Showing posts with label tản mạn. Show all posts
Showing posts with label tản mạn. Show all posts

Wednesday, 23 February 2011

"Lễ hội mùa xuân", tác phẩm sắp đặt video của Katarzyna Kozyra

(Katarzyna Kozyra và tác phẩm "Lễ hội mùa xuân" tại Nhà trưng bày nghệ thuật quốc gia Zachęta, ảnh lấy từ internet)

Rất tình cờ và may mắn, tôi được xem triển lãm của Katarzyna Kozyra  vào đúng ngày bế mạc tại Nhà trưng bày nghệ thuật quốc gia Zachęta. Katarzyna Kozyra được xem là một trong những nghệ sỹ đương đại Ba Lan nổi tiếng nhất trong vòng hai thập niên trở lại đây. Những tác phẩm của bà - rất đa dạng, từ nhiếp ảnh, sắp đặt video, phim, và các tác phẩm pha trộn giữa các thể loại này... - đã kéo tôi từ cơn sốc này qua cơn sốc khác, từ sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác, từ nỗi ám ảnh này đến nỗi ám ảnh khác, những trạng thái cảm xúc hiếm hoi trong cuộc sống dường như đã quá đỗi bình thản này. 

Tôi sẽ không viết về các tác phẩm sắp đặt video Nhà tắm nữ và Nhà tắm nam, nơi dường như vị thế của „kẻ ngắm nhìn” và „người bị ngắm nhìn” hoàn toàn đảo ngược. Tôi sẽ không viết về Kim tự tháp súc vật - tác phẩm tốt nghiệp của bà và những tranh cãi sóng gió xung quanh nó những năm 90. Tôi cũng sẽ không viết về tác phẩm video Hình phạt và tội ác với những câu hỏi ám ảnh về ranh giới và sự đảo lộn của những khái niệm ấy; hay về một Olympia không phải của Manet, cũng đầy thách thức với những câu hỏi được đẩy xa hơn, một Olympia trần trụi, đau yếu, bệnh tật, một lần nữa lại đảo lộn các „chuẩn tắc thẩm mỹ” về cơ thể phụ nữ khi được/bị đem phơi bày trước công chúng, rằng họ luôn là „kẻ bị nhìn ngắm” bằng đôi mắt đàn ông... Không, tôi sẽ không đủ sức viết hết về những tác phẩm bằng những cách rất khác nhau đã để lại trong tôi ngổn ngang ấn tượng và dư âm ấy.

Tôi sẽ chỉ viết chút ít, như ghi lại một kỷ niệm, về „Lễ hội mùa xuân”- tác phẩm sắp đặt video khiến tôi xúc động nhất.

„Lễ hội mùa xuân” là tác phẩm Katarzyna Kozyra thực hiện với cảm hứng xuất phát từ vở ballet nổi tiếng cùng tên của Stravinsky với phần biên đạo của Vaslav Nijinski (1913). Do âm nhạc và biên đạo đều quá khó, bất chấp mọi nguyên tắc, vượt quá giới hạn mà nghệ thuật múa ballet cổ điển có thể chấp nhận, vở ballet đã thất bại. „Lễ hội mùa xuân” kể về một tục lệ cổ xưa của người xla-vơ, nơi một trinh nữ phải khiêu vũ cho đến chết để đánh thức sức sống của đất đai, mang lại mùa màng. Nijinski đã hoàn toàn từ bỏ kỹ thuật ballet cổ điển, các vũ công của ông nhảy múa như những con rối, thực hiện những động tác nằm ở tận cùng ranh giới khả năng của con người. Sự gắng sức đến mức gần như bất lực của họ là điều người xem phải thấy rõ. Các động tác không mềm mại, trơn tru, vũ điệu phải trở nên cứng nhắc, co giật.

Trong tác phẩm sắp đặt video của Katarzyna Kozyra, các màn hình được xếp đặt thành hai vòng tròn, vòng ngoài chiếu vũ điệu của đám đông, các màn hình vòng trong chiếu vũ điệu của một vũ công duy nhất, người „được chọn” phải nhảy múa đến chết. Các vũ công nhảy múa theo đúng phần biên đạo của Nijinski. Điều đáng nói ở đây là các thước phim không phải được quay, mà được dựng từ các bức ảnh chụp họ trong các tư thế nằm trên sàn nhà, rồi ghép lại như phim hoạt hình. Để có một phút phim, cần phải chụp hơn một nghìn bức ảnh. Những nhân vật trong tác phẩm đều là vũ công đã giải nghệ. Trong „Lễ hội mùa xuân” của Kozyra, họ hoàn toàn trần truồng, nhảy múa trong một khung cảnh trần trụi, trên nền màn hình trắng tinh, hoàn toàn không có dàn dựng. Tất cả các màn hình được bóng tối dày đặc bao quanh, bóng tối được lấp đầy bằng âm nhạc của Stravinsky.

Với tôi, đầu tiên là cảm giác sốc. Trong bóng tối nổi bật lên hình ảnh các vũ công trần truồng, những cơ thể già nua bị thời gian tàn phá, những cơ thể tạm bợ vì đã bị đổi giới tính (các nam nữ vũ công đều được gắn bộ phận sinh dục giả của giới kia). Rồi một cảm giác căng thẳng, cái căng thẳng khi những giới hạn của cơ thể bị đẩy đến tận cùng, trong những điệu vũ giật cục. Nhưng rồi những cảm giác ấy qua đi, chỉ còn lại một sự thương cảm sâu xa. Những ranh giới về tuổi tác, giới tính bị xóa nhòa, những cơ thể trần trụi thật thà không „tô vẽ”, không lung linh dưới "ánh đèn màu" như chúng đã từng tỏa sáng trên những sân khấu ballet thủa nào, giữa những vòng tròn sống-chết, chính là bức tranh tuyệt vọng và đầy xúc động của nhân sinh. Chính ở đó là nỗi buồn sâu thẳm, chính ở đó là nỗi-kinh-sợ-thiêng-liêng, chính ở đó sự-thật hiển lộ, chính ở đó bắt đầu thi ca...

„Chỉ khi khiêu vũ, ta mới biết cách nói lên ẩn dụ về những điều cao nhã tuyệt vời nhất”, Zarathustra đã nói như thế.

Và tôi nhớ đến Zorba, nhớ đến sự-im-lặng-đang-được-vang-lên.

Trong vũ điệu của  "Lễ hội mùa xuân” này, một cách xót xa và nhức nhối, những sự im lặng đã được vang lên.

(Thái Linh)

Friday, 20 August 2010

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về


(Bầu trời Baltic)


Từ lần cuối cùng tôi nghỉ hè bên bờ biển Baltic, đã hơn mười năm trôi qua. Trong vòng hơn mười năm ấy, dĩ nhiên đã có những lần gặp gỡ ngắn ngủi khác, nhưng chỉ là thoáng chốc và không trọn vẹn. Tôi cũng chẳng nhớ nhung, Baltic quá gần để nhớ nhung. Khi chuẩn bị cho chuyến đi này, tôi không có cảm giác mình đang lên đường. Có chút gì đó như hờ hững như thờ ơ như không hề mong đợi. Mặc dù sẽ đến một thành phố xa lạ, nhưng tôi biết rằng ở đó sẽ chẳng có gì quá xa lạ với mình. Vẫn là thứ ngôn ngữ đang vây bọc tôi hàng ngày. Ngôn ngữ không thay đổi thì dường như chẳng có gì để mà hồi hộp, để tò mò và ngạc nhiên, để cảm thấy mình sẽ khám phá những điều mới lạ.

Vậy mà tôi đã ngạc nhiên, đã khám phá những điều mới lạ, không phải ở nơi nào xa xôi mà chính trong lòng mình. Vì thế, tôi sẽ không tả cảnh, không kể chuyện, tôi sẽ chỉ viết về những nỗi ngạc nhiên, về những ngỡ ngàng và thích thú.

Tôi ngạc nhiên sao mình lại xúc động đến thế khi trên con tàu băng qua Ba Lan, tôi mải mê ngắm nhìn như mới thấy lần đầu những bình nguyên xanh mướt, những vườn táo lấm tấm quả, những cánh đồng vàng rượi sau mùa gặt, những rừng bạch dương âm u trong mây mù...,những gì tôi tưởng đã quá thân quen. Một cảm giác bình yên lan tỏa, từ từ và lặng lẽ, nhẹ nhàng và mềm mại. Để rồi khi tất cả dần chìm vào làn mưa, cảm giác bình yên ấy như một làn ánh sáng dần sáng lên quanh tôi. Mưa càng nặng hạt, gió càng tạt mạnh vào con tàu, bầu trời càng sầm tối thì ánh sáng ấy càng rực rỡ. Như thể bao nhiêu ấm áp, bao nhiêu êm ả của những bình nguyên vườn táo cánh đồng khu rừng đã dồn hết về đây, trong toa tàu này, để thắp cho các ngọn đèn mỗi lúc một sáng hơn. Giữa tâm ánh sáng ấy, tôi ngồi thật lặng im khi con tàu lao nhanh trong mưa gió, bất động trong chuyển động, và, hơn bao giờ hết, lòng thăm thẳm bình yên.

Baltic trong mưa. Trước phòng tôi, từ ban công nhìn ra, biển xa hút tầm mắt. Bước một cái là xuống biển, vậy mà tôi vẫn chưa thể chạm vào biển. Baltic nấp sau tấm màn mưa xám đục, bắt người ta phải chờ đợi và kiên nhẫn. Tôi ngạc nhiên sao mình không chán nản mà thậm chí còn thấy dễ chịu. Tôi vui thích lắng nghe tiếng mưa đổ xuống hòa cùng tiếng sóng biển và tiếng gió cuộn trong những vòm cây tạo thành một khối âm thanh rì rào đặc sánh, thứ âm thanh tôi chưa từng được nghe. Những nhạc cụ ướt lạnh lướt thướt ấy - mưa, gió và sóng biển – kỳ lạ thay, lại làm nên một bản hòa tấu ấm áp, hài hòa, khiến người ta có cảm giác êm ả như trong đêm tất niên của thời thơ ấu ngồi nghe nồi bánh chưng sôi.

Baltic mưa và tôi ngồi đọc Nhiệt đới buồn. Tôi gặp lại Kapuściński trong những trang viết của Claude Lévi-Strauss, ở Ấn Độ, ở Nam Mỹ, ở những suy tư và đào xới sâu hơn là du ký, ở cái nỗ lực để thấu hiểu và cảm thông với những Người khác. Tôi nhớ Kapuściński, nhớ mơ ước chưa thành của ông là làm một chuyến du hành trên biển theo dấu chân Bronisław Malinowski (nhà nhân học Ba Lan kiệt xuất, người thường được coi là một trong những nhà nhân học quan trọng nhất của thế kỷ 20).

Khi mưa tạnh, những tia nắng đầu tiên dịu dàng xuyên qua bầu trời đầy mây rọi vào phòng, nghe tiếng còi tàu đầu tiên vang lên ngoài biển, tôi nhìn ra ban công và thấy những cánh chim đầu tiên bắt đầu chao liệng trong không trung trên mặt biển lấp lánh ướt, giống như nụ cười đang từ từ bừng nở trên gương mặt bé thơ còn long lanh nước mắt. Từ ban công này, trong xa vắng Địa Trung Hải, trong thương nhớ những đám mâybầu trời của Szymborska, tôi sẽ còn nhiều lần nhìn ngắm trời mây Baltic với nỗi ngạc nhiên tinh khôi nhất. Trong một ngày mùa hè, bầu trời Địa Trung Hải luôn xanh thẳm. Nhưng bầu trời Baltic thì khác, nó sinh động và biến đổi không ngừng. Vẻ đẹp bầu trời Địa Trung Hải là vẻ đẹp của sự ngưng đọng và tĩnh lặng, của mãn nguyện và bình yên, thanh thản, vẻ đẹp của huyền thoại và quá khứ, của vĩnh cửu và hoàn hảo. Bầu trời Baltic mang vẻ đẹp của chuyển động và thay đổi, của ngạc nhiên, mong đợi và tuơng lai, vẻ đẹp của khoảnh khắc và cái mong manh vô thuờng, của sự bất toàn và day dứt, như chính cuộc sống.

Những ngày nằm dài trên bãi biển, tôi thích thú nghe tiếng rao của những người đi bán dạo. Những tiếng rao! Tuổi thơ của tôi làm sao có thể thiếu những âm thanh mời gọi và vui vẻ ấy, ngày tháng xa xưa ở Việt Nam. Thật bất ngờ khi các con tôi bây giờ vẫn còn được nghe những tiếng rao trong muôn vàn âm thanh của cuộc sống. Rất lạ là hơn mười năm trước, không có những người bán dạo trên bãi biển. Cứ như mọi thứ đi ngược thời gian. Hay đúng hơn, có những dòng chảy ngược xuôi thời gian đan xen vào nhau. Vì tôi chìm trong một cảm giác mới lạ khác khi nghe xôn xao quanh mình không chỉ là tiếng Ba Lan,tiếng Việt, mà cả tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga... Mười năm trước, bức tranh ngôn ngữ đơn điệu hơn nhiều. Và giữa những dòng ngược xuôi thời gian ấy, tôi luôn tròng trành trong cảm giác lạ mà quen, quen mà lạ, vừa là trở lại vừa là ra đi.

Ngày trở về, tàu lại băng qua những cánh đồng và những bình nguyên giờ đây ngập nắng, những rừng bạch dương lấp lánh thân bạc, những trảng cỏ xanh miên man có đàn bò sữa màu lông loang lổ trắng đen... Giữa không gian tươi sáng ấy, tôi ngỡ ngàng nhận ra các nhà ga trông vẫn tồi tàn và cũ kỹ làm sao, không khác gì hơn mười năm trước. "Ga nhỏ ồn ào, hồi hộp nỗi riêng chung / Ta sẽ nhớ khung cảnh này mãi mãi."(*) Những sân ga lưu giữ bao ký ức nhọc nhằn của người Việt trên mảnh đất Ba Lan một thời đã xa, những sân ga bao giờ cũng khiến sống mũi như cay, bất chấp bao thay đổi của cuộc sống, của thời đại, như đã vĩnh viễn dừng lại ở một điểm nào xa lắc trong quá khứ. Và một lần nữa, tôi lại thấy mình đang trở về trong chuyến đi xa.

Vì những chuyến đi xa luôn là sự trở về.


---

(*) thơ B.Kornilov,Thụy Anh dịch



Wednesday, 29 April 2009

Nhà thờ Thánh Giá ở Vác-sa-va



Văn phòng của tôi nằm trong một thung lũng. Từ thung lũng nhỏ này, nếu đi theo con dốc cong men dọc khuôn viên của trường Tổng Hợp, lên đến ngã ba trên đỉnh dốc, tôi sẽ thấy bức tượng Copernics và tòa nhà của Viện Hàn Lâm Khoa Học Ba Lan ở phía bên trái. Nếu đi về phía bên phải chừng một trăm mét, tôi sẽ gặp cổng chính của trường Tổng Hợp. Bên kia đường, gần như đối diện với cổng trường, là nhà thờ Thánh Giá.

Lần đầu tiên tôi vào nhà thờ này là khi còn học năm thứ nhất. Một người bạn Ba Lan sau giờ học trên giảng đường muốn vào đây cầu nguyện và rủ tôi đi cùng. Tôi vẫn nhớ, trong quãng đường ngắn ngủi từ cổng trường sang nhà thờ, chúng tôi đã nói một câu chuyện gì đó rất vui và cười vang cả đường. Khi đến trước cửa nhà thờ, bạn tôi chợt nghiêm mặt lại, thì thầm bảo tôi: „Không cười nữa nhé!” Chúng tôi bước những bước rón rén vào trong, và tôi thì gần như nín thở.

Cho đến giờ tôi vẫn không quên cảm giác kỳ lạ khi nhìn thấy bạn tôi, vốn to lớn và mạnh mẽ như một con sư tử, thành kính quỳ xuống trước hình Chúa, hiền lành và ngoan ngoãn như một con mèo! Không bao giờ tôi có thể tưởng tượng được người bạn giỏi giang, cương cường, kiêu hãnh, lúc nào cũng rất „phớt ăng lê” ấy lại ở trong tư thế này, trạng thái này. Và có lẽ tôi sẽ mãi mãi không hiểu được sức mạnh nào đã làm cho bạn tôi quỳ gối xuống một cách nhẹ nhàng như thế. Tôi vốn chẳng tin vào thần thánh hay bất cứ một thứ tôn giáo nào.

Sau đó, trong suốt thời gian học đại học, tôi đã vào đây nhiều lần. Nhà thờ Thánh Giá được xây vào những năm cuối thế kỷ XVII theo kiểu baroque. Nơi đây, vào năm 1792 đã diễn ra phiên họp long trọng của Quốc hội nhân kỷ niệm Hiến pháp Mồng 3 tháng 5 tròn một tuổi. Đây là bản hiến pháp đầu tiên của châu Âu, và thứ 2 trên thế giới (sau hiến pháp Mỹ). Nhà thờ bị phá hủy gần như hoàn toàn vào năm 1944, sau khi chiến tranh kết thúc mới được khôi phục lại trong ròng rã một thập niên.

Có những lần, tôi vào nhà thờ chỉ để nhìn tấm biển bằng đá có khắc dòng chữ „Nơi đây an nghỉ trái tim của Fryderyk Chopin”. Không hiểu sao tôi luôn có một cảm giác bình yên khi nhìn vào đó. Nhà thờ Thập Tự Thánh cũng là nơi lưu giữ trái tim của đại văn hào Władysław Reymont, người đoạt giải Nobel văn chương vào năm 1924.

Nhưng điều khiến tôi xúc động nhất mỗi khi vào nhà thờ này là góc thờ thánh Jude Thaddaeus ở phía bên cánh trái. Thánh Thaddeus là vị thánh coi sóc về những chuyện tuyệt vọng, khó khăn, không lối thoát. Ở nơi thờ ông, tôi nhìn thấy hàng ngàn những tấm biển bằng kim loại nhỏ xíu người ta gắn lên bức tường bên cạnh và dát lên những bệ quỳ để cầu nguyện. Trên các tấm biển ấy là lời cảm ơn của những con người trong tuyệt vọng, đã đến đây khẩn cầu thánh Thaddeus, và lời cầu nguyện của họ đã trở thành hiện thực. Tôi đã đọc rất nhiều những tấm biển ấy, những nỗi tuyệt vọng không giống nhau, nhưng lòng biết ơn thì là một. Mỗi một tấm biển nhỏ xíu kia là một câu chuyện, một cuộc đời, một phép màu. Nhìn thấy chứng tích của ngần ấy phép màu, làm sao có thể không xúc động...

Cuối cùng thì tôi cũng đã hiểu sức mạnh nào làm người bạn năm xưa của tôi quỳ gối nhẹ nhàng như thế.

Friday, 24 April 2009

Jesus Blanco Bailac

Jesus Blanco Bailac. Cái tên ấy đã từng rất thân quen với tôi. Nhanh quá, mơi đó mà đã 10 năm rồi!

Ngày đó, cả lũ chúng mình ríu rít như một bầy chim.

Ngày đó, bạn tóc vàng bồng bềnh dợn sóng, đôi mắt xanh sâu thẳm, mũi cao thẳng cương quyết, tiếng nói âm vang, giọng cười vừa ấm áp vừa kiêu hùng.

Ngày đó, bạn áo sơ mi trắng quần jeans đen, khắc sâu vào tâm trí tôi những bước nhảy flamenco cuồng nhiệt.

Ngày đó, bạn ôm guitare hát với cả ngọn lửa nóng nhiệt thành của người thanh niên miền Ðịa Trung Hải.

Ngày đó tôi nhỏ bé như một chú chim sẻ, vô tư và ngơ ngác. Khi nghe tôi lẩm bẩm hát theo Elsa "quelque chose dans mon coeur...", bạn đã mỉm cười nói: "Trái tim của bạn là trái tim gà con".

Cả lũ chúng ta hẹn nhau 10 năm sau, dù ở đâu, cũng sẽ gặp lại. Người may mắn bốc thăm được "quyền đang cai tổ chức” cuộc gặp mặt này là Ming Yang, cô bạn nhí nhảnh hay cười nhất hội. Nơi gặp mặt được ấn định là Bắc Kinh, quê của Ming Yang. Hẹn vậy thôi, chứ đối với chúng ta khi đó thì 10 năm còn lâu lắm, lâu ngoài sức tưởng tượng. Giống như trẻ con hay nói "Lớn lên, chúng mình sẽ lái máy bay"....

Mười năm trôi qua, lời hẹn vui vui chắc chẳng ai còn nhớ. Tôi vừa nghe tin Ming Yang trong một lúc mất sạch cơ nghiệp. Nhớ lại nụ cười hồn nhiên ngày trước của cô ấy, tự nhiên cứ thấy nao lòng.

Ðêm nay, chợt bắt gặp trên màn hình ánh mắt buồn của một cổ động viên Tây Ban Nha sau trận bóng. Ðôi mắt ấy cũng sâu thẳm như mắt bạn. Và tôi lại thấy lòng mình nao nao...

Jesus Blanco Bailac. Mười năm rồi, có thể bạn đã thành công, cũng có thể bạn vẫn còn đang loay hoay với cuộc đời như tôi. Bạn đang ở Tây Ban Nha, mà cũng có thể là một góc nào khác trên trái đất. Thậm chí, biết đâu đêm nay bạn đang có mặt ở Bồ Ðào Nha, giữa những cổ động viên kia cũng nên. Có thể bạn cũng đang buồn...

Mười năm đã trôi qua, chúng ta chỉ còn lại cho nhau những khoảnh khắc nao lòng...

Nhưng có lẽ đó cũng đã là hạnh phúc.

(Sau trận Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha, Euro 2004)

Nàng Ophelia đã chết



„Hãy để tôi ra đi lúc này
Tôi chả nặng là bao trên những dòng nước
Tôi sẽ đem theo chả mấy tí
Một vài khuôn mặt bầu trời mùa hè
Một bông hồng mở."
(Le livre d’Ophélie, Anne Perrier, Diễm Châu dịch)


Nàng Ophelia đã chết rồi. Bập bềnh trong nước, giữa hương thơm của những bông hoa mà nàng vẫn yêu... Êm đềm và dịu dàng. Nàng đã đau biết bao nhiêu, đã khổ biết bao nhiêu! Nàng đã đi qua bao nhiêu vực thẳm... Những vết thương vẫn nóng bỏng như hơi ấm còn chưa rời thân thể nàng. Nước giải thoát cho nàng. Nước ôm ấp lấy nàng, vuốt ve nàng, nâng đỡ nàng, ru nàng bằng lời ru ấm áp của những tia nắng lấp lánh trên mặt sông. Những nỗi buồn sẽ chìm sâu xuống đáy. Ophelia, nàng là nước, là hoa. Bây giờ nàng trở về với nước và hoa…

Nàng có đòi hỏi gì nhiều đâu, nàng hiền lành quá. Thế giới này không có chỗ cho nàng, thế giới này đã phản bội nàng.

Nàng trong suốt và thơm hương. Ngày tinh khiết như tấm tình trong trắng của nàng. Trong một thế giới đầy buồn đau, sự điên dại là một gương mặt khác của hạnh phúc, cũng là một sự giải thoát.

Nàng đã được giải thoát hai lần. Ophelia, nàng đã chết. Một cái chết từ bi, thơm ngát và đẹp xiết bao...!

Bài Thánh ca buồn



Thế là lại Giáng Sinh. Ngoài đường, người ta đã chăng đèn kết hoa lấp lánh. Đêm châu Âu lung linh và rực rỡ. Tuyết đã rơi, mỗi ngày một dày hơn. Năm nay đêm Noel chắc sẽ rất „đúng kiểu”, nghĩa là sẽ có tuyết, white Xmas...

Những bài hát Giáng sinh vang lên khắp nơi: trong các cửa hàng và trung tâm mua bán, trên đường phố, trong các tiệm ăn, ở sân bay, nhà ga, thậm chí trong các công sở nữa. Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ có thể nghe thấy bài hát ấy trong vô số những bài hát Giáng Sinh đang vang lên nơi đây.... „Bài thánh ca buồn”....

Bài thánh ca đó còn nhớ không em
Noel năm nào chúng mình có nhau...


Đó là một Noel tuyệt đẹp trong đời tôi, đêm Noel giữa thành Rome cổ kính. Như những khách du lịch tò mò khác, chúng tôi lang thang trên quảng trường trước toà thánh Vatican, ngắm cây thông vĩ đại cao ngất ngưởng người ta dựng giữa quảng trường. Hai hàng người dài lê thê trước nhà thờ St. Peter chờ đến giờ được vào làm lễ. Chủ yếu là người nước ngoài. Người Ý ít đến nhà thờ nổi tiếng này vào đêm Giáng sinh, có lẽ họ „nhường” cho du khách, hoặc là họ không thích cảnh xếp hàng mệt mỏi này, họ thích chọn một nhà thờ nhỏ thân thuộc nơi góc phố của họ hơn, mà ở Rome thì mỗi góc phố là một…nhà thờ! Chúng tôi đang thất vọng vì dù có muốn cũng không thể gia nhập vào hai hàng người lê thê kia. Chúng tôi không có giấy vào cửa! Cứ ngỡ cánh cửa nhà thờ nào đêm nay cũng rộng mở cho mình...

Bỗng nhiên hai bà xơ xuất hiện, cứ y như một phép màu, và hỏi chúng tôi có muốn vào nhà thờ không. Hai bà xơ hiền từ chìa cho chúng tôi 2 tấm giấy xinh xinh và cười đôn hậu. Giống hệt như trong truyện cổ tích! Chúng tôi cứ tròn mắt ra vì ngạc nhiên rồi cám ơn rối rít. Các bà xơ đi rồi mà chúng tôi vẫn không tin được chuyện gì đã xảy ra. Có lẽ chỉ còn cách giải thích, như bao lần tôi đã giải thích cho riêng mình, rằng khi ta thành tâm mong muốn một điều gì, thì cả vũ trụ sẽ cùng chung sức để giúp ta thực hiện điều đó...Chỉ đến lúc hai đứa đã ở trong nhà thờ, đã yên vị trên chiếc ghế băng dài màu đen phía cuối giáo đường, chúng tôi mới dám tin là đêm nay mình sẽ đón Noel với Đức Giáo Hoàng Jan Pawel II.

Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang
Xin cho đôi mình suốt đời có nhau
Vang trong đêm lành bài ca Thiên Chúa
Khẽ hát theo câu đêm Thánh vô cùng….


Đêm ấy, có hai người không theo đạo đã thành tâm mừng Chúa ra đời, trong giáo đường nổi tiếng nhất thế giới, cùng với một người Ba Lan nổi tiếng nhất thế giới…. Có hai người mang trong tim mình niềm tin vào tình yêu và những điều kỳ diệu trong cuộc sống để thấy yêu người, yêu Chúa, yêu thế giới, yêu những bài thánh ca…. Một đêm nhiệm màu....

Nhưng rồi “mùa giá buốt cũng qua mau”... Lần cuối anh gọi điện cho tôi từ Brussells, giọng anh thật buồn: “Mai anh về Sài Gòn”. Tôi bình thản, bình thản đến không ngờ: „Vâng, anh về bình an nhé, cố gắng ổn định cuộc sống sớm và giữ sức khoẻ…” Tôi không khóc cũng không nghẹn ngào. Cảm ơn cuộc đời đã cho chúng ta những kỷ niệm đẹp. Cảm ơn anh đã chia sẻ cùng tôi một đêm Giáng Sinh thật đáng nhớ. Cuộc đời có những cách sắp đặt của riêng nó, nhưng vẫn luôn vô cùng kỳ diệu. Chúng ta là những người may mắn phải không anh, bởi vì bây giờ mỗi đứa đều có một khoảng trời riêng hạnh phúc, bởi vì chúng ta vẫn tin tưởng bước trên con đường mình đã chọn, vẫn nghĩ về nhau như những người bạn, bởi vì mỗi mùa Giáng Sinh em lại nghe “Bài Thánh ca buồn” không phải để buồn, mà để thấy lòng mình như trong trẻo hơn…

Ký ức




Khi ta chụp một bức ảnh, ta lưu giữ được một giây. Chỉ một giây thôi, giây sau đã là khác rồi.

Một ánh chớp của ký ức, một cái nháy mắt. Vậy mà có những bức ảnh ta cứ xem đi xem lại. Và tưởng rằng mọi thứ vẫn y nguyên như thế, như khi ta chụp ảnh. Tưởng rằng sự vật ấy vẫn như thế, và tình cảm của ta với nó cũng vẫn như thế.

Một entry, một bài viết, một bài thơ... cũng chỉ lưu giữ được một khoảnh khắc ấy thôi - khi ta đang viết. Từ khi ta đặt bút chấm hết, mọi sự cũng đã khác rồi.

Cho dù ta có muốn làm cách nào để nhớ, thì ta cũng chỉ nhớ những gì ta muốn nhớ, theo cách mà ta muốn nhớ. Mà ký ức thì mong manh và phản trắc. Cùng một sự việc, những người khác nhau nhớ những điều khác nhau và theo cách khác nhau. Không có sự thật tuyệt đối, chỉ có những phiên bản bất tận của nó. Herodotus đã biết điều ấy. Kapuściński đã biết điều ấy.

Khi ta đọc lại một điều gì đó đã viết, xem lại một tấm ảnh đã chụp, nó làm ta nhớ lại cái khoảnh khắc ấy, nhưng đồng thời nó cũng nói với ta rằng: tất cả đã khác rồi, đã vĩnh viễn ra đi.

Khi lòng muốn nhớ, có nghĩa là ta đã quên.

Mênh mông như biển



Bộ phim Hàn Quốc đầu tiên mà tôi xem là „Anh em nhà bác sỹ”, lâu lắm rồi, vào cái thời mà ở đây, mọi thứ bằng tiếng Việt đều là xa xỉ, người ta có thể xem và đọc bất cứ thứ gì có chút tiếng Việt rơi vào tay. Có lẽ vì là "đầu tiên" nên tôi nhớ nhất. Nhớ nhất, nhưng cũng chỉ nhớ duy nhất một cảnh.

Đó là cảnh anh bác sỹ nhân vật chính và cô người yêu đồng nghiệp đi đến một nhà nghỉ, cô gái ngồi trên ghế bành, còn anh bác sỹ (sau rất nhiều lần làm cô đau lòng) ngồi dưới sàn, ngả đầu lên đùi cô, nhắm mắt lại và nói như một đứa trẻ „Lòng em mênh mông như biển...”

Cả bộ phim dài lê thê cuối cùng chỉ đọng lại trong tôi duy nhất cảnh ấy, và nó cứ đọng lại mãi, trong khi tất cả các cảnh khác đã nhạt nhòa ngay, từ rất lâu, đã tan biến ngay, từ rất lâu rồi.

Lòng em mênh mông như biển... Dịu dàng, bao la và khoan dung. Đấy là hình ảnh một người phụ nữ tuyệt vời trong lòng tôi. Người phụ nữ lý tưởng trong lòng tôi. Qua bao đau khổ, bao đắng cay, vẫn mênh mông như thế. Để người đàn ông của nàng có thể trở về sau những mỏi mệt, ngả đầu vào lòng nàng và nói như một đứa trẻ „Lòng em mênh mông như biển...”

Tôi ao ước mình có thể làm được như thế. Tôi ao ước mình là biển.

Nhưng tôi chỉ là một dòng suối. Mạng của tôi là Đại Khê Thủy, nước suối lớn. Suối lớn thì vẫn là suối, mà tôi thậm chí còn không thích làm suối lớn bằng suối nhỏ. Tôi chỉ là một con suối nhỏ. Khê Thủy.

Tôi là suối nên lòng tôi hạn hẹp. Tôi nghĩ những chuyện cỏn con, lo những chuyện cỏn con. Tôi giận dữ tung bọt với những tảng đá chắn ngang đường tôi. Người ta chỉ lội một lát là qua hết tôi, sang bờ bên kia.

Tôi không mang trong mình nhiều nước mắt như biển, nên không mặn mòi giống biển. Tôi không sâu như biển nên chẳng có san hô đầy màu sắc. Lòng tôi chỉ có rong rêu. Tôi không bao la như biển nên chẳng có những bình minh hay hoàng hôn rực rỡ giống biển khi ôm lấy mặt trời. Tôi chỉ ôm được vài tia nắng thôi.

Nhưng tôi thật muốn được là biển. Và tôi vẫn luôn hướng ra biển, chẳng bao giờ ngừng.

Những giọt nước mắt ở sân bay

Tôi nhìn thấy hai người già đi tiễn bạn ở sân bay.

Những bàn tay vẫy nhau run rẩy. Những giọt nước mắt run rẩy.

Xung quanh, người người đi lại nườm nượp, hối hả. Những gương mặt đăm chiêu. Những guơng mặt tươi cười. Xe đẩy, hành lý, băng chuyền, những bảng điện tử nhấp nháy. Tiếng nói cười ồn ào lao xao, tiếng loa, tiếng chuông điện thoại...

Nhưng không ai rơi nước mắt.

Đã lâu lắm rồi, tôi cũng không rơi nước mắt khi tiễn ai đó ở sân bay.

Thursday, 23 April 2009

Ký ức Luxembourg

„Ký ức thật ngộ. Khi còn ở trong cảnh thực thì tôi chẳng đề ý gì đến nó. Không bao giờ tôi nghĩ đến nó như một cái gì đó sẽ để lại một ấn tượng lâu dài, và chắc chắn là không thể tưởng tượng rằng mười tám năm sau tôi sẽ nhớ lại nó đến từng chi tiết” (Haruki Murakami, Rừng Na Uy)

Luxembourg là một chữ rất dễ thương đối với tôi. Mỗi khi nhắc đến ba tiếng ấy, tôi luôn thấy lòng mình dịu lại.


Tôi lang thang qua Luxembourg mười năm về trước, khi vẫn còn là sinh viên. Hành trang là một chiếc ba lô nhẹ tênh, lòng cũng nhẹ tênh, mọi thứ đều thật đơn giản: ăn bánh mì, ở hostel, thích đi đâu thì đi đấy. Tôi không còn nhớ rõ mọi câu chuyện xảy ra trong chuyến đi ấy, thậm chí không còn nhớ gì nhiều về người bạn đồng hành. Tôi không có ấn tượng mấy với những thung lũng sâu thăm thẳm và những cây cầu đá chạy bắc ngang, những tấm thảm hoa tươi được trồng tỉa chăm chút ở khắp nơi, hay là vẻ văn minh sạch đẹp rất „quý tộc” của Luxembourg. Tôi nhớ đôi chút về toà nhà của Toà Án Châu Âu, trông giống như một cục sắt khổng lồ. Tôi đã phấn khích biết mấy khi đứng trước cái cục sắt ấy, khi đó tôi đã ước giá mà mình được làm việc ở đây thì thật là oách! Nhưng rồi tôi chẳng bao giờ quay lại nơi ấy. (Thật lòng mà nói, nếu như hàng ngày tôi phải chui ra chui vào trong một cục sắt thì chưa chắc đó đã là một điều thú vị.)


Nhưng tâm trí tôi đã khắc sâu những hình ảnh của một đêm Luxembourg thật trong lành. Hôm đó tôi rời hostel vào lúc gần nửa đêm và đi dạo loanh quanh một mình. Hostel nằm trong một thung lũng sâu. Tôi còn nhớ như in mùi cỏ cây ẩm ướt và những làn sương mong manh bay nhè nhẹ ... Những bụi nước li ti trong không khí làm làn da tôi mát lạnh. Tôi thả bộ theo con đường quanh co lên dốc, trong ánh đèn vàng mờ ảo của những ngọn đèn đường. Cũng con đường này ban chiều tôi đi qua mà không thấy có gì đặc biệt. Vậy mà khi đêm xuống, con đường bỗng trở nên đẹp huyền ảo và lung linh. Một cảm giác bình yên trong trẻo tràn ngập tâm hồn. Những nét cong cong mềm mại của con dốc, làn ánh sáng dìu dịu như ánh trăng, mùi ngai ngái nhè nhẹ trong không khí, cái mát lạnh của sương đêm, tiếng giày khẽ khàng gõ lên những viên đá... tất cả kết hợp lại với nhau thật hài hòa và tuyệt hảo, đáng yêu đến từng chi tiết. Từ lúc ấy tôi bắt đầu yêu những con dốc, bắt đầu thích thú ngắm nhìn những ngọn đèn đường ở mỗi nẻo tôi qua...


Ký ức thật kỳ lạ. Ký ức của tôi về đêm Luxembourg ấy luôn rõ ràng sắc nét và rất tinh khôi. Trước đó và sau này, tôi đã đi dạo bao nhiêu lần, trên bao nhiêu con đường của biết bao nhiêu miền đất, nhưng tất cả đều không thể làm xáo trộn một chi tiết nhỏ nào của đêm hôm ấy. Dường như nó đã ghim chặt vào tim óc tôi. Tôi có cảm giác rằng thỉnh thoảng trong tâm trí của mỗi con người lại có một cái khe rất nhỏ, nếu như một sự kiện, một hình ảnh nào đó vô tình lọt vào cái khe ấy, thì nó sẽ bị ghim lại đó vĩnh viễn. Những sự kiện và hình ảnh khác, có thể to lớn và chấn động hơn nhiều, với thời gian rồi cũng sẽ trượt đi, sẽ mòn dần. Còn lại và khắc sâu trong tâm trí ta nhiều khi chỉ là những điều nhỏ bé, giản dị và rất ngẫu nhiên, những điều mà khi nó xảy ra, ta hoàn toàn không nghĩ rằng mình sẽ nhớ về nó nguyên vẹn, trong suốt nhiều năm sau....

Wednesday, 25 March 2009

Hoa táo nở trên đồi Belgrad

Belgrad xinh đẹp. Belgrad dễ thương. Belgrad hiền lành và trong trẻo…

Belgrad trong tâm tưởng tôi là như thế.

Tôi đến Belgrad cùng với mẹ vào mùa xuân năm 1991. Chúng tôi ngụ tại thương vụ Việt Nam tại Nam Tư. Thương vụ chỉ có hai người: bác T. và chú D. Toà nhà của thương vụ là một căn nhà hai tầng xinh xinh, tổng cộng có khoảng 5-6 phòng gì đấy, bác T. và chú D. mỗi người ở một phòng, còn lại là phòng làm việc, phòng tiếp khách, và phòng cho khách các nước khác sang trú chân, như mẹ con tôi lần này chẳng hạn.

Khi đó là đầu mùa xuân. Trong mảnh vườn của thương vụ mọc đầy hoa bồ công anh và rau muối. Tôi nhớ bác T. bữa nào cũng hái rau muối về ăn để khỏi phải mua rau ngoài chợ. Thời đó ở đâu cũng kham khổ cả, ở Nam Tư mọi thứ lại đắt đỏ hơn so với các nước XHCN như Nga, Ba Lan, Bulgaria, Romania v.v… Thương vụ và sứ quán Việt Nam tại Nam Tư cứ 2-3 tháng lại cử một chuyến xe sang Bulgaria mua thịt, vì ở bên đó rẻ hơn nhiều. Khi bác T. mời chúng tôi sang nấu ăn cùng một bữa cơm tối, tôi vẫn nhớ cái cảm giác nổi gai ốc lúc mẹ mở tủ lạnh lấy thịt ra để chuẩn bị nấu ăn. Những tảng thịt đã đổi màu đen thui, cứng ngắc, khi xả đá ra thì lại bốc lên một thứ mùi rất khó chịu… vì chúng đã bị để trong tủ quá lâu. Nhưng bác T. vẫn rất hồn nhiên. Bữa tối đó, lần đầu tiên và có lẽ là duy nhất, mẹ con tôi không dám ăn một miếng thịt nào do chính tay mình xào nấu.

Nhưng ấn tượng về sự kham khổ của bác T. không thể làm lu mờ trong tôi vẻ đẹp non tơ đầy sức sống của Belgrad trong những ngày xuân ấy. Chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ thôi đã là một thế giới khác…

Thương vụ nằm trên một con dốc rất duyên dáng, với những căn nhà nhỏ thấp thoáng trong hoa táo. Phải rồi, hoa táo. Hoa táo nở trắng xoá hai bên đường, rộn ràng mà thanh khiết, làm sáng bừng cả không gian. Như những mảng tinh khôi được ai đó rắc lên không trung. Như là kết tinh của sương mai và ánh sáng. Để nắng như trong hơn. Để lòng người như dịu dàng và bình yên hơn…

Và tôi đã gặp thêm nhiều những con đường chìm trong hoa táo như thế ở Belgrad. Thành phố nằm trên những quả đồi với rất nhiều những con dốc nho nhỏ xinh xinh, hiền lành, yên tĩnh. Thanh bình. Thật thanh bình. Ngay cả trong khuôn viên của viện bảo tàng chiến tranh, tôi cũng có cái cảm giác ấy. Những khẩu đại bác nằm im lìm trên thảm cỏ xanh mướt, nắng rất vàng và vẫn lại là hoa táo nở trên đầu…

Tôi không ngờ rằng đó là những ngày bình yên cuối cùng của Belgrad. Và tại sao lại bình yên đến thế, trong lành đến thế, đẹp và nên thơ đến thế? Mỗi khi nghĩ đến điều này tôi lại thấy xót lòng…

Trong lớp tôi hồi đó có mấy người bạn người Nam Tư. Đối với tôi, họ mãi mãi là những người bạn Nam Tư, chứ không phải là người Serbia, Slovenia hay Croatia… Cô bạn Milena gầy gò tóc đen mắt đen. Elena cao to tóc vàng mắt xanh nhút nhát. Cậu bạn Nebojsa dài lêu khêu nhắng nhít vui tính, lúc nào cũng làm cả lớp phải cười bò, ví dụ như mỗi lần muốn chép bài của tôi là câu ta lại quỳ xuống xin như đang muốn cầu hôn. Một cậu bạn nữa tên là Savic thấp đậm, ít nói, lúc nào cũng như đang suy tư điều gì… Tôi không biết rồi đây ai trong số họ sẽ ở bên phía nào chiến tuyến. Khi đó, họ đã bắt đầu kể về những vụ đụng độ trên đường phố, nhưng chiến tranh vẫn chưa chính thức nổ ra.

Khi mẹ và tôi trở lại Ba Lan, chúng tôi bị kẹt lại Belgrad một tuần vì sân bay đình công. Lúc đó, cảm giác bất ổn đã bắt đầu lớn dần.

Chỉ ngay sau khi chúng tôi về Ba Lan thì nội chiến Nam Tư nổ ra. Nam Tư tan rã và hàng chục ngàn người chết…

Belgrad xinh đẹp và hiền lành, Belgrad tuổi mười sáu của tôi, bây giờ ra sao nhỉ? Tôi có bao giờ còn có thể quay lại đó nữa không? Hay đúng hơn, tôi có muốn quay lại đó nữa không? Những người quen của tôi gần đây cũng hay sang đó làm ăn, việc trở lại Belgrad thực ra là nằm trong tầm tay. Nhưng tôi có còn gặp lại được Belgrad của tôi ngày nào?

Thôi thì cứ để cho Belgrad mãi mãi lung linh, trong lành và êm dịu trong tâm tưởng, một Belgrad với những triền đồi trắng màu hoa táo bên dòng sông Đa Nuýp hiền hòa…

Saturday, 14 March 2009

Bận, căn bệnh của thời đại

Hôm nay tôi là một người bất hạnh nhất trên trần gian này, vì tôi đang nhàn rỗi, trong khi tất cả thế giới quanh tôi đều bận quay cuồng.

Hãy nhìn xung quanh mà xem. Những gương mặt đăm chiêu đang mải mê suy nghĩ. Những bước chân hối hả. Sinh viên khoa Luật lúc nào cũng vội vã đi đâu đó. Vội vã vào lớp, vội vã cắm cúi ghi chép, vội vã ăn qua loa quả táo hay kẹp bánh mì, vội vã vào thư viện mượn tài liệu đem đi photocopy để tối về nhà đọc, vội vã đem trả, rồi thế là vội vã chạy hộc tốc đến một văn phòng luật sư nào đó, một công ty nào đó, một tòa án nào đó, hay vội vã giải quyết những công việc riêng nào đó có trời mới biết được. Các giáo sư, trợ giảng thì trông còn khổ sở hơn. Họ tất bật với nghĩa vụ làm thầy của mình, lúc nào cũng bị một lũ sinh viên dai như đỉa đói với hàng mớ yêu sách bám riết. Trong khi miệng giải đáp vô số thắc mắc của học trò, đầu họ nghĩ tới một vụ kiện, một chuyến đi hội thảo ở nước ngoài, một bài báo họ vừa viết, một đạo luật mới ban hành với những điểm họ không vừa ý, hay một cuộc hẹn với bác sĩ mà họ không thể hủy bỏ...

Ông giáo sư đỡ đầu của tôi, prof.dr.hab. T. Dybowski, năm nay gần 70 tuổi. Một năm phải mổ xẻ tới hai lần, nằm viện hơn bốn tháng, vậy mà vẫn vừa làm thẩm phán Tòa án Hiến pháp, vừa đến trường giảng dạy, nhận vài luận án, hàng chục luận văn tốt nghiệp, và hỏi thi hàng trăm sinh viên để thỉnh thoảng phải tống cổ một vài đứa ra khỏi phòng thi trong cơn đau tim vì tức giận (ví dụ như khi một anh chàng sinh viên tội nghiệp, thay vì "hợp đồng bán" [umowa sprzedazy], lại cứ lặp đi lặp lại từ "hợp đồng mua bán"[umowa kupno-sprzedazy] y như một gã lái buôn chưa từng giở qua bộ luật dân sự). Có những lần tôi gửi hoa và thiệp tới bệnh viện thăm ông mà lòng nghẹn ngào\. Cùng với tuổi già, sức khỏe của ông mỗi ngày một kém, vậy mà ông vẫn làm việc không mệt mỏi, và đằng sau vẻ khó tính bề ngoài là cả trách nhiệm và tình thương yêu dành cho sinh viên.

Nhưng ta hãy trở lại với hiện tại, khi tôi đang nhởn nhơ ngồi gõ keyboard còn mọi người thì bận bịu.

Sự thể chẳng lấy gì làm lạc quan hơn khi người ta nhận được thư bạn bè. Trong mười lá thư thì có tới chín lá bắt đầu bằng câu "xin lỗi nhé, dạo này bận quá...", "hồi này công việc ngập đầu ngập cổ", "mình bận túi bụi" hay những câu đại loại như vậy. Ai ai cũng hối hả đến không có thời gian mà thở nữa, từ đứa em bé mới học cấp I, cấp II hay đứa bạn đã đi làm. Một bức thư Việt Nam tôi mới nhận: " Sáng em đi học Kinh tế, chiều học Tin, tối học Đại học Ngoại ngữ. Em vẫn đi học đàn guitar..." "Em tới lớp ngồi chép bài, giờ nghỉ chỉ là 5' or 10' không đủ để mà làm gì. Chỉ kịp ngoái sang người bên cạnh nói vài câu". Và rồi kết luận "Mọi thứ cứ diễn ra đều đều, rất chán".

Những bức e-mail cũng chẳng khá hơn. Mặc dù viết e-mail tốn ítthời gian hơn viết một lá thư nhiều, những e-mail mà tôi chờ đợi cũng chỉ vỏn vẹn vài dòng với những chữ "bận", "bận" và lại "bận" tiêu biểu của thời đại.

"Đối với mọi người, chỉ cần bạn có một cái tên là đủ
Thay cho bạn, người ta chỉ nhìn thấy một gương mặt"
(lời một ca khúc trong vở musical Metro của Ba Lan)

Gặp một người bạn ngoài đường. "Dạo này thế nào?". "Cũng bình thường, nhưng bận lắm". Và thế là vội vàng chia tay. Có bao giờ bạn gặp một người quen và cùng với câu chào "Dạo này thế nào?", bạn thực sự quan tâm đến những gì đang xảy đến với người đó? Có thể đằng sau gương mặt bình thản kia là biết bao nhiêu khó khăn chồng chất. Có thể người đó thực sự muốn nói với bạn một điều gì đó, muốn trút một chút nỗi lòng, hay đơn giản chỉ là muốn chuyện trò với bạn 15-20 phút..., thế nhưng khi nhìn thấy dáng dấp tất bật của bạn thì tất cả những gì đang chất chứa trong lòng họ bỗng nhiên tự động - không hiểu bằng phép thần thông nào - biến thành mấy chữ "mọi sự đều bình thường" muôn thuở.

Tôi mới gặp lại Lukasz Filipiak, một người bạn trước khá thân ra trường cách đây ba năm. Lâu lắm rồi, có lẽ gần một năm, chúng tôi không gặp và cũng không liên lạc qua điện thoại, mặc dù cả hai người cùng ở Warszawa. Đơn giản chỉ là do bận quá. Bạn tôi làm ở Văn phòng Pháp lý của Quốc hội, đồng thời thực tập tại Tòa án Thành phố. Hàng ngày đi làm tới 9-10 giờ tối mới về, nhiều hôm đến quá nửa đêm. Không được nghỉ ngơi kể cả thứ bảy. Ngày chủ nhật dành cho việc ngủ bù. Vốn là con chiên rất ngoan đạo, vậy mà bây giờ hiếm hoi lắm mới sắp xếp được một buổi đi nhà thờ. Đằng sau bộ quần aó được chuẩn bị chu đáo, gương mặt vui vẻ và tác phong nhanh nhẹn lịch thiệp kia là những đêm thiếu ngủ, những núi công việc và những mệt mỏi triền miên. Người Warszawa chính gốc, 27 tuổi, đẹp trai và giỏi giang, con nhà gia giáo, tính tình vui vẻ dễ chịu, vậy mà vẫn chưa có người yêu. "Lilia thấy đấy, chẳng cô nào chịu nổi cảnh này. Một anh bạn cùng làm với mình đang lục đục thường xuyên với vợ cũng chỉ vì luôn phải đi làm về muộn, nghĩ thấy sợ quá!"

Nhưng hình như chúng ta lại cảm thấy có chút gì đó tự hào khi mình bận rộn, và nếu như ai đó nói là bạn nhàn rỗi, bạn sẽ phản đối ngay. Một người bạn tới Ba Lan chơi, kể cho tôi nghe chuyến chu du "vòng quanh châu Âu" của anh. Tôi thán phục : "Cũng tung tẩy quá nhỉ!" Thế là anh bạn vội vàng đính chính: "Không, bình thường anh cũng bận lắm, đây là vì hứa hẹn với bạn bè từ lâu rồi..." Dường như thảnh thơi để có thời gian cho riêng mình là tội lỗi, là một cái gì đó đáng sợ, đáng tránh né!

Nhưng tôi có thể nói gì đây khi chính tôi bình thường cũng chẳng mấy rảnh rỗi, cũng hay kêu ca một cách vô ý thức rằng tôi rất bận, cũng viết những bức thư ngắn ngủi, cũng chào "dạo này thế nào?" với một ngữ điệu vô tâm, và nếu như đôi khi có được một chút thời gian nhàn hạ hằng mơ ước thì bỗng lại cảm thấy mình như có lỗi, như thừa thãi, như bất hạnh...

"Bạn muốn đập vỡ tấm kính
Nhưng nó cong lại
Và đằng kia là tất cả mọi người
Còn phía đối diện là bạn"

(30-10-1997)

Saturday, 7 March 2009

Buổi sáng bên hồ


Tôi đẩy xe nôi đưa con trai nhỏ đi dạo bên hồ, trong công viên cạnh nhà. Trên hồ, đám hải âu từ đâu lại bay đến, bơi rợp mặt nước. Thỉnh thoảng, một con hải âu nào đấy cắm thẳng đầu xuống hồ, rồi bay lên, mỏ ngậm một chú cá con. Những con khác thì đậu thành hàng trên thành cầu. Mặt nước lấp lánh bàng bạc, những cây cầu thép bàng bạc, đám hải âu trắng bàng bạc. Nếu như tôi chụp bức ảnh này, người ta sẽ thấy trên cái nền bàng bạc ấy nổi lên những đốm lấm chấm đỏ tươi là chân và mỏ của đàn hải âu. Những chấm đỏ nhảy nhót, chuyển động liên hồi như những đốm lửa nhỏ.

Bên hồ, một bé gái cùng cha cho đám vịt ăn vụn bánh mì. Mỗi khi bé gái ném vụn bánh xuống, lũ vịt lại nhao đến, chen chúc, tranh cướp nhau. Chúng mổ nhau chí chóe. Mấy con vịt ở xa xé gió lao đến như tên lửa. Những con hung hãn hơn kêu lên quàng quạc, đuổi các con khác tránh xa. Nhưng thật lạ lùng, ngay cả những con vịt hung hãn nhất cũng sợ đám vịt con. Chỉ cần một chú vịt con dẩu mỏ ngỏng đầu dọa dẫm hướng về phía chúng, chúng lập tức im bặt, sợ hãi né ra. Không phải là chúng nhường nhịn, mà chúng sợ thật sự. Cứ như đám vịt con có một năng lực đặc biệt nào đấy, chúng bé bỏng và yếu đuối đến thế cơ mà? Vì đám vịt con quá bé để biết sợ, cho nên những con vịt vốn quen với việc kẻ khác sợ mình phải chùn bước? Vì đó là một quy luật tự nhiên bí ẩn nào đó: người lớn phải nể sợ trẻ con? Nếu đúng là có một quy luật như thế, thì con người nhiều khi đã quên mất nó.

Một con quạ mon men gần cô bé. Cô bé ném cho nó một mẩu bánh mì, nó sung sướng cắp lấy, bay sang bờ bên kia. Bánh mì cứng, nó bèn nhúng nhúng xuống nước rồi mới tha lên bờ, từ từ đánh chén, bộ dạng vẫn hết sức cảnh giác với đám vịt giời có thể đến cướp mẩu bánh của nó bất cứ lúc nào.

Đằng kia, một cô gái ngồi trên ghế băng đọc sách, tay đu đưa nhè nhẹ chiếc xe nôi. Cô mặc váy màu sô cô la với các họa tiết hoa màu hồng, áo len mỏng hồng nhạt, áo choàng nhẹ và đôi giày màu cánh sen tươi. Chiếc xe nôi thân màu sô cô la, mui cũng màu cánh sen. Nắng xuyên qua mui xe làm nó trở nên trong suốt. Trong nắng sớm, mái tóc cô gái và những trang sách như phát sáng. Cô gái, quyển sách, chiếc xe nôi, băng ghế gỗ, thậm chí cả cái thùng rác cạnh đó, tất cả tạo nên một tổng thể vô cùng hài hòa. Cả động tác đu đưa xe nôi nhè nhẹ của cô cũng hài hòa với những bông hoa đang rung rinh trên váy và tiếng giở sách sột soạt. Cả ánh nắng và tiếng trẻ con lao xao từ xa vọng đến...

Bây giờ là mùa thu. Mấy bác thợ làm vườn đang chuẩn bị cho mùa đông sắp tới. Đám lau sậy trồng làm cảnh bị phạt ngang gốc, ngổn ngang đầy mặt đất. Các bụi găng bị lưỡi cưa máy len vào, tuốt hết lá, chỉ còn cành trơ trụi, rồi bị tỉa gọn lại thành những cụm tròn tròn. Những vườn tầm xuân còn đầy hoa cũng bị chặt xuống, hoa chất thành từng đống trên bãi cỏ. Thì ra, để có mùa xuân đẹp tươi, cây cối phải đau đớn đến thế. Nhưng có lẽ không nỗi đau nào là vô nghĩa.

Tôi và vài phụ nữ khác tìm nhặt những nhành tầm xuân còn tươi mang về nhà cắm. Những chiếc xe nôi bây giờ chất đầy hoa, ngập trong hoa, tỏa ra trên các con đường nhỏ trong công viên.

Trên đường về, tôi thấy một tấm bảng quảng cáo. Bức ảnh chụp cái máy tính xách tay với hàng chữ to: “Hãy mang cả thế giới theo bạn” Cả thế giới giá chưa đến một nghìn năm trăm Euro. Cả thế giới nằm trong một cục kim loại lạnh lẽo. Thời đại của chúng ta mới tội nghiệp làm sao! Người ta biết rõ sinh hoạt từng ngày hay mùi nước hoa ưa thích của một người ở tận đầu kia thế giới, nhưng lại chẳng hiểu nổi người sống ngay bên cạnh mình. Thay vì năm giác quan, người ta chỉ cần dùng đến hai. Và người ta cho rằng như thế là đủ, rằng đó là cả thế giới.

Nhưng trong thế giới ấy không có những buổi sáng bên hồ.

Tôi nhìn gương mặt con trai đang say ngủ và những bông tầm xuân mịn màng tinh khôi. Con thân yêu, thế giới của chúng mình sẽ không ảm đạm và nhạt nhẽo như vậy. Thế giới của chúng mình sẽ luôn có chỗ cho những buổi sáng trong trẻo bên hồ.

Du hành cùng Ryszard Kapuściński

Tôi sang Ba Lan năm mười bốn tuổi. Một mình. Bằng máy bay. Cũng giống như Kapuściński trong lần đầu tiên ra nước ngoài, hành động “đi qua biên giới” chỉ mang tính tượng trưng. Kapuscinśki đi từ châu Âu sang châu Á, còn cuộc hành trình của tôi thì theo chiều ngược lại: từ châu Á sang châu Âu. Nhưng có lẽ khi đó tôi còn quá nhỏ để nhận thức được bước ngoặt ấy của đời mình, nên không hề cảm thấy sợ hãi hay hoảng loạn. Hơn nữa, người đang chờ đón tôi ở Ba Lan là người thương yêu tôi nhất trên đời: mẹ tôi.

Những ngày đầu ở Ba Lan, rào cản lớn nhất của tôi cũng là ngôn ngữ. Tôi cũng chỉ có một cuốn từ điển Ba – Việt nhỏ, loại bỏ túi. Tôi cũng lăn lê bò toài ra mà học tiếng Ba Lan, bắt đầu từ các tạp chí màu mè dành cho thiếu niên như tạp chí “Bravo”. Tôi cố hiểu các truyện tranh ở trong đó, các mẩu báo ngắn vài ba câu, ví dụ như mục xem bói. Ước mơ duy nhất của tôi khi đó là đọc và hiểu được một câu trọn vẹn, không phải tra từ điển từ nào. Tôi không hề nghĩ rằng có ngày mình sẽ dịch cả một quyển sách.

Thời ấy, người ta còn viết thư tay, gửi bưu điện, và thứ duy nhất để kết nối với Việt Nam là sách báo - những quyển sách, tờ báo hiếm hoi gửi qua người quen từ Việt Nam sang.

Bây giờ thì tôi cũng như tất cả mọi người đều không thể tưởng tượng được một cuộc sống thiếu internet. Nhờ internet mà chuyến du hành của tôi với Kapuściński bắt đầu. Tôi viết blog và dịch một số bài viết ngắn của Kapuściński, nhà báo mà tôi ngưỡng mộ và yêu mến. Rất tình cờ, những bài dịch này may mắn được Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam để mắt đến. Chính Nhã Nam đã đề nghị tôi dịch một tác phẩm trọn vẹn của Kapuściński, chính Nhã Nam đã bắc những nhịp cầu đầu tiên để đưa nhà văn, nhà báo kiệt xuất hàng đầu Ba Lan đến với độc giả Việt Nam. Tôi luôn muốn cảm ơn Nhã Nam về điều này.

Trong quá trình dịch Kapuściński, trong tôi diễn ra đồng thời nhiều cuộc du hành. Đó là chuyến du hành cùng tác phẩm, “du hành trong không gian và thời gian”, như Nguyễn Vĩnh Nguyên đã viết. Nhưng đó cũng là chuyến du hành vào thế giới Kapuściński, một con người, một cuộc đời vĩ đại. Và hơn hết, quan trọng nhất, là chuyến du hành ngôn ngữ: du hành trở về với tiếng Việt, thông qua tiếng Ba Lan. Điều này, đối với một người xa xứ từ nhỏ như tôi, có ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Khi “Du hành cùng Herodotus” ra mắt độc giả Việt Nam, bà Bożena Dudko, nhà ngôn ngữ học, biên tập viên của nhà xuất bản Znak, người thường xuyên liên lạc với các dịch giả dịch Kapuściński trên khắp thế giới, lập tức biết ngay tin này qua internet. Bà tới gặp và tặng cho tôi quyển sách “Du hành cùng Ryszard Kapuściński, chuyện kể của mười ba dịch giả” mà bà biên tập và tổ chức xuất bản. Bà nói “Tôi hy vọng nó sẽ có ich cho cô trên con đường mới của cuộc đời mà cô vừa bắt đầu từ khi “Du hành cùng Herodotus” được xuất bản bằng tiếng Việt.”

Khi đọc cuốn sách, tôi mới biết các dịch giả dịch Kapuściński là những nhà nghiên cứu lịch sử văn học, ngôn ngữ học, các nhà báo nổi tiếng, giáo sư, tổng biên tập, soạn giả bách khoa toàn thư... Họ đều là các dịch giả chuyên nghiệp, dày dạn kinh nghiệm, nhiều người trong số họ có quan hệ thân thiết với Kapuściński. Tôi bàng hoàng nhận ra mình đã “liều lĩnh” đến mức nào khi dịch Kapuściński: đây là bản dịch đầu tay của tôi.

Hai mươi năm trước, tôi sang Ba Lan khi còn quá nhỏ để nhận thức được bước ngoặt ấy của đời mình. Hai mươi năm sau, tôi bước vào thế giới dịch thuật bằng những tình cờ. Có lẽ tôi cũng chưa thể ý thức được hết bước ngoặt mới này. Nhưng có một điều tôi chắc chắn: con đường mới sẽ dẫn tôi đến với Kapuściński, mỗi lúc một gần hơn.

Sunday, 22 February 2009

Tristesse

(Nhà Chopin, tranh sơn dầu của Nguyễn Thị Hòa)

*


Tôi xa Hà Nội vào một ngày đầu hè năm tôi mười bốn tuổi, và trở về sau đúng mười bốn năm. Thật kỳ lạ. Mười bốn năm thơ ấu đủ để tôi biết mình là người Việt Nam. Mười bốn năm xa Việt Nam đủ để tôi không biết mình là ai. Mười bốn năm trước để tôi nhớ Hà Nội, mười bốn năm sau để tôi nhớ Vác-sa-va.


Thế là trở về thật sao? Trở về hay là ra đi? Mùa này Vác-sa-va đang rực rỡ. Bồ công anh vàng rực ven đường và trên các triền đồi trong thành phố. Những con đường tím ngát tử đinh hương mà tôi vẫn say mê. Những đóa hoa trà sắc hồng sắc trắng nở bung thật hào phóng từ những cái nụ ngỡ là nhỏ bé. Hoa linh lan trắng như những chùm chuông bé xinh xinh, hoa lưu ly tím mong manh một lời nhắn nhủ “xin đừng quên tôi”, hoa chuông biêng biếc như “những giọt trời xanh trên mặt đất”. Hoa cúc áo, hoa păng xê, hoa mõm chó và vô vàn những loài hoa tôi chẳng biết tên nở tưng bừng trong các nhà vườn ven ô. Một chút nữa thôi, uất kim hương và huệ tây sẽ ào ạt phủ màu lên những vườn hoa và công viên. Hoa thuốc phiện sẽ đỏ thắm nồng nàn trên các cánh đồng. Rồi bao nhiêu loài hoa đồng nội khác.... Tôi yêu bản giao hưởng màu sắc xuân hè tưng bừng mà tinh khôi ấỵ Tôi yêu và tôi nhớ....


Tôi nhớ những buổi chiều muộn đi dạo trên Thành Cổ, lắng nghe tiếng giày mình lộp cộp gõ trên đá chân mèo, nhìn dòng người qua lại và nghe tiếng đàn quay của một ông lão vui tính. Tôi nhớ công viên Lazienki và các buổi trình tấu piano ngoài trời. Mùa hè, vào mỗi cuối tuần, mọi người đều có thể đến đây nghe các nghệ sỹ chơi nhạc Chopin, bên tượng đài của ông, giữa vườn hoa hồng mênh mông. Đám thanh niên thường nằm lăn ra cỏ, vừa nghe nhạc vừa ngó nghiêng trời mây, nhường chỗ cho các bậc lớn tuổi mũ áo chỉnh tề.

Nhớ căn nhà nhỏ ở Zelazowa Wola, nơi Chopin đã chào đời, cây cầu nho nhỏ, một dòng nước xinh, tiếng đàn piano réo rắt theo từng bước chân trong vườn. Và nhớ trường Tổng Hợp của tôi, nơi có căn nhà Chopin từng sống thời niên thiếu. Hóa ra những gì gắn với Chopin đã thân thiết với cuộc sống của tôi tự bao giờ. Tôi đã yêu bản Tristesse bằng mối tình đầu. Mà sao laị là Tristesse, tại sao lại là tiếc nuối nhỉ. Tôi chợt nghĩ đến một câu nói : “Bâ’t cứ sự thay đổi nào cũng mang trong nó chút tiếc nuối”. Đang có một thay đổi lớn trong cuộc sống của tôi. Và rồi cuộc đời sẽ còn đem đến cho ta bao nhiêu đổi thay dâu bể? Ôi, bản Tristesse định mệnh của tôi! Những thành phố tôi đã đi qua, những con người tôi đã gặp và yêu mến, những kỷ niệm trong trái tim tôi, bao âm hưởng, bao sắc màu và hình ảnh, tiếp nối theo nhau, cuốn theo nhau, quyện vào nhau, tan trong nhau, để vang lên tha thiết và nồng nàn như bản Tristesse tôi sẽ mang theo suốt cuộc hành trình dài trên mặt đất này. Trong cuộc hành trình ấy, giống như người phi công trên sa mạc trong truyện Hòang Tử Bé mà Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần đã nhắc, tôi sẽ không được phép nản chí và gục ngã, bởi vì những người thân yêu và bạn bè không tin là tôi sẽ gục ngã, và tôi không thể phụ lòng tin ấy, không thể phụ Tristesse của tôi. Tôi sẽ phải đứng dậy và bước tiếp như người phi công kia. Cuối cùng, tất cả những gì ta có được trong cuộc đời này đều bắt nguồn từ tình thương yêu và lòng tin của những người thân thiết quanh ta. Không có sự tin yêu của người thân, của bạn bè, có lẽ ta đã tan biến từ lâu trong cát bỏng sa mạc.

Cảm ơn Tristesse, cảm ơn Cuộc Đời, cảm ơn Tình Yêu và Tình Bạn....

Hà Nội, tháng 5/2003


Wednesday, 21 January 2009

Những nụ hoa đào trên xứ lạnh

(Trung thu 2008 ở Vác-sa-va, Ba Lan. Photo: Hải Yến)
*
"Tôi xin trang trọng thề sẽ cố gắng là người tốt và trung thực. Tôi sẽ gìn giữ danh dự và tiếng thơm của trường. Tôi sẽ kính trọng các thầy cô giáo, người trên và cha mẹ. Tôi sẽ học những gì là Đẹp. Tôi sẽ yêu tổ quốc của mình."
Đó là lời thề mà các học sinh lớp một của trường tiểu học số 205 ở Vác-sa-va, Ba Lan, trang trọng tuyên thệ trong ngày làm lễ nhập trường. Khi chuẩn bị học thuộc lời thề này ở nhà, con gái tôi đã hỏi: „Mẹ ơi, con có thể đọc câu cuối thành „Tôi sẽ yêu các tổ quốc của mình” được không?”

Con gái tôi, cũng như bao đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, sẽ luôn gặp phải những tình huống như thế, những câu hỏi như thế. Chúng là những đứa trẻ „xa xứ”, một khái niệm mà nhiều người thường nghĩ tới với đôi chút ngậm ngùi, đôi chút xót xa, như thể chúng có phần thiệt thòi, có phần đáng thương...

Nhưng tôi lại không nghĩ vậy. Trẻ em ngày nay sống trong một thế giới rộng mở mà nhiều khi các biên giới địa lý không còn nhiều ý nghĩa. Những đứa trẻ xa xứ ngày một nhiều hơn. Nhìn từ một góc độ khác thì chính các em là những đứa trẻ hạnh phúc. Con gái tôi vui sướng vì có hai tổ quốc để yêu thương, có hai dịp đón năm mới, vừa được ông già Noel tặng quà, vừa có ngày Tết để háo hức với những bao lì xì. Từ nhỏ, thế giới của các em đã không giới hạn trong một khung cảnh hạn hẹp. Thế giới của con gái tôi có lá vàng mùa thu, tuyết trắng mùa đông, nhưng cũng có cả hoa đào hồng rực mùa xuân, biển xanh và nắng chói chang mùa hạ ở một nơi xa xôi nhưng đầy âu yếm mà chúng tôi vẫn gọi là „quê nhà”. Đối với con bé, thế giới đã được nhân đôi, phong phú, khác biệt. Yêu thương cũng nhân đôi. Đứa trẻ, ngay từ những năm đầu đời, đã có thể nhìn cuộc sống với một tâm hồn cởi mở và đôi mắt bao dung. Đây thực sự là một thế mạnh, một ưu điểm của các em mà rất tiếc, không phải bậc cha mẹ nào cũng ý thức được đúng mức.

Những đứa trẻ sinh ra ở nước ngoài sẽ hòa nhập với cuộc sống ở đây chẳng mấy khó khăn. Các em nói tiếng nước sở tại còn thạo hơn tiếng mẹ đẻ, thậm chí tư duy luôn bằng thứ tiếng ấy. Nhưng để các em phát huy được thế mạnh “đa văn hóa” của mình, các bậc cha mẹ phải luôn nỗ lực không ngừng. Làm sao để tiếng Việt, phong tục và văn hóa Việt thấm vào các em một cách tự nhiên, nhẹ nhàng như bầu không khí mà các em đang hít thở? Với con gái, tôi và gia đình chỉ nói tiếng Việt và ra lệ: ai „lỡ miệng” nói tiếng Ba Lan thì sẽ bị phạt. Vậy là con bé lại trở thành „ viên cảnh sát” tích cực nhất để bắt lỗi ai không nói tiếng Việt trong nhà. Buổi tối, trước khi đi ngủ, tôi thường đọc cho cháu nghe một câu chuyện bằng tiếng Việt. Sách là người bạn tốt nhất của tôi trong công cuộc „giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” cho con gái. Một câu chuyện không cần quá dài, quan trọng là cháu hiểu được tường tận từng từ. Vốn từ ngữ ấy sẽ thấm dần vào đầu óc trẻ, nhiều khi đem lại những kết quả thật bất ngờ. Tôi vẫn nhớ cảm giác kinh ngạc vui thích của mình khi nghe con tả lại cuộc đi thăm viện bảo tàng tự nhiên của lớp mẫu giáo. Cháu giải thích tường tận cho tôi bằng tiếng Việt đời sống và sự diệt vong của loài khủng long, dùng từ hoàn toàn chính xác, kể cả những từ đầy tính „học thuật” như „động vật bò sát” hay „thiên thạch”! Những từ ấy chắc hẳn cháu đã được nghe tôi đọc từ một quyển sách nào đó.

Tham gia các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng trong những dịp lễ tết cổ truyền là một cách tốt để thổi „hồn Việt” vào đời sống của trẻ. Khi đó, khái niệm „Việt Nam” đối với các cháu không còn xa xôi và trừu tượng nữa, mà nó sẽ tươi tắn như cành đào, cây quất ngày Tết, ngộ nghĩnh thú vị như những thứ đồ chơi Trung Thu, và có lẽ quan trọng hơn, là ...ngon lành như mâm ngũ quả, bánh chưng, bánh dày, bánh trôi, bánh chay, bánh nướng bánh dẻo... Tôi còn nhớ, một lần chồng tôi đưa con đi dự Tết Trung Thu do cộng đồng tổ chức. Khi trở về, trong khi ba nó nức nở khen Trung Thu năm nay tổ chức hoành tráng, các màn văn nghệ rất đặc sắc, thì con gái cứ phụng phịu bảo „Chẳng hay lắm.”. Hỏi ra mới biết, hóa ra cỗ Trung Thu thiếu món bánh dẻo mà cháu đã háo hức mong chờ!

Thời nay, việc tổ chức một lễ hội thật Việt Nam hay nấu các món ăn Việt không còn quá khó như trước đây nữa. Tôi nhớ ngày mình mới sang Ba Lan cách đây hai mươi năm, một chai nước mắm hay một lọ mắm tôm cũng là cả một „kho báu”. Thời ấy người ta có thể chỉ vì được người nhà hay bạn bè từ Việt Nam sang cho mấy cọng rau mùi mà phải kỳ công nấu cả một nồi phở cho đỡ thèm, một cuốn sách hay băng video Việt Nam được chuyền tay nhau xem đến nát bươm. Bây giờ đã khác nhiều, thực phẩm Việt Nam và châu Á không thứ gì là không có. Những người cầu kỳ thì đến Tết cũng có thể mua lá dong, lạt, gạo nếp, đỗ xanh về gói bánh chưng rồi tự luộc như ở Việt Nam, thậm chí còn ... hơn Việt Nam, vì ở „nhà mình” bây giờ cũng còn mấy người tự gói bánh chưng! Rồi internet và VTV4 càng làm cho Việt Nam trở nên gần gụi hơn bao giờ hết. Có thể nói không ngoa là tuy ở nước ngoài, nhưng trong phạm vi gia đình, chúng ta có thể có một không gian thuần túy Việt Nam. Điều này khiến cho việc „giữ gìn bản sắc Việt” cho trẻ em xa xứ trở nên dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Nhưng có lẽ như vậy cũng chưa thật là đủ. Để nuôi dạy trẻ thật tốt, tôi nghĩ chính các bậc cha mẹ phải tích cực hơn nữa để hòa đồng với cuộc sống ở nước sở tại, chứ không phải chỉ co cụm trong cộng đồng của mình. Điều này tưởng khó nhưng nhiều khi lại rất đơn giản, chỉ cần chúng ta có một tư duy tích cực. Một người bạn của tôi có con học mẫu giáo. Thỉnh thoảng, bạn lại cùng các cô giáo tổ chức một „ngày Việt Nam” cho các cháu. Trong ngày ấy, các cháu được nghe kể truyện cổ Việt Nam, vẽ cờ và bản đồ Việt Nam, được học vài từ tiếng Việt đơn giản, học...cầm đũa, được ngắm nghía và sờ mó những thứ „kỳ lạ” như cái nón, cái chày, cái cối, được ăn các món Việt khoái khẩu như nem, bánh cuốn, bánh rán... Đối với các bạn trong lớp mẫu giáo, nước Việt Nam của con trai bạn tôi đã trở nên gần gũi và thân thiện hơn. Các cô giáo thì vui mừng vì có thêm đề tài thú vị để dạy cho các cháu, khơi dậy sự ham tìm hiểu và lòng bao dung với những giá trị khác biệt. Còn bạn tôi thì niềm vui luôn lấp lánh trong mắt mỗi khi đưa con đến trường, nghe các bạn cháu chào bằng câu chào tiếng Việt vừa mới học được... Thiết nghĩ, ví dụ của bạn tôi có thể áp dụng ở khắp nơi, các thầy cô giáo chắc hẳn sẽ rất hồ hởi và nhiệt tình khi chúng ta đưa ra đề nghị tổ chức những buổi vui như thế cho các cháu.

Một mùa xuân mới lại đang đến. Nhìn con hồn nhiên chơi đùa với các bạn, lòng tôi tràn ngập cảm giác vui sướng xen lẫn đôi chút tự hào. Các em như những tia nắng ấm, như những nụ hoa đào hồng tươi trên xứ lạnh. Chăm sóc và nuôi dưỡng để những búp nụ ấy rạng rỡ nở hoa chắc chắn là công việc không dễ dàng chút nào, nhưng phần thưởng sẽ rất xứng đáng cho những người „trồng cây” cần mẫn. Nếu chúng ta hết sức dốc lòng, thì đó sẽ là những bông hoa độc đáo và tươi đẹp nhất của mùa xuân.

(Bài đã đăng trên Lao Động Cuối Tuần, số Xuân 2009)


Thursday, 8 January 2009

Những nốt nhạc trong rừng Campinos

„Tôi sẽ ra đi và nằm xuống, ngả mình

Giữa những cây liễu

Có thể lúc bấy giờ

Tôi sẽ viết những vần thơ”

(W. Broniewski)

Nếu bạn đến Vacsava vào một ngày hè cuối tuần đẹp trời, tôi sẽ đưa bạn đến thăm công viên Łazienki. Chúng ta sẽ tới bên tượng đài Chopin, giữa vườn hoa hồng mênh mông. Lăn ra bãi cỏ, bạn hãy nhắm mắt lại để từng nốt nhạc Chopin thấm vào hồn cùng với mùi cỏ thơm ngai ngái và hương hoa hồng thoang thoảng, cùng với những cơn gió nhẹ và đôi chút lao xao, cùng với ánh nắng ấm áp đậu trên mi mắt và cả bầu trời xanh mây trắng lồng lộng trên đầu... Khi bản nhạc kết thúc, bạn sẽ tặng cho người nghệ sỹ vừa chơi đàn một tràng pháo tay nồng nhiệt. Người nghệ sỹ ấy sẽ cúi đầu cảm ơn bên cây đàn dương cầm đặt dưới chân tượng Chopin. Và Chopin thì đang ngồi đó trầm tư, mái tóc bồng bềnh bay trong gió, dưới một cây liễu. Bạn hãy ghi nhớ hình ảnh ấy nhé, bởi vì nó đã trở thành một trong những biểu tượng của xứ này. Chopin và cây liễu. Chopin và âm nhạc. Chopin và Ba Lan.

Nếu bạn hỏi tôi loài cây gì gắn bó ruột thịt với Ba Lan, như cây tre Việt Nam, cây bạch dương nước Nga, cây phong Canada hay anh đào Nhật Bản, thì tôi sẽ trả lời rằng đó là cây liễu. Không phải những cây liễu ủ rũ yếu ớt soi bóng điệu đà bên hồ nước như bạn tưởng tượng đâu. Cây liễu ở Ba Lan có thể là những cây cổ thụ rất to, được người ta chặt ngang ở một độ cao nhất định nào đấy để những cành non tua tủa đâm lên thành tán, khi thì giống những bàn tay xòe ra, khi thì trông tựa một mái đầu.

wierzby 4 by you.

Cây liễu đã hàng bao thế kỷ nay hiện hữu trong không gian phong cảnh Ba Lan, trong tâm thức người Ba Lan. Một cánh đồng, một trảng cỏ với những cây liễu nổi lên là hình ảnh mà mỗi người con Ba Lan xa xứ nghĩ đến ngay khi nhớ về Tổ quốc. Không gian ấy sẽ trống rỗng, cô đơn và nhạt nhẽo biết bao nhiêu nếu không có hình dáng của liễu. Chỉ thêm vào vài cây liễu, nó lập tức là một không gian đậm đặc Ba Lan, lập tức có hồn, có bản sắc, có hơi thở ấm áp riêng của mình. Những đứa trẻ đi xa khi trở về, nhìn thấy những cây liễu thân quen là biết mình sắp về đến nhà, một mái nhà nhỏ nào đấy trong ngôi làng nằm sau rặng liễu kia...

wierzby by you.

Những cây liễu trong rừng Campinos -vùng quê nơi Chopin đã sinh ra - xào xạc thì thầm gieo những nốt nhạc đầu tiên vào tâm hồn Người, để rồi giờ đây lại thấm đẫm nhạc Chopin. Khi trôi qua một đồng cỏ xanh với những cây liễu nổi lên đâu đó, tôi luôn có cảm giác mình đang nghe những nốt nhạc của một bản Polonez. Trên đường từ Vacsava đến Campinos, có một con đường nhỏ dẫn vào một lâu đài. Hai bên đường là hai rặng liễu tuyệt đẹp, đẹp như trong truyện cổ tích. Mỗi khi đi ngang, tôi lại tự nhủ lần sau mình sẽ mang máy ảnh đến đây, chụp con đường này, những rặng liễu này. Thế rồi „lần sau” là tôi lại quên...

wierzba snieg by you.

Liễu cũng luôn hiện hữu trong văn chương, thi ca, hội họa, phim ảnh... Này đây là những cây liễu trong các tác phẩm của Kasprowicz, Lenartowicz, Grudzienski, Konopnicka, Slowacki, Zeromski, Asnyk, Broniewski... Này đây, liễu trong tranh của Rapacki và rất nhiều các họa sỹ khác... Liễu trong các thước phim của Andrzej Wajda. Những cây liễu đen - trắng của nhiếp ảnh gia kiệt xuất E. Hartwig khi thì huyền ảo như trong mơ, khi thì lung linh như phát sáng, khi thì trầm mặc như một bức tranh cổ Trung Hoa...

hartwig wierzby 3 by you.

hartwig wierzby 2 by you.

hartwig_wierzby[1] by you.

hartwig wierzba by you.

(Những bức ảnh liễu của E. Hartwig)

Cây liễu tượng trưng cho sự trong sạch, tinh khiết và sức sống mãnh liệt. Bạn cắm một cành liễu xuống đất là sẽ có ngay một cây liễu mới. Người ta nói: bạn sẽ không bao giờ giết chết được một cây liễu. Cũng như dân tộc Ba Lan luôn có một sức sống mãnh liệt và bất khuất.

catkins by you.

(Những chùm bông đuôi sóc luôn là hình ảnh của mùa xuân và lễ Phục Sinh)

Cây liễu gắn liền với mùa xuân. Khi những chùm bông đuôi sóc nở ra trắng mịn là dịp Lễ Phục Sinh đến. Người ta đem những cành bông liễu đến nhà thờ làm lễ. Những chiếc giỏ, chiếc làn làm bằng nhành liễu theo chân các bà nội trợ ra chợ, theo chân người vào rừng hái nấm, sum vầy cùng cả gia đình trong các buổi picnic ngoài trời. Liễu gắn bó với cuộc sống đời thường của người Ba Lan như thế.

wierzby2 by you.

Bạn ơi, ngày trở về, bạn hãy mang trong lòng mình hình ảnh những cây liễu hiền hòa trên các bình nguyên Ba Lan. Liễu sẽ thì thầm kể cho bạn nghe rất nhiều điều bí mật của xứ sở này...

(9.2008)