng. Tôi không biết các ngôn ngữ phương Đông, nhưng tôi nhớ tôi đã có ấn tượng mạnh thế nào với kinh Vệ đà. Tôi luôn có ấn tượng mạnh với tư tưởng và tín ngưỡng Đông phương.

Ông không muốn nghiên cứu Phật giáo thay vì Cơ đốc giáo hay chủ nghĩa cộng sản hay sao?

Muốn chứ. Chỉ là khi sống trong thế giới Cơ đốc giáo và cộng sản, thì là tự nhiên khi việc hiểu các tư tưởng này là quan trọng đối với một con người. Phật giáo dẫu sao cũng không phải là thế giới của chúng ta, mặc dù đó là một thế giới đặc biệt quan trọng. Nhưng hình như anh muốn nói chuyện về việc nói chung điều gì là cốt yếu trong đời người, chứ không phải về chuyện Phật giáo có gì quan trọng đối với tôi.

Bây giờ tôi thêm văn cảnh tri thức và tôn giáo liên quan vào những điều cốt yếu ấy.

Điều đó chắc chắn là quan trọng. Ví dụ danh vọng đối với một Phật tử chính cống hoàn toàn không có chút ý nghĩa nào, cũng như những lợi ích trần thế phù phiếm khác.

Nhưng điều đó có tốt không? Nếu ông không nổi tiếng, thì sự minh triết của ông cũng không có ích lợi mấy. Ông sẽ ngồi ở Oxford, sẽ đọc sách, sẽ viết các bài giảng hay bài luận và sẽ chẳng có mấy người mua, người ta sẽ không xem ông trên TV Ba Lan, không chờ đọc các bài báo của ông... Theo nghĩa nào đó nếu không nhờ nổi tiếng thì chúng tôi đã bỏ phí ông rồi. Nếu sụ minh triết của ông không trở nên nổi tiếng thì nó sẽ ít hữu ích hơn.

Có thể nói vậy, nhưng tôi không nổi tiếng.

Ở đây chúng ta ghi nhận sự khác biệt, vì cố cãi chỉ phí thời gian.

Được. Nhưng khi hướng đến danh vọng thì rất dễ ảo tưởng „Tôi không cố gắng đạt danh vọng, tôi chỉ muốn đem lại chút gì đó hữu ích cho mọi người”. Nhưng thú thật là tôi không biết một người nhảy cao 3 mét thì đem lại điều gì hữu ích cho người khác.

Cảm xúc, cảm giác được tham gia vào hành động tuyệt vời của anh ta.

Tôi nghĩ rằng đó là ảo tưởng. Anh ta ảo tưởng rằng mình làm điều đó cho mọi người, nhưng anh ta chỉ làm cho bản thân – để chiến thắng và được ngưỡng mộ. Còn mọi người thì ảo tưởng về sự tham gia của mình vào đó, như anh vừa nói, mặc dù họ chỉ là người xem – họ chẳng có chút cống hiến hay tham gia nào vào cú nhảy đó.

Có gì xấu trong ảo tưởng đó?

Chẳng có gì xấu. Cử để cho họ ảo tưởng. Nhưng cơ bản là đừng trách móc cuộc đời khi không được đánh giá cao. Chúng ta đừng gắng hết sức vì danh tiếng, bởi nói chung chẳng đạt được đâu và chúng ta sẽ cảm thấy đời mình thất bại. Mà việc cảm thấy như vậy chỉ vì mình không phải là Einstein hay Muhammed Ali thì thật là ngớ ngẩn.

Nhưng có mục tiêu cao có phải là xấu không? Chắc ông đã phải trải qua nhiều đau khổ và từ bỏ nhiều thứ để đạt được đến chất lượng trí tuệ mà ông đang có?

Tôi không nghĩ về mình như thế. Nhưng đặt mục tiêu cao là điều tốt. Chỉ có điều tốt hơn hết là nên có thước đo của riêng mình.

Đánh giá mình theo các tiêu chuẩn riêng, không theo sự tán thưởng của người khác?

Có lẽ là vậy. Bởi sự tán thưởng thường không được chia sẻ một cách công bằng. Quả vậy, đánh giá mình bằng thước đo riêng là điều quan trọng trong cuộc sống.

Vậy là chúng ta đã có vài lời khuyên chung. Còn...

Về tình dục thì xin đừng hỏi tôi. Không phải vì nó không quan trọng, mà vì tôi không muốn đi sâu vào chuyện này.

Vậy tình dục là quan trọng và chúng ta không trao đổi về nó. Thế còn công việc?

Công việc trong cuộc sống rất quan trọng, điều này khá nhàm. Nhưng anh cũng đừng bắt tôi phải đưa ra nguyên tắc chung nên dùng thời gian thế nào – dành cho công việc hay cho gia đình, hay đi uống bia với bạn bè. Mỗi người đều có khó khăn khi tìm sự cân bằng giữa các ích lợi này. Mà không có một đơn thuốc khách quan nào tồn tại. Thậm chí không thể cho mình cái quyền dạy dỗ người khác: „Đừng đi uống bia nếu bạn còn có thể làm việc.” Trong việc dạy dỗ nói chung luôn có điều gì đó đáng ngờ.

Nhưng ông kính trọng đức Phật vì những lời dạy bảo...

Phải.

và nhiều người biết ơn ngài vì ngài đã can đảm dạy bảo...

Phải.

… thế thì?

Tôi không khẳng định rằng khi ai đó cố gắng giải thích cho người khác về thiện ác là xấu. Chúng ta cũng có quyền làm điều đó nếu chúng ta nhận thức được rằng người khác sẽ thực hiện các lựa chọn khác. Nhưng để làm điều này thì phải cảm thấy mình là một sư phụ tốt. Tôi không có cảm giác đó.

Tôi không tìm sư phụ. Tôi tìm người uy tín. Tôi không muốn có những lời giải đáp dễ dãi thường gặp. Tôi muốn nghe xem Leszek Kołakowski đã biết được điều gì về cuộc đời từ tất cả những cuốn sách thông thái, từ kinh nghiệm bản thân và từ những nghiền ngẫm của mình. Tôi hỏi ông: Sống thế nào, thưa giáo sư?

Tôi không biết... Tôi thật sự không biết. Tôi hiểu chúng ta cần những sư phụ... Tôi hiểu chúng ta vẫn luôn đặt ra cho mình câu hỏi: Sống thế nào?... Tôi hiểu chúng ta muốn có những bậc thầy không khiến chúng ta thất vọng... Nhưng không chắc có những bậc thầy như thế, không chắc họ có lý, và không chắc chúng ta nên nghe họ. Ngay cả những lời khuyên tốt nhất của bậc thầy tốt nhất cũng không cần phải thích hợp với tôi và cuộc đời của tôi. Bởi mỗi người sắp xếp đời mình theo một cách khác. Và chúng ta không phải giải thích điều đó. Chúng ta thường làm những việc mà chúng ta không nên làm một cách có ý thức. Những việc gây hại cho ta và cho người khác. Sư phụ bảo chúng ta điều đó là xấu. Nhưng chúng ta cũng tự biết thế. Ngài nói: „Đừng uống rượu”. Nhưng chúng ta vẫn uống.

Vì rượu xoa dịu đau khổ tinh thần?

Nó giúp ta chút gì đó. Sư phụ biết thế. Nhưng ngài cũng không nói: „Hãy uống rượu!” vì ngài không muốn chịu trách nhiệm về những điều xấu xa trong đời ta. Những cái xấu mà chúng ta gây nên, chúng ta phải tự chịu trách nhiệm. Nhất là khi có cả vấn đề về tỉ lệ. Mỗi người đêu hiểu cái xấu khi uống say một lần khác với cái xấu khi tôi bị nghiện rượu. Và mỗi người vượt qua ranh giới này ở những thời điểm khác nhau. Ai, bao giờ – điều này không có sư phụ nào biết được. Tự chúng ta cũng không biết. Vậy nên chúng ta uống rượu và mạo hiểm... Nhưng tôi cho phép mình thưởng thức rượu. Không phải với những hình thức cực đoan, nhưng tôi thích uống rượu vang khi ăn tối và li nhỏ cogniac hay whisky sau bữa tối. Nếu một sư phụ bảo „Đừng uống” thì tôi cũng không nghe. Vì tôi thích rượu vang và cogniac. Nhưng tôi cũng không uống say.

Ông chưa say bao giờ à?

Cũng có, khi còn trẻ. Không có gì phải khoe.

Thế có gì phải xấu hổ không?

Chắc là có. Bởi điều đó có nghĩa là tôi mất kiểm soát đối với các phản xả của mình. Điều này dù sao cũng làm phiền tôi. Nhưng bản thân việc uống rượu thì không. Anh thấy không, hóa ra ngay cả trong những chuyện nhàm chán nhất cuộc sống của chúng ta cũng là một chuỗi những thỏa hiệp không ngừng. Thỏa hiệp giữa những điều trên lý thuyết là tốt với những điều tôi thích dẫu nó không tốt. Ở đây có lẽ ta trở về với câu nói tầm thường nhất, rằng không có ai hoàn hảo.

Và không cần phải hoàn hảo?

Nếu ai đó muốn trở nên hoàn hảo thì cũng không cấm được, mặc dù nỗi khao khát này thường khiến chúng ta thành người khó ưa. Ai mơ ước về sự hoàn hảo, người đó thường dạy dỗ, chấn chỉnh, cho người khác những bài học và tất cả mọi người chạy mất dép. Là một sư phụ không ngừng dạy dỗ và chấn chỉnh là điều không hay. Đó là một cách sống rất xấu. Vậy nên có lẽ cần thỏa hiệp với bản thân và thế giới. Tôi làm nhiều điều và khoan dung với những thứ xung quanh mà tôi không thích, có thể tôi cố gắng hạn chế chúng, nhưng tôi hiểu rằng cách lợi ích trong cuộc sống thường xung đột với nhau. Thực chất khó khăn của cuộc sống chính là sự xung đột lợi ích này. Bởi vậy không có bất cứ một thang giá trị nào hoàn hảo. Nếu tôi tin rằng có một thang giá trị như thế, thì tôi sẽ hướng tới việc công nhận một giá trị nào đó là tuyệt đối và tôi sẽ làm cho những người khác bất hạnh, và cho cả bản thân tôi, dẫu rằng tôi có thể không nhận ra điều đó.

Không biết tôi hiểu có đúng không, rằng nếu bây giờ tôi lại hỏi ông: Điều gì là cốt yếu trong cuộc sống, thì tôi sẽ được nghe rằng chắc điều cốt yếu nhất là sự thỏa hiệp có lý trí?

Có thể nói vậy, nhưng chúng ta cũng không cần phải làm thành một học thuyết. Đó là giá trị mà chúng ta thực hành, nhưng chúng ta không cần phải gọi là thỏa hiệp. Chỉ cần hiểu rằng chúng ta giảm thiểu rủi ro bất hạnh nếu chúng ta chấp nhận sự tầm thường của cuộc sống.

Chấp nhận gì cơ?

Sự tầm thường. Nếu tôi chấp nhận rằng tôi sẽ không là giáo hoàng, hay Greta Garbo, nếu tôi biết rằng tôi không và không cần phải là người hoàn hảo, nếu tôi không đòi hỏi ở mình quá nhiều, tôi hân hưởng những điều nhỏ nhặt, tôi chấp nhận những tội lỗi nho nhỏ và nếu sừ chấp nhận này không khiến tôi bất hạnh, thì đối với mọi người đều tốt hơn.

Nhờ sự tầm thường để có được cuộc sống tốt lành? Đây là lời khuyên của ông?

Có thể là vậy. Nhưng tôi không muốn khuyên ai. Tôi chỉ nói những điều tôi cho là hữu ích.
Nếu nhận thức đó không khiến chúng ta bất hạnh thì chắc trước tiên cần phải biết rằng chính như thế là tốt hơn.

Vậy có thể khi đặt ra luận điểm này cho bao nhiêu người, ông đã mở cho họ con đường đến cuộc sống tốt lành.

Khi điều này không xuất phát từ học thuyết, mà chỉ từ cách cảm nhận cuộc sống. Thế giới không tồn tại để nuôi dưỡng chúng ta bằng hạnh phúc và mê say. Thế giới không phải là thứ chúng ta có thể sử dụng để đạt đến hạnh phúc. Không có cái gì là hạnh phúc. Ta hãy quên những tìm kiếm này đi. Ta hãy hân hưởng sự tầm thường và trong khả năng cho phép tránh bị đau khổ, mặc dù không thể tránh được hoàn toàn.

Ông có thích thế giới của những con ruồi không cánh?

Thế anh có biết thế giới nào tốt hơn không? Có thể đây không phải là một dự phóng sáng lạn. Cũng không phải là một lý thuyết hấp dẫn. Cũng không đặt mục tiêu cao. Không! Đây là một dự phóng khiêm tốn, nhưng khả thi... Và chắc như vậy tốt hơn.... Để cảm thấy dễ chịu khi chúng ta gặp bất hạnh, cần có một cá tính đặc biệt hay có một học thuyết đặc biệt. Ít người có khả năng đó... Nó là thế... Tất nhiên chúng ta có thể tin như Leibniz, thậm chí điều này hữu ích, rằng chúng ta sống trong thế giới tốt nhất có thể. Chúng ta được phép tin vào điều đó. Nhưng Leibniz cũng biết rằng chúng ta phải tiếp nhận niềm tin này a priori, bởi Thượng đế đã phải tạo ra một thế giới tốt nhất có thể. Ngài không thể tạo ra thế giới hoàn toàn không có khổ đau và điều ác. Vì theo logic đó là điều không thể. Hoặc là – chúng ta sẽ phải là những cỗ máy tự động thiếu tư duy, không có tình cảm, không có cảm quan sáng tạo, không có khả năng sử dụng tự do. Vậy nên cái ác, sự đau đớn, khổ đau là cái giá mà chúng ta phải trả để là chính mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là khi ta đau răng thì ta tính sổ với Leibniz và tự nhủ: „Đau là tốt, vì trong kế hoạch chung của Thượng đế nhờ vậy mà thế giới trở nên tốt hơn”. Trên lý thuyết điều đó có thể thuyết phục chúng ta, nhưng không niềm tin nào chữa được cơn đau răng.

Thế còn tiền bạc thì sao, thưa giáo sư? Ông vừa trải qua một điều không xảy ra với nhiều người trong thế giới hiện thực. Chuyện gì xảy ra với một triết gia khi một triệu đô la rơi xuống đầu?

Chẳng có gì đặc biệt. Đó không phải là một bước ngoặt nào trong cuộc sống. Điều đó không có nghĩa tôi là người theo chủ nghĩa khắc kỷ hoàn toàn xa lạ với mọi vật chất. Tôi không xa lạ với điều gì. Được nhận một triệu thì không tồi. Nhưng với tôi là quá muộn để đổi đời. Tôi không mua cho mình xe Rolls-Royce (trị giá bằng một nửa phần thưởng của tôi), tôi không trở thành tay chơi.

Thế ông không nghĩ rằng trên thế giới này dẫu sao vẫn có một sức mạnh công bằng ngầm ẩn à? Bởi có cả biển người cật lực gắng sức cả đời vì tiền và ít người có được số tiền như thế, còn ông không gắng sức, sống hơi giống một người khắc kỷ, đột nhiên lại trở nên giàu có. Có thể dẫu sao vẫn có công bằng trên thế giới?

Không có! Thế giới không công bằng. Không có bất cứ sự công bằng nào. Công bằng theo Aristotles là cho mỗi người cái anh ta đáng được có. Nhưng chúng ta không biết ai đáng được cái gì. Không ai đáng được thắng một triệu. Không có công bằng trong các phán quyết của số phận. Còn nếu có, thì đó là sắp đặt của Thượng đế hoàn toàn không có gì chung với sự công bằng trong cách hiểu của chúng ta. Vì sự tính toán của Thượng đế hoàn toàn khác. Nếu có tồn tại một ý định nào đó của Thượng đế, thì chúng ta cũng không được biết. Và cần phải chấp nhận điều này.

Thế nếu ông phải chọn một lợi ích quan trọng nhất trong đời, thì ông sẽ nói gì?

Tôi muốn im lặng nhất. Nhưng nếu anh rứt móng tay hay cứ nhằng nhẵng hỏi tôi thì chắc hẳn tôi sẽ – không xây dựng một học thuyết cứng nhắc nào cả – nói rằng trong số các lợi ích quan trọng trong đời thì vị trí số một là tình bạn. Bởi trong mỗi cuộc đời con người có biết bao bất hạnh, đau đớn, khổ đau, thất bại, rất khó khăn khi phải chịu đựng một mình. Không ai có thể tránh được thất bại trong cuộc sống! Những tham vọng, ước mơ, đam mê không thành, những đau khổ có lỗi hay không có lỗi. Đau khổ luôn đồng hành với chúng ta. Có một câu nói nổi tiếng của Epicurus về đau khổ: „Những đau đớn không thể chịu đựng nổi thì ngắn, những đau đớn dài lâu thì chịu đựng được”. Thế nên những đau khổ luôn đồng hành với chúng ta là chịu đựng được. Nhưng chúng tồn tại. Và ta phải chịu đựng chúng. Mà nếu có bạn bè thì chúng ta trải qua dễ dàng hơn.

Vì họ có thể giúp chúng ta?

Vì khi biết có người khác bên mình, chúng ta sẽ chịu đựng cái ác của thế giới này tốt hơn. Ta thấy có những người mà đối với họ những thất bại và đau khổ của ta cũng là thất bại và đau khổ của họ, bởi vậy ta cảm thấy dễ chịu hơn, chúng ta có nhiều sức mạnh hơn và can đảm hơn. Điều đó an ủi và tiếp sức cho chúng ta cũng còn vì khi chúng ta làm điều gì đó xấu – mà điều này với ai cũng xảy ra – bạn bè không hắt hủi và mất niềm tin vào chúng ta, ta vẫn luôn được họ ủng hộ. Ta cũng không đánh mất lòng tin vào họ, không tạm treo tình bạn khi biết họ không hoàn hảo. Bởi vì khác với tình yêu, tình bạn không lý tưởng hóa. Nếu có điều gì đo như là một cuộc sống tốt lành, thì đó có lẽ là cuộc sống giữa bè bạn tương trợ lẫn nhau. Chúng ta cần trong cuộc sống những ngừi ta có thể trông cậy tuyệt đối và tin tưởng, những người ta biết rằng sẽ không lừa gạt, không phản bội ta, giúp ta khi cần và ta nên giúp, nên tương trợ trong khốn khó – điều mỗi người đều gặp phải và thiếu bạn bè thì ta khó lòng vượt qua. Hơn nữa, tình bạn là lợi ích phụ thuộc rất nhiều vào chính chúng ta. Ta có thể xây đắp nó bằng chính nỗ lực của mình. Vì tình bạn là mối liên hệ tin cậy mà mỗi người có thể dựng nên quanh mình. Mà sự tin cậy giúp ích chúng ta. Không chỉ sự tin cậy đặc biệt giữa bạn bè. Tất nhiên ta không thể tin tưởng hoàn toàn tất cả mọi người. Cái đó rõ rồi. Nhưng nên có giả định tích cực khi ta thấy ái đó lần đầu.

Nghĩa là tin người lạ như cho vay nợ?

Tin trên nguyên tắc thì đúng hơn. Bởi sẽ rất tệ nếu sống trong niềm tin thường trực rằng ai cũng có thể lừa đảo, lợi dụng và tôi phải cảnh giác liên tục. Thật buồn khi phải sống luôn nhìn quanh nghi ngờ. Cả tin dễ chịu hơn.

Cái này nghe ngây thơ quá, và có thể không an toàn.

Có thể. Nhưng như thế vẫn tốt hơn. Chắc rằng chúng ta sec không chỉ một lần thất vọng, nhưng thỉnh thoảng bị lừa còn tốt hơn sống cuộc đời luôn nghi ngờ không tin ai. Ngoài ra lòng tin của chúng ta khiến người khác trở nên tốt đẹp hơn, và chính chúng ta cũng thế.

Nhưng tình bạn không phải chỉ có lòng tin. Ông có tin vào tình bạt bất vụ lợi không?

Tất nhiên. Dễ nhất là kết bạn thực sự với những người không có liên hệ lợi ích nào với chúng ta.

Mỗi người đều muốn có những người bạn có thể trông cậy trong những giờ phút đen tối nhất, nhưng ít người chắc chắn có được như vậy. Tìm những người bạn như thế ở đâu?

Thành thật mà nói thì đây có lẽ là chuyện ngẫu nhiên. Cả cuộc đời là chuỗi không ngừng những ngẫu nhiên không thể dự đoán trước. Phải là thế và chắc hẳn như thế là tốt. Có nhiều thứ thậm chí không cần cố gắng hiểu. Chắc chắn là có một mối liên hệ tinh thần khiến ta kết bạn với ai đó, còn với nhiều người khác thì không bao giờ thành mặc dù ta thường xuyên gặp họ. Khó mà nói được vì sao lại như thế, nhưng mỗi người đều có thể nói ngay mình không thể kết bạn với ai. Ví dụ tôi không thể kết bạn được với những người không ngừng đòi hỏi phải được tham gia vào quyền lực. Không phải vì tôi đánh giá họ không tốt. Tôi không đánh giá. Thậm chí tôi có thể thích họ, gặp gỡ và trò chuyện với họ. Nhưng tôi không kết bạn. Vì tôi không carmt hấy gần gũi. Điều này có lẽ quá bình thường.

Có và không. Bởi vì dẫu sao tôi vẫn cảm thấy có điều gì đó không bình thường khi tôi nghe ông nói – từ góc nhìn cả đời của ông – rằng bạn bè là quan trọng nhất. Nguyên tắc bạn bè là trên hết này có đúng trong cuộc sống của ông không?

Chắc chắn không chỉ một lần. Nhưng tôi không thể cho ví dụ cụ thể.

Ông đã có những lúc lên voi xuống chó trong đời. Ví dụ như khi ông rời Ba Lan, khi đó thật chẳng dễ dàng gì. Khi đó bạn bè có giúp đỡ ông không?

Chắc rồi, họ giúp chứ. Nhưng nếu bây giờ tôi bắt đầu nói về chuyện này thì tôi sẽ phải kể khi đó khó khăn thế nào. Mà tôi không muốn kêu ca. Chúng ta hãy cố gắng kêu ca ít hơn về cuộc sống. Nếu có thể, chúng ta hãy can đảm. Đừng kêu la thế giới tồi tệ ra sao đối với chúng ta. Bởi vì khi cằn nhằn về những tội lỗi xấu xa của thế giới, chúng ta thường bị chê cười hơn là được giúp đỡ.

Thế bạn bè khi đó không xuất hiện à?

Họ xuất hiện khi chính chúng ta sẵn sàng cho tình bạn. Bởi vì có những người sợ tình bạn, họ cho rằng có bạn bè là khiến mình có thêm các khoản chi phí, những sự nỗ lực, không thoải mái. Những người này tự họ khiến mình bất hạnh. Biết làm sao. Chắc là không giúp gì được cho họ. Còn với bạn bè thì không nên hà tiện. Ít khi có khoản chi nào có lời như vậy.

Nghĩa là về bản chất, bạn bè quan trọng nhất là bởi tình bạn là nơi các nguyên tắc chung trong quan hệ giữa người với người không có hiệu lực? Không có cạnh tranh, không lý tính, không phán xét, không phân loại, không vụ lợi.

Tôi không biết có thể nói đơn giản vì sao hay không. Đó đơn giản là mối quan hệ qua lại giữa những người hoàn toàn tin cậy nhau. Họ không co rằng người kia phải hoàn hảo và vô tội, nhưng họ thực sự tin tưởng nhau. Có thể thú tội với bạn thân, nếu ta cần, có thể nhờ khuyên bảo mà không sợ bị cười. Với bạn bè chúng ta cảm thấy hoàn toàn an toàn. Không có gì trong cuộc sống quan trọng hơn thế. Bạn là người ta có thể trông cậy bất chấp tất cả. Bạn thậm chí không cần phải tha thứ cho ta. Có những tội lỗi kinh khủng tới mức làm hỏng tình bạn. Nhưng những lỗi lầm bình thường thì không làm hỏng được nó. Chúng có thể làm hỏng mối quen biết, nhưng không phá hỏng tình bạn.

Thế tình yêu?

Tình yêu giữa đàn bà và đàn ông là một sự phức tạp. Ở đó cũng có cảm giác không cần tha thứ. Chúng ta cũng tha thứ nhưng một cách tự nhiên và ngẫu hứng. Chúng ta giải thích, tự vệ, nhưng không lên án. Như chúng ta tha thứ lẫn nhau.

Sự khác nhau nằm ở chỗ chúng ta là định mệnh không tránh khỏi của nhau. Ta có thể chia tay với những người khác nếu ta không chấp nhận họ. Có nghĩa là tình bạn vẫn là nơi phần lớn các nguyên tắc chung bị loại bỏ. Ở đây không có nguyên tắc công bằng. Khi người ta hỏi ông nên trao giải thưởng quan trọng cho ai đó, thì ông sẽ nêu tên bạn mình trước tiên chứ?

Không có nguyên tắc chung.

Thế tình bạn có được cộng điểm trong trường hợp này không?

Tất nhiên là có. Tôi sẽ nghĩ về bạn mình rất nồng nhiệt. Và không có gì là xấu ở đây.

Đấy không phải là sự dung túng bạn bè hay sao? Điều đó không làm tổn hại nguyên tắc bình đẳng và các nguyên tắc chung sống sao?

Chúng ta không, và chúng ta cũng đừng giả vờ, là chúng ta có thể tuyệt đối công tâm. Chúng ta không như thế. Chúng ta sẽ không như thế. Và chắc hẳn vậy là tốt. Nhưng chúng ta nên biết điều đó thì tốt hơn là tự dối mình. Chúng ta muốn bạn bè mình may mắn, chúng ta muốn ủng hộ họ, và nếu điều đó nằm trong khả năng của chúng ta, chúng ta đứng về phía lợi ích của họ. Hãy để cho mọi sự như thế.

Ồ bây giờ ông đang ca ngợi sự dung túng.

Đó là vấn đề thước đo. Tình bạn là tốt và sự dung túng là xấu, ranh giới giữa chúng là thước đo. Nhưng đó cũng không phải là một ranh giới rõ ràng. Và chắc cuộc sống của chúng ta là vậy. Không có các ranh giới rõ ràng. Trong bất cứ một sự việc đúng đắn nhất nào cũng không nên rơi vào chủ nghĩa cơ yếu. Tránh khắc nghiệt và chủ nghĩa cơ yếu, đó lại là một điều quan trọng nữa trong cuộc sống. Các nguyên tắc cứng nhắc, không thể sửa đổi, không thể mềm dẻo – đó thường không phải là các nguyên tắc minh triết. Các nguyên tắc minh triết không bao giờ tuyệt đối. Bởi trong cuộc sống hầu như không bao giờ có tình huống không có gì quan trọng trừ một thứ duy nhất. Và hãy cứ để mọi thứ như thế. Không có điều gì đơn nghĩa trên đời. Là như vậy. Có lẽ phải là như vậy. Và có lẽ như vậy là tốt.