Tuesday, 7 February 2012

Tấm bản đồ - bài thơ cuối cùng của Wisława Szymborska(*)


Thái Linh dịch

Phẳng như cái bàn
nơi nó được trải lên.
Bên dưới nó không có gì
chuyển động và đổi chỗ.
Hơi thở loài người của tôi - trên nó, 
không gây ra cơn lốc xoáy nào
và không gì xáo trộn các sắc màu
tinh khiết nó mang.

Thậm chí biển luôn hiền hòa xanh
bên những bờ biển tả tơi rách nát.

Mọi thứ ở đây đều nhỏ xinh, gần và đến được.
Tôi có thể gí vào núi lửa bằng đầu móng tay,
xoa lên các địa cực mà chẳng cần những chiếc găng dày,
tôi có thể bằng một cái nhìn
thâu tóm mọi sa mạc
cùng dòng sông ngay sát sát bên.

Rừng rậm được đánh dấu bằng vài cái cây,
giữa chúng người ta khó lòng đi lạc.

Phía Đông và phía Tây,
dưới và trên xích đạo -
yên lặng như anh túc đã gieo1,
và trong mỗi hạt đen
người người sinh sống.
Những nấm mộ tập thể và những đổ nát bất ngờ
trong bức tranh này không có.

Biên giới giữa các quốc gia chỉ thấy mờ mờ,
như thể chúng đang phân vân – tồn tại hay không tồn tại.

Tôi thích những tấm bản đồ, bởi vì chúng nói dối.
Bởi chúng không để cho sự thật hung hăng được bước lại gần.
Bởi hào hiệp, với tinh thần thiện hảo
chúng trải ra bàn cho tôi một thế giới
không thuộc thế giới này.

-----
1 Tục ngữ Ba Lan, có nghĩa là rất yên lặng.

Nguyên tác:
Mapa

Płaska jak stół,
na którym położona.
Nic się pod nią nie rusza
i miejsca nie zmienia.
Nad nią - mój ludzki oddech
nie tworzy wirów powietrza
i nic nie mąci jej czystych kolorów.

Nawet morza są zawsze przyjaźnie błękitne
przy rozdzieranych brzegach.

Wszystko tu małe, dostępne i bliskie.
Mogę końcem paznokcia przyciśckać wulkany,
bieguny głaskać bez grubych rękawic,
mogę jednym spojrzeniem
ogarnąć każdą pustynię
razem z obecną tuż tuż obok rzeką.

Puszcze są oznaczone kilkoma drzewkami,
między którymi trudno by zabłądzić.

Na wschodzie i zachodzie,
nad i pod równikiem -
cisza jak makiem zasiał,
a w każdym czarnym ziarnku
żyją sobie ludzie.
Groby masowe i nagłe ruiny
to nie na tym obrazku.

Granice krajów są ledwie widoczne,
jakby wahały się - czy być czy nie być.

Lubię mapy, bo kłamią.
Bo nie dają dostępu napastliwej prawdzie.
Bo wielkodusznie, z poczciwym humorem
rozpościerają mi na stole świat
nie z tego świata.

(*) Đây là bài thơ cuối cùng của Wisława Szymborska. Vài ngày trước khi qua đời, bà vẫn còn viết nó và quyết định sẽ đăng trên tuần báo "Tygodnik Powszechny". Thư ký của bà chuyển bài thơ này cho tòa soạn báo vào ngày 31.1.2012. Bài thơ được đăng trong chuyên san của tuần báo ra ngày 6.2.2012, số đặc biệt dành cho Szymborska.




Monday, 6 February 2012

Nói với bài thơ của mình - thi phẩm chưa xuất bản của Wisława Szymborska(*)


Thái Linh dịch


Trong trường hợp tốt nhất
bài thơ của ta ơi, em sẽ được đọc kỹ càng
được nhớ và được luận bàn.

Trường hợp tệ hơn
thì chỉ được đọc qua.

Khả năng thứ ba -
Em thực sự đã được viết ra
nhưng lát sau bị quẳng vào thùng rác.

Em còn có thể dùng một lối thoát khác -
vừa biến mất khi chưa được viết nên,
vừa gừ gừ vui sướng tự kêu lên.

Nguyên tác:
Do własnego wiersza

W najlepszym razie
będziesz, mój wierszu, uważnie czytany,
komentowany i zapamiętany

W gorszym przypadku
tylko przeczytany.

Trzecia możliwość -
wprawdzie napisany,
ale po chwili wrzucony do kosza.

Masz jeszcze czwarte wyjście do wykorzystywania -
znikniesz nienapisany,
z zadowoleniem mrucząc coś do siebie.

(*) trong di cảo để lại, Szymborska có một số bài thơ chưa công bố, dự kiến sẽ được xuất bản trong năm nay. Bài thơ này là một trong số đó, được đăng trên nhật báo Gazeta Wyborcza ngày 2.2.2012, một ngày sau khi bà ra đi.


Saturday, 4 February 2012

Lộ liễu (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Chúng mình đây, đôi tình nhân trần trụi,
đẹp trong nhau – và như thế đủ rồi -
chỉ có hàng mi rợp lá phủ che thôi,
mình nằm giữa đêm sâu thăm thẳm.

Nhưng chúng đã biết về đôi mình, biết lắm,
bốn góc tường kia, cái lò sưởi là thứ năm,
những bóng đen trên ghế, với cái bàn
đang đứng đó trầm tư yên lặng.

Những chiếc cốc biết vì sao chút cặn
trà thừa trong đáy cốc nguội ngơ.
Nhà văn Swift đã chẳng còn mơ,
đêm nay sẽ không ai đọc cụ.

Lũ chim ư? Anh đừng ảo tưởng:
Ngày hôm qua em nhìn thấy, trên trời
chúng viết lên táo tợn, rạch ròi
cái tên em gọi anh yêu dấu.

Còn những cái cây? Anh có thấu
chúng thì thào không ngớt những gì?
Anh bảo em: chắc gió biết điều chi.
Nhưng từ đâu về đôi mình gió biết?

Con bướm đêm với cánh nhung tơ biếc
từ cửa sổ bay vào
lượn dập dờn chấp chới thấp cao,
cứ xao xác trên chúng mình, ngoan cố.

Có thể hơn đôi ta, bướm nhìn thấy rõ
bằng sự tinh anh của mắt côn trùng?
Em không cảm thấy gì, anh cũng chẳng biết hơn,
rằng tim chúng mình trong bóng đêm rực sáng.

Nguyên tác:
Jawność

Oto my, nadzy kochankowie,
piękni dla siebie — a to dosyć —
odziani tylko w listki powiek
leżymy wśród głębokiej nocy.

Ale już wiedzą o nas, wiedzą
te cztery kąty, ten piec piąty,
domyślne cienie w krzesłach siedzą
i stół w milczeniu trwa znaczącym.

I wiedzą szklanki, czemu na dnie
herbata stygnie nie dopita.
Swift już nadziei nie ma żadnej,
nikt go tej nocy nie przeczyta.

A ptaki? Złudzeń nie miej wcale:
wczoraj widziałam, jak na niebie
pisały jawnie i zuchwale
to imię, którym wołam ciebie.

A drzewa? Powiedz mi, co znaczy
ich szeptanina niestrudzona?
Mówisz: Wiatr chyba wiedzieć raczy.
A skąd się wiatr dowiedział o nas?

Wleciał przez okno nocny motyl
i kosmatymi skrzydełkami
toczy przyloty i odloty,
szumi uparcie ponad nami.

Może on widzi więcej od nas
bystrością owadziego wzroku?
Ja nie przeczułam, tyś nie odgadł,
że nasze serca świecą w mroku.





Con mèo trong căn hộ vắng (Wisława Szymborska)


Thái Linh dịch tặng chú Chu Trung Can

Qua đời – không ai nỡ làm thế với một con mèo.
Bởi một con mèo biết xoay xở ra sao
trong căn hộ vắng.
Cào lên tường.
Cọ mình vào bàn tủ.
Dường như ở đây không có gì đổi thay,
nhưng chẳng còn như trước nữa.
Dường như không thứ gì bị chuyển đi, vẫn nguyên như cũ,
nhưng lại rộng thêm ra.
Và hàng đêm đèn không sáng trong nhà.

Có tiếng bước chân trên cầu thang,
nhưng không phải những bước chân ấy.
Bàn tay đặt con cá vào đĩa thức ăn
cũng không phải bàn tay từng đặt.

Có điều gì đó không bắt đầu
vào giờ như thường lệ.
Có điều gì đó không xảy ra
như phải thế.
Có người từng ở đây, từng ở đây,
rồi đột nhiên biến mất
và mãi chẳng thấy đâu.

Đã nhòm hết các ngăn tủ trước sau.
Đã chạy qua khắp các giá sách.
Để kiểm tra, đã chui xuống thảm.
Thậm chí đã vi phạm điều cấm
khi lục tung đám giấy tờ.
Có thể làm được gì nữa bây giờ.
Ngủ và chờ đợi.

Chỉ cần người ấy trở về thôi,
chỉ cần ông ấy xuất hiện.
Rồi ông ấy sẽ biết
rằng không thể làm thế với một con mèo.
Sẽ đi về phía ông,
như thể hoàn toàn miễn cưỡng,
chậm rãi từ tốn,
bằng những bàn chân rất mực dỗi hờn.
Và chẳng nhảy tót lên ngay, chẳng meo tiếng nào luôn.


Nguyên tác:
Kot w pustym miekaniu

Umrzeć - tego się nie robi kotu.
Bo co ma począć kot
w pustym mieszkaniu.
Wdrapywać się na ściany.
Ocierać między meblami.
Nic niby tu nie zmienione,
a jednak pozamieniane.
Niby nie przesunięte,
a jednak porozsuwane.
I wieczorami lampa już nie świeci.

Słychać kroki na schodach,
ale to nie te.
Ręka, co kładzie rybę na talerzyk,
także nie ta, co kładła.

Coś sie tu nie zaczyna
w swojej zwykłej porze.
Coś się tu nie odbywa
jak powinno.
Ktoś tutaj był i był,
a potem nagle zniknął
i uporczywie go nie ma.

Do wszystkich szaf sie zajrzało.
Przez półki przebiegło.
Wcisnęło się pod dywan i sprawdziło.
Nawet złamało zakaz
i rozrzuciło papiery.
Co więcej jest do zrobienia.
Spać i czekać.

Niech no on tylko wróci,
niech no się pokaże.
Już on się dowie,
że tak z kotem nie można.
Będzie się szło w jego stronę
jakby się wcale nie chciało,
pomalutku,
na bardzo obrażonych łapach.
I żadnych skoków pisków na początek.



Friday, 3 February 2012

Tầm nhìn cùng hạt cát (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch


Chúng ta gọi nó là hạt cát.
Nó tự gọi mình không là hạt, không là cát.
Nó không cần tên
chung hay riêng,
tạm bợ, lâu dài,
đúng hay sai.

Với nó chẳng nghĩa gì cái nhìn, cái chạm.
Nó không cảm thấy bị nhìn và bị chạm.
Chuyện nó rơi xuống bên cửa sổ
chỉ là đối với chúng ta, đâu phải cuộc phiêu lưu của nó.
Với nó cũng thế thôi, rơi xuống đâu cũng vậy,
chẳng cần chắc chắn đã rơi rồi
hay vẫn đang rơi.

Từ cửa sổ nhìn ra hồ thật đẹp,
nhưng tầm nhìn không nhìn thấy chính mình.
Không sắc màu và không dáng hình,
không âm thanh, không mùi vị,
nó không đớn đau trên hành tinh.

Không đáy đáy hồ
và không bờ bờ nước.
Nước không khô không ướt.
Sóng không lẻ, không trùng
vỗ không nghe mình vỗ
quanh những tảng đá không nhỏ, không to.

Và tất cả dưới bầu trời vốn dĩ không trời,
nơi lặn xuống mặt trời hoàn toàn không lặn
và giấu mình không giấu sau vô thức mây trôi.
Gió kéo mây không vì điều gì khác
chỉ bởi vì gió thổi, vậy thôi

Trôi qua một giây.
Hai giây.
Ba giây.
Nhưng đó chỉ là ba giây của ta.

Thời gian trôi như người đưa tin khẩn.
Nhưng đó chỉ là sự so sánh của ta.
Nhân vật được bịa ra, sự vội vàng ước lệ,
còn tin tức thì vô nhân.


Nguyên tác:
Widok z ziarnkiem piasku 


Zwiemy je ziarnkiem piasku.
A ono siebie ani ziarnkiem, ani piasku.
Obywa się bez nazwy
ogólnej, szczególnej,
przelotnej, trwałej,
mylnej czy właściwej. 

Na nic mu nasze spojrzenie, dotknięcie. 
Nie czuje się ujrzane i dotknięte. 
A to, że spadło na parapet okna, 
to tylko nasza, nie jego przygoda.
Dla niego to to samo, co spaść na cokolwiek,
bez pewności, czy spadło już,
czy spada jeszcze.

Z okna jest piękny widok na jezioro,
ale ten widok sam siebie nie widzi.
Bezbarwnie i bezkształtnie,
bezgłośnie, bezwonnie
i bezboleśnie jest mu na tym świecie.

Bezdennie dnu jeziora
i bezbrzeżnie brzegom.
Nie pojedynczo ani mnogo falom,
co szumią głuche na swój własny szum
wokół nie małych, nie dużych kamieni.

A wszystko to pod niebem z natury bezniebnym,
w którym zachodzi słońce nie zachodząc wcale
i kryje się nie kryjąc za bezwiedną chmurą.
Targa nią wiatr bez żadnych innych powodów,
jak tylko ten, że wieje.

Mija jedna sekunda. 
Druga sekunda.
Trzecia sekunda.
Ale to tylko nasze trzy sekundy.

Czas przebiegł jak posłaniec z pilną wiadomością.
Ale to tylko nasze porównanie.
Zmyślona postać, wmówiony jej pośpiech,
a wiadomość nieludzka.


Nước (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Một giọt mưa rơi xuống tay tôi
từ sông Nil và sông Hằng sa tới,

từ giọt sương trời
trên râu hải cẩu,
từ nước trong những chiếc bình đã vỡ thành muôn mẩu
ở thành Ys, thành Tyre.

Trên ngón tay trỏ của tôi
Biển Caspi là vùng biển mở,

và Thái Bình Dương hiền hòa nhẹ đổ
vào sông Ru-đa-va,
dòng sông từng lướt qua
thành Paris
bằng cánh mây mong manh bé nhỏ

vào năm bảy trăm sáu mươi tư thủa đó,
ngày mùng bảy tháng Năm, rạng sáng lúc ba giờ.

Không đủ những đôi môi để gọi thành lời
bao cái tên phù du của người, nước ạ.

Có lẽ tôi phải đặt tên người, một lần như đã
bằng mọi thứ tiếng trên đời
khi cùng lúc phát ra lời
tất cả các nguyên âm,

và đồng thời lặng câm -
vì một cái hồ tên chưa kịp có.

Không tồn tại trên thế gian hồ đó,
cũng như trên bầu trời thiếu vắng vì sao
trong lòng hồ phản chiếu mình vào.

Ai đó từng chìm đi trong con nước dâng trào,
ai đó phút lâm chung từng gọi người cầu cứu,
chuyện xa tự thuở nào
và mới chỉ hôm qua.

Người đã dập lửa cháy nhà, người đã cuốn trôi nhà
như cuốn trôi cây, rừng hay thành phố.

Người đã ở
trong bồn nước thiêng và trong bồn tắm gái làng chơi,
trong những nụ hôn, trong vải liệm thây người.

Trong sương và trong mồ hôi
của hoa tử đinh hương và kim tự tháp,
cầu vồng người dưỡng sắc
đá tảng người gặm mòn.

Giọt mưa rơi, còn gì nhẹ nhàng hơn.
Thế giới chạm vào tôi dịu dàng biết mấy.

Bất kỳ ở đâu bất kỳ khi nào bất kỳ điều gì đã xảy
Đều sẵn ghi rồi trong nước Babel.


Nguyên tác:
Woda



Kropla deszczu mi spadła na rękę,
utoczona z Gangesu i Nilu,

z wniebowziętego szronu na wąsikach foki,
z wody rozbitych dzbanów w miastach Ys i Tyr.

Na moim wskazującym palcu
Morze Kaspijskie jest morzem otwartym

a Pacyfik potulnie wpływa do Rudawy
tej samej, co fruwała chmurką nad Paryżem

w roku siedemset sześćdziesiątym czwartym
siódmego maja o trzeciej nad ranem.

Nie starczy ust do wymówienia
przelotnych imion twoich, wodo.

Musiałbym cię nazwać we wszystkich językach
wypowiadając naraz wszystkie samogłoski

i jednocześnie milczeć - dla jeziora,
które nie doczekało jakiejkolwiek nazwy

i nie ma go na ziemi - jako i na niebie
gwiazdy odbitej w nim.

Ktoś tonął, ktoś o ciebie wołał umierając.
Było to dawno i było to wczoraj.

Domy gasiłaś, domy porywałaś
jak drzewa, lasy jak miasta.

Byłaś w chrzcielnicach i wannach kurtyzan.
w pocałunkach, całunach.

Gryząc kamienie, karmiąc tęcze.
W pocie i rosie piramid, bzów.

Jakie to lekkie w kropli deszczu.
Jak delikatnie dotyka mnie świat.

Cokolwiek gdziekolwiek kiedykolwiek się działo
spisane jest na wodzie babel.



Cảm ơn (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Tôi mang ơn rất nhiều
những người tôi không yêu.

Vì lòng tôi nhẹ nhõm biết bao nhiêu
bởi họ thân thương với ai đó khác.

Vì niềm vui mình không là con sói ác
đối với bầy cừu mà họ dắt chăn.

Bên họ tôi bình an,
tôi tự do với họ,
mà tình yêu không thể trao ra điều đó,
cũng chẳng thể lấy đi.

Tôi không bồn chồn chờ họ làm chi
đi vào đi ra từ cửa nhà sang cửa sổ.
Tôi kiên nhẫn
như chiếc đồng hồ mặt trời đo thời gian bằng đường bóng đổ
tôi thấu hiểu những điều
tình yêu không hiểu ra
tôi tha thứ những điều
tình yêu không bao giờ thứ tha.

Từ khi gặp nhau đến lúc nhận thư
thời gian không kéo dài vô tận,
đơn giản chỉ là mấy tuần, vài bận.

Những chuyến du hành luôn mĩ mãn cùng nhau,
những buổi hòa nhạc được lắng nghe sâu,
những giáo đường được thăm thú hết,
những cảnh quan sắc nét, rõ ràng.

Và khi chín núi mười sông cách trở chia ngăn,
thì cũng là những ngọn núi con sông
trên bản đồ ghi rõ.

Là công lao của họ,
nếu tôi sống trong không gian ba chiều,
không cường điệu,
không trữ tình
với chân trời rất thật, chẳng dối điêu
bởi đó là chân trời di động.

Họ có những gì trên đôi tay không
chính họ cũng đâu hay biết.

Tôi chẳng nợ nần gì họ hết”.
Hẳn Tình Yêu sẽ nói câu này
về đề tài mở ngỏ này đây.

Nguyên tác:
Podziękowanie


Wiele zawdzięczam 
tym, których nie kocham. 

Ulgę, z jaką się godzę, 
że bliżsi są komu innemu. 

Radość, ze nie ja jestem 
wilkiem ich owieczek. 

Pokój mi z nimi 
i wolność mi z nimi, 
a tego miłość ani dać nie może, 
ani brać nie potrafi. 

Nie czekam na nich 
od okna do drzwi. 
Cierpliwa 
prawie jak słoneczny zegar, 
rozumiem 
czego miłość nie rozumie, 
wybaczam, 
czego miłość nie wybaczyłaby nigdy. 

Od spotkania do listu 
nie wieczność upływa, 
ale po prostu kilka dni albo tygodni. 

Podróże z nimi zawsze są udane, 
koncerty wysłuchane, 
katedry zwiedzone, 
krajobrazy wyraźne. 

A kiedy nas rozdziela 
siedem gór i rzek, 
są to góry i rzeki 
dobrze znane z mapy. 

Ich jest zasługą, 
jeżeli żyję w trzech wymiarach, 
w przestrzeni nielirycznej i nieretorycznej, 
z prawdziwym, bo ruchomym horyzontem. 

Sami nie wiedzą, 
ile niosą w rękach pustych. 

"Nic im nie jestem winna"- 
powiedziałaby miłość 
na ten otwarty temat. 



Một chút về tâm hồn (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Thỉnh thoảng người ta cũng có tâm hồn.
Không ai có nó luôn luôn
và vĩnh viễn.

Ngày qua ngày,
năm tiếp năm
có thể trôi qua thiếu nó.

Đôi khi tâm hồn ngụ lâu hơn ở đó -
trong niềm ngây ngất tuyệt vời
và những nỗi sợ thời ấu thơ
Đôi khi chỉ trong niềm kinh ngạc sững sờ
rằng ta đã già cỗi quá.

Hiếm khi tâm hồn giúp ta
trong những việc cần dùng sức lực
như kéo va ly,
dịch xê đồ gỗ,
hay mang giày chật trên đường lê bước mà đi.

Nó thường vắng mặt những khi
ta điền tờ khai,
hay lúc ta băm thịt.

Nó chỉ tham dự vào một
trong hàng nghìn cuộc trò chuyện của ta,
Mà cũng không nhất thiết phải là
một cuộc,
bởi nó ưa im lặng.

Khi thân thể ta đớn đau không dứt
Tâm hồn âm thầm rời vị trí trực ban.

Nó cầu kỳ, khó tính:
không thích nhìn thấy ta giữa đám đông,
những gắng sức của ta để trội hơn lên
và các phi vụ làm nó buồn nôn, chán ghét.

Niềm vui và nỗi buồn
với tâm hồn chẳng hề khác biệt.
Chỉ khi những cảm xúc này hòa quyện
mới là lúc nó ở bên ta.

Có thể tin vào nó, khi mà
ta không chắc chắn điều gì hết
nhưng lại tò mò với mọi thứ khôn nguôi.

Trong các thứ đồ vật chất trên đời
nó thích chiếc đồng hồ quả lắc
và những tấm gương vẫn nhiệt thành cần mẫn,
ngay cả khi chẳng có ai soi.
Nó chẳng hé môi
mình đến từ đâu, và khi nào lại biến đi lần nữa
Nhưng nó đang chờ, điều này thấy rõ,
những câu hỏi ấy từ ta.

Xem ra,
giống như ta cần có nó,
nó cũng cần có ta,
vì một điều gì đó.


Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Tình yêu bất ngờ gắn họ lại với nhau -
cả hai người cùng tin như vậy.
Đẹp làm sao cảm giác đinh ninh ấy,
nhưng nỗi băn khoăn còn đẹp hơn nhiều.

Họ nghĩ trước kia chưa hề quen nhau
nên chẳng có gì từng xảy ra giữa họ.
Nhưng những cầu thang, hành lang, đường phố,
nơi có thể, lâu rồi, họ đã lướt qua nhau
chúng sẽ nói sao?

Tôi muốn hỏi họ xem có nhớ hôm nào
biết đâu trong cánh cửa quay
họ đã từng đối mặt?
Lời “xin lỗi” nơi đám đông chen chúc?
Tiếng “nhầm rồi” trong điện thoại buông lơi?
Nhưng tôi biết rằng họ sẽ trả lời
Không, không nhớ.

Hẳn họ sẽ ngạc nhiên tột độ
rằng lâu nay một sự tình cờ
đã đem họ ra đùa chơi.

Sự Tình cờ mà thôi
vốn chưa sẵn sàng biến thành Số phận,
nó xích họ lại gần
rồi tách họ ra,
nó chặn lối họ qua
rồi nhảy tránh sang bên,
nén tiếng cười khúc khích.

Những dấu hiệu, mặc dù không rõ rệt
đã từng hiện hữu rồi.
Hồi năm kia, hay mới đây thôi
vào thứ ba tuần trước
chiếc lá nhỏ nào từng nhẹ rớt
từ vai sang vai?
Thứ gì đó đã mất rồi, lại được nhặt bởi tay ai.
Biết đâu chẳng là trái bóng
trong bụi rậm thưở thiếu thời?

Trên nắm cửa, nút chuông, những dấu chạm tay người
lồng lên nhau đã từng nhẹ đặt.
Va li trong phòng gửi đồ nằm bên nhau thật sát,
hay cơn mơ giống hệt giữa đêm sâu
khi họ vừa tỉnh giấc vội tan mau.

Bởi vì mỗi khởi đầu
chỉ là phần tiếp diễn,
và cuốn sách ghi sự kiện
luôn mở sẵn giữa chừng.


Nguyên tác:

Miłość od pierwszego wejrzenia 

Oboje są przekonani,
że połączyło ich uczucie nagłe.
Piękna jest taka pewność,
ale niepewność piękniejsza.

Sądzą, że skoro nie znali się wcześniej,
nic między nimi nigdy się nie działo.
A co na to ulice, schody, korytarze,
na których mogli sie od dawna mijać?

Chciałabym ich zapytać,
czy nie pamiętają-
może w dzwiach obrotowych
kiedyś twarzą w twarz?
jakieś "przepraszam" w ścisku?
głos "pomyłka" w słuchawce?
- ale znam ich odpowiedź.
Nie, nie pamiętają.

Bardzo by ich zdziwiło,
że od dłuższego już czasu
bawił sie nimi przypadek.

Jeszcze nie całkiem gotów
zamienić się dla nich w los,
zbiżał ich i oddalał,
zabiegał im drogę
i tłumiąc chichot
odskakiwał w bok.

Były znaki, sygnały,
cóż z tego, że nieczytelne.
Może trzy lata temu
albo w zeszły wtorek
pewien listek przefrunął
z ramienia na ramię?
Było coś zgubionego i podniesionego.
Kto wie, czy już nie piłka 
w zaroślach dzieciństwa?

Były klamki i dzwonki,
na których zawczasu
dotyk kładł się na dotyk.
Walizki obok siebie w przechowalni.
Był może pewnej nocy jednakowy sen,
natychmiast po zbudzeniu zamazany.

Każdy przecież początek
to tylko ciąg dalszy,
a księga zdarzeń
zawsze otwarta w połowie.

Tĩnh vật với quả bóng bay (Wisława Szymborska)



Thái Linh dịch

Trong giờ lâm chung
Thay cho hồi ức
Tôi muốn những thứ đồ đã mất
Quay về.

Những áo choàng, ô, găng tay, va li
Vào từ cửa nhà, cửa sổ,
Để tôi có thể nhủ:
Tôi chẳng cần những thứ ấy làm chi.

Những kim băng, trâm nọ lược kia,
Sợi dây, con dao, bông hoa hồng giấy
Để tôi được nói lời sau cuối:
Tôi chẳng tiếc thứ gì.

Chìa khóa ơi, dù ở phương nao
Hãy cố về cho kịp
Để tôi còn nhắn được:
Bạn mến thân, han gỉ hết rồi sao.

Một đám mây chứng chỉ, thẻ ra vào,
và những tờ khai sẽ cùng đổ xuống
Để tôi một lần nói được:
Mặt trời lặn rồi kìa.

Đồng hồ ơi, từ sông dạt về đi
Hãy cho tôi cầm lên tay nhé
Để tôi được nói lời trách khẽ:
Bạn đang bắt chước khắc giờ.

Có cả trái bóng bay bơ vơ
Bị cuốn theo cơn gió
Để tôi được nói với nó:
Ở đây không có trẻ thơ.

Bay đi, bóng ơi, bay ra ô cửa sổ mở to
Bay ra thế giới kia rộng lớn,
Ai đó hãy kêu lên: Ô kìa, quả bóng!
Để tôi được khóc ngon lành.


Nguyên tác:
Martwa natura z balonikiem

Zamiast powrotu wspomnień 
w czasie umierania 
zamawiam sobie powrót 
pogubionych rzeczy. 

Oknami, drzwiami parasole, 
walizka, rękawiczki, płaszcz 
zebym mogła powiedzieć: 
Na co mi to wszystko. 

Agrafki, grzebień ten i tamten 
róża z bibuły sznurek, nóż, 
żebym mogła powiedzieć: 
Niczego mi nie zal. 

Gdziekowiek jesteś, kluczu, 
staraj się przybyć w porę, 
zebym mogła poiwiedzieć: 
Rdza, mój drogi, rdza. 

Spadnie chmura zaświadczeń 
Przepustek i ankiet, 
żebym mogła powiedzieć: 
Słoneczko zachodzi. 

Zegarku, wypłyń z rzeki, 
pozwól się wziąć do ręki, 
żebym mogła powiedzieć: 
Udajesz godzinę. 

Znajdzie się też balonik 
porwany przez wiatr, 
żebym mogła powiedzieć: 
Tutaj nie ma dzieci. 

Odfruń w otrarte kno, 
odfruń w szeroki świat, 
niech ktoś zawoła: O! 
żebym zapłakać mogła.

Hội chợ phép màu (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch tặng


Phép màu phổ biến:
là có nhiều phép màu phổ biến xảy ra.

Phép màu thường tình:
là tiếng sủa của những con chó vô hình
trong đêm khuya yên tĩnh.

Một phép màu giữa bao phép màu lấp lánh:
là đám mây bé nhỏ mong manh
mà che được trăng kia nặng nề, to lớn.

Vài phép màu lồng vào nhau cùng lúc:
là cây trăn trong nước soi mình
từ trái sang phải lộn hình
ngọn mọc ngược xuống dưới
cho dù nước chẳng sâu mấy nỗi
nó vẫn không chạm đáy, không hề.

Phép màu hàng ngày xảy ra ngoài kia:
làn gió nhẹ, hiền hòa dịu mát
trong cơn giông nổi lên cuồng giật.

Phép màu đầu tiên, tuyệt nhất:
những con bò là những con bò.

Phép màu thứ hai không kém hay ho:
vườn quả này chứ không phải vườn quả khác
chính từ hạt cây này mà không từ hạt kia.

Phép màu chẳng cần đến áo choàng đen và mũ phớt làm chi:
bay lên đàn bồ câu trắng.

Phép màu, bởi không thể gọi bằng tên khác:
hôm nay lúc ba giờ mười bốn phút, mặt trời lên
và lặn lúc hai mươi giờ không một.

Phép màu lẽ ra phải khiến ta sửng sốt:
mặc dù bàn tay ít hơn sáu ngón tay
nhưng lại nhiều hơn bốn ngón, may thay.
Phép màu, chỉ cần đưa mắt quanh đây:
vạn vật muôn nơi hiện hữu.

Phép màu thứ yếu, như tất thảy đều chỉ là điều thứ yếu:
những gì không thể nghĩ ra được
đều có thể nghĩ ra.

Nói với trái tim trong ngày chủ nhật (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Trái tim của ta ơi, xin cảm ơn người
đang đập nhanh, chẳng hề chậm chạp
không cần ngợi ca, không cần báo đáp
Từ bẩm sinh đã chăm chỉ chuyên cần.

Người ghi công mỗi phút bảy mươi lần.
Mỗi lần tim co bóp
Như một lần con thuyền tiến lên phía trước
Ra biển cả trùng khơi
Trong chuyến vòng quanh trái đất xa xôi.

Trái tim của ta ơi, xin cảm ơn người
Hết lần này sang lần khác,
ngay cả khi ta đang say giấc,
Người tách ta ra khỏi tổng thể, riêng ta.

Người giữ gìn để ta không say mơ về chuyến bay xa,
Một chuyến bay
không cần đôi cánh.

Cảm ơn người, trái tim thương mến,
Lại một lần ta tỉnh giấc hôm nay
Dẫu là ngày chủ nhật, một ngày
để nghỉ ngơi thư giãn,
Dưới những chiếc xương sườn vẫn đang tiếp diễn
sự hối hả thông thường
Như trong ngày giáp tết khẩn trương.

Những đám mây (Wisława Szymborska)



Thái Linh dịch tặng

Để tả những đám mây
Tôi phải vô cùng gấp gáp
Bởi chỉ sau khoảnh khắc
Sẽ chẳng còn là chúng, sẽ khác ngay
Chúng sẽ bắt đầu đổi thay.

Đặc điểm của những đám mây
Là không bao giờ lặp lại
Về hình dáng, tông màu đậm nhạt
Về tư thế và cách sắp đặt.

Những đám mây
không mang gánh nặng nào trong ký ức,
Trên các sự kiện cuộc đời, chúng nhẹ nhõm bay lên.

Mây làm nhân chứng cho điều gì cũng khó mà nên -
ngay lập tức, chúng tản ra tứ phía.

So với mây kia
Cuộc sống này có vẻ là chắc chắn,
dường như lâu bền, hầu vĩnh cửu thiên thu.

Bên cạnh những đám mây
Ngay cả đá nom cũng như chiến hữu
mà ta có thể cậy nhờ,
còn những đám mây ư,
chúng là đám chị em họ xa ham chơi phiêu lãng.

Hãy cứ để loài người sống ở trên đời, nếu như họ muốn
Rồi từng người lần lượt chết đi
Những đám mây chẳng thấy lạ lùng gì
về chuyện ấy.

Chúng vẫn đang diễu hành như đã từng, huy hoàng lộng lẫy
Trên suốt cả cuộc đời anh
Và trên đời tôi, còn chưa hoàn thành.

Những đám mây không có nghĩa vụ phải chết cùng chúng ta
Chúng không cần ai nhìn thấy để có thể bay xa. 




Diễm phúc lớn lao (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Không biết rõ
mình đang sống trong thế giới nào -
đó thật là diễm phúc lớn lao.

Nếu không, chắc ta phải tồn tại rất lâu,
lâu hơn đứt
thế giới đang tồn tại.

Chắc sẽ phải
biết các thế giới khác,
dẫu chỉ để so bì.

Phải bứt khỏi tấm thân vốn chẳng thạo điều gì
ngoài việc hạn chế, cản ngăn
và gây khó dễ.

Hẳn ta sẽ -
vì lợi ích của các nghiên cứu thăm dò,
để bức tranh thêm phần sáng tỏ,
để những kết luận cuối cùng được rõ -
phải vượt lên thời gian,
nơi tất cả đều quay cuồng, hối hả.

Từ viễn cảnh này,
xin hãy mãi giã từ vĩnh biệt
những nhỏ nhoi chi tiết,
những tỉ mỉ tóc tơ.

Việc tính ngày trong tuần sẽ có vẻ như
một việc làm vô nghĩa,
chuyện bỏ thư vào thùng
là trò hề thời trẻ dại ngẩn ngơ.

Và dòng chữ „Không dẫm chân lên cỏ“
có vẻ là dòng chữ điên rồ.