Friday, 4 July 2014
Wednesday, 4 June 2014
Bàn về tự do (Leszek Kołakowski)
(Thái Linh dịch)
Có hai
phạm vi tư duy nơi vấn đề tự do được suy xét, cả
hai đều rất rộng; chúng độc lập với nhau về lô-gíc
tới mức việc bản thân từ „tự do” thích hợp với
cả hai không còn là điều hiển nhiên. Phạm vi tư duy thứ
nhất là cuộc vật lộn vĩnh cửu với câu hỏi: ”con
người có tự do không?”, tự do từ chính bản chất
loài người của mình, từ bẩm sinh đã được hưởng tự
do bất khả tước đoạt? Tự do theo nghĩa này - tức là,
thí dụ, khả năng chọn lựa, sự chọn lựa hoàn toàn
không bị cưỡng bách bởi bất cứ thế lực nào ngoài
nhận thức con người – đã vừa bị nghi vấn vừa được
công nhận nhiều như nhau trong lịch sử văn hóa. Tranh cãi
này có liên quan nhưng không đồng nhất với tranh cãi về
tất định luận phổ thông. Nếu mỗi sự kiện đều đã
được định sẵn tuyệt đối bởi toàn bộ các điều
kiện nơi nó xảy ra, thì việc bàn về tự do lựa chọn
chẳng còn nghĩa lý gì. Nếu từ bản chất, luật nhân
quả chung là tuyệt đối đến thế thì chúng ta hẳn đã
bị buộc phải đưa ra những kết luận đầy nghịch lý.
Điều được định sẵn hoàn toàn bởi các điều kiện
thì cũng khả lường - „trên nguyên tắc”, mặc dù
không nhất thiết „thực hiện được”. Bởi vậy ta có
thể tưởng tượng rằng, khi kỹ năng tiên đoán của
chúng ta được hoàn thiện đúng mức, một ngày nào đó,
trên cơ sở tất định luận, ta có thể đọc, thí dụ,
một tin như sau trên báo: „hôm qua Janek Kowalski đã sinh
ra ở Piotrkow, người sau này sẽ trở thành nhà soạn nhạc
kiệt xuất. Để chào mừng sự kiện này ngày mai Dàn
nhạc Giao hưởng Warszawa sẽ chơi bản giao hưởng số 3
mà anh sẽ sáng tác vào năm 37 tuổi.”
Song tự
do không chỉ là sự lựa chọn giữa những khả thể sẵn
có, mà còn là sự sáng tạo, làm ra những điều hoàn
toàn mới mẻ, hoàn toàn bất ngờ.
Trước
kia cả các nhà vật lý lẫn các triết gia đều tin vào
tất định luận cứng nhắc; họ không có chứng cớ cho
nó, nhưng họ cho rằng niềm tin này là sáng suốt hiển
nhiên, chỉ có những kẻ lầm lẫn mới nghi ngờ và nó
là cơ sở tất yếu của tư duy khoa học và duy lý. Trong
thế kỷ của chúng ta, niềm tin này bị bẻ gãy, chủ yếu
nhờ ngành cơ học lượng tử, và gần đây nhất nhờ cả
thuyết hỗn độn. Các nhà vật lý đã vứt bỏ giáo điều
tất định luận. Tất nhiên từ đây không thể kết luận
rằng con người được ban tặng ý chí tự do – các điện
tử không có ý chí tự do – mà chỉ có thể khẳng định
rằng niềm tin vào ý chí tự do không bị vật lý học
xóa sổ hay làm cho vỡ mộng. Không. Có thể, thậm chí
theo tôi là cần phải, tin vào sự tự do lựa chọn –
theo nghĩa trên – và vào sự sáng tạo lựa chọn mới;
tự do là một trải nghiệm sơ đẳng của chúng ta, trải
nghiệm của mỗi người; nó sơ đẳng tới mức không thể
tách ra thành các phần để có thể phân tích riêng rẽ,
do đó có thể cảm tưởng rằng tự do là một thực tại
phi chứng minh. Không có lý do nào để không tin vào trải
nghiệm này, dẫu chính vì nó sơ đẳng. Chúng ta thật sự
là thủ phạm của các hành động mà ta thực hiện, chứ
không chỉ là công cụ của các thế lực khác nhau quét
qua thế giới, dẫu rằng, tất nhiên, chúng ta bị chi phối
bởi các quy luật tự nhiên. Chúng ta cũng thật sự đặt
ra cho mình các mục tiêu, tốt hay xấu, mà chúng ta hướng
tới. Các điều kiện ngoại giới hay những người khác
có thể khiến mong ước của chúng ta tan vỡ, chúng ta có
thể, thí dụ, bị hạn chế về thể lực tới mức không
có khả năng thực hiện hiệu quả bất cứ lựa chọn
nào, nhưng chúng ta vẫn không bị lấy mất năng lực lựa
chọn, mặc dù bị mất đi khả thể sử dụng thứ tự
do này.
Như vậy
là thứ tự do này được ban cho con người đồng thời
với nhân tính của họ, là nền tảng của nhân tính ấy,
tạo ra con người như một điều gì đó đặc biệt từ
bản chất.
Ở đây
không có lý do gì để chúng ta khẳng định theo thánh
Augustin và Kant, rằng chúng ta chỉ tự do khi lựa chọn
cái tốt chứ không chọn cái xấu, do đó tự do của
chúng ta được xác định qua nội dung sự chọn lựa chứ
không phải bản thân khả năng chọn lựa. Khẳng định
như vậy nghĩa là gói gọn các học thuyết luân lý vào
chính khái niệm tự do.
Song ta
cũng nói về thứ tự do không hiện hữu trong bản chất
tồn tại của chúng ta, mà lại là tác phẩm của văn
hóa, của đời sống tập thể và pháp luật. Tự do theo
nghĩa này là phạm vi các hành động của con người mà
tổ chức xã hội không cấm cũng không bắt buộc, do đó
con người có thể chọn những gì họ thích, làm hay không
làm điều gì đó mà không gây ra nguy cơ bị trả đũa.
Tự do theo nghĩa này tất nhiên là có mức độ, nó có
thể nhiều hay ít hơn và ta thường so sánh các thể chế
chính trị khác nhau bằng thước đo tự do – từ những
thể chế nơi tự do gần bằng không, tức các thể chế
toàn trị với hình thức cực đoan (ví dụ nước Nga thời
Stalin, Trung Quốc thời Mao Trạch Đông và các chế độ
cộng sản châu Á khác, Đức Quốc xã), đến các thể
chế nơi các lệnh cấm và mệnh lệnh được giới hạn
đến tối thiểu. Các chế độ toàn trị luôn có tham
vọng điều chỉnh mọi hành vi của con người và không
để cho các cá nhân có quyền chọn lựa. Các chế độ
độc tài nhưng không toàn trị thì muốn lấy đi tự do
của con người trong mọi lĩnh vực nơi tự do có thể là
mối đe dọa cho chính quyền, nhưng trong các vấn đề
không ảnh hưởng đến việc giữ chính quyền thì chúng
không hướng tới việc kiểm soát tuyệt đối và không
cần phải có một hệ tư tưởng toàn diện, bao quát.
Dễ thấy
là mặc dù tự do theo nghĩa này có thể bị giảm thiểu
đến bằng không, song nó lại không thể trở thành vô
hạn. „Tình trạng tự nhiên” giả định mà trước đây
các lý thuyết gia về đời sống xã hội xét đến, nơi
không có bất cứ quyền lợi, luật lệ, bất cứ tổ
chức đời sống tập thể nào, mà chỉ là cuộc đấu
tranh không dứt của tất cả chống lại tất cả, chưa
từng tồn tại, nhưng nếu tình trạng này có tồn tại
đi chăng nữa, thì nó cũng sẽ không bao giờ là tình
trạng tự do vô hạn. Không thể nói rằng trong một thế
giới như thế „mọi thứ đều được phép” (hay „được
làm mọi thứ”), vì một điều có thể được phép hay
không là bởi một luật lệ nào đó. Nơi không có luật
thì cũng không có tự do, từ này sẽ mất ý nghĩa; nói
cách khác tự do trong thế giới của chúng ta luôn bị
giới hạn. Robinson Crusoe không hưởng thụ sự tự do vô
hạn, nói cho cùng thì anh ta không hưởng thụ chút tự do
nào hết. Tự do – lớn hơn hay nhỏ hơn – chỉ có thể
có được ở nơi có gì đó được phép và có gì đó bị
cấm (xin nhắc lại, để vấn đề được sáng tỏ hơn,
một câu tiếu lâm mà tôi không biết của ai, có từ thời
chiến tranh thế giới thứ nhất: ở Áo những gì không
bị cấm là được phép, ở Đức những gì không được
phép là bị cấm, ở Pháp mọi thứ đều được phép kể
cả những gì bị cấm, ở Nga tất cả mọi thứ đều bị
cấm kể cả những gì được phép).
Qua đây
chúng ta thấy rằng, mặc dù hai nghĩa trên của từ „tự
do” rất khác nhau, tới mức có thể có tự do theo nghĩa
thứ nhất mà không có tự do theo nghĩa thứ hai, song chúng
có liên hệ với nhau ở mức độ ta có thể sử dụng
cùng một từ mà không ảnh hưởng gì đến hòa bình thế
giới, miễn là chúng ta không trộn lẫn các nghĩa đó
với nhau. Trong cả hai trường hợp đều nói đến khả
năng lựa chọn: trong nghĩa thứ hai là về các điều kiện
tình thế của sự lựa chọn, về những gì nói chung tổ
chức xã hội và luật pháp chừa lại cho chúng ta lựa
chọn; trong nghĩa thứ nhất là về các điều kiện tinh
thần của chính chúng ta cho sự lựa chọn và sáng tạo,
về bản thân thực kiện rằng chúng ta có quyền năng lựa
chọn và sáng tạo, mặc dù khả năng này của chúng ta
không giả định bất cứ điều gì về phạm vi các lợi
ích mà ta có thể thực sự lựa chọn.
Có hai sai
lầm phổ biến cần chú ý khi nói về tự do. Sai lầm thứ
nhất chúng ta mắc phải khi đổ vấy khái niệm tự do
cho mọi đòi hỏi của con người và mọi lợi ích mà
người ta khao khát. Thật ra cũng chẳng có gì không ổn
trong câu: „tôi đã tự giải phóng khỏi cơn đau” hay
„cơn đói”; nhưng mặc dù không bị đau hay bị đói là
đòi hỏi cơ bản nhất của con người, thì cũng không
đúng nếu nói rằng khi đòi hỏi này được thỏa mãn,
chúng ta sẽ được hân hưởng một thứ tự do cụ thể
nào đó. Khi đó nói về „tự do” là nhẫm lẫn bởi
vấn đề ở đây không phải là phạm vi cũng như khả
thể chọn lựa hay sáng tạo bất cứ thứ gì. Cơn đau
qua đi và như vậy là tốt, loại bỏ cơn đau là lợi ích
vô cùng đáng khao khát; lợi ích đáng khao khát cũng có
thể là quả táo cho người đang đói hay giấc ngủ cho
người mệt mỏi hay bất cứ thứ gì mà con người thèm
muốn. Nhưng loại bỏ cơn đau hoặc ăn táo không phải là
một thể loại tự do, mà là lợi ích đáng khao khát.
Biết bao người trong thế kỷ chúng ta, và trước kia nữa,
đã hy sinh đời mình trong cuộc đấu tranh cho tự do đúng
nghĩa, nên việc kéo giãn ý nghĩa của từ này ra cho bất
kỳ thứ gì bất kỳ khi nào con người khao khát sẽ làm
mờ tối mạng lưới khái niệm của chúng ta và tước đi
năng lực của từ chuẩn; cốt lõi của khái niệm bị
đánh mất. Sự phân biệt phổ biến giữa „tự do đối
với cái gì đó” và „tự do để làm điều gì đó”
là không cần thiết.
Sai lầm
thứ hai là khi cho rằng tự do theo nghĩa pháp lý thứ hai
sẽ không có ý nghĩa nếu các đòi hỏi khác không được
đáp ứng. Đây là một lý lẽ trước kia được những
người theo chủ nghĩa cộng sản sử dụng phổ biến:
„việc nhà nước có tự do chính trị thì giúp được
gì cho một người thất nghiệp đói khát?” Nhưng nó
giúp được đấy. Cái đói có thể là một cảm giác cấp
bách hơn sự thiếu tự do chính trị , song khi các tự do
này hiện hữu, những người thất nghiệp đói khát có
nhiều cơ hội hơn rất nhiều để phấn đấu cải thiện
số phận, họ có thể tố chức đấu tranh cho lợi ích
của mình và có thể đòi hỏi quyền lợi nếu thấy mình
bị thiệt thòi.
Do vậy,
nếu việc gọi mọi lợi ích đáng khao khát là tự do là
sai (dầu sao thì một trại tập trung không có nạn đói
là điều có thể hình dung, nhưng sẽ là mạo hiểm nếu
khẳng định rằng trại tập trung này bảo đảm cho các
tù nhân các tự do nhất định, trong khi đó một thể chế
tự do bảo đảm các tự do khác), thì không có gì phải
nghi ngờ rằng tự do trong nghĩa pháp lý cũng là một ích
lợi rất đáng khao khát; ở đây nó là lợi ích tự
thân, không chỉ bởi nó là công cụ và điều kiện để
đạt được các lợi ích khác.
Ít nhất
từ đây dẫn đến kết quả là càng nhiều tự do (theo
nghĩa này) càng tốt. Nguyên tắc này không thể được
chấp nhận một cách vô hạn định. Chắc chắn phần
đông trong chúng ta cho là tốt khi nhiều hành vi trước
kia bị trừng phạt giờ đây không còn bị trừng phạt
nữa, ít nhất là ở các nước văn minh (ví dụ đồng
tính luyến ái hay phép thuật). Nhưng không ai có tư duy
lành mạnh lại đòi hỏi tự do đi xe bên phải hoặc bên
trái đường tùy thích. Ở nhiều nước có những ý kiến
cho rằng trẻ em ở trường có quá nhiều tự do, quá ít
kỷ luật và điều đó ảnh hưởng tới cả chất lượng
giảng dạy lẫn giáo dục đạo đức và công dân. Hơn
nữa hoàn toàn không chắc là trẻ em từ những tuổi nhỏ
nhất muốn có càng nhiều không gian chọn lựa càng tốt,
mặc dù khao khát này lớn lên theo tuổi tác; có lẽ trẻ
nhỏ chấp thuận một cách tự nhiên rằng người lớn
bảo cho chúng biết cần phải làm gì và chúng không đòi
hỏi người lớn để chúng tự lựa chọn. Chính người
lớn chúng ta trong nhiều việc cũng dễ dàng nghe theo sự
lựa chọn của người khác; chúng ta không tự tin và chờ
đợi lời khuyên của các chuyên gia dẫu biết rằng không
phải chuyên gia nào cũng xứng đáng được tin tưởng. Ta
biết rằng sự chọn lựa tốt thường phụ thuộc vào
hiểu biết về sự vật, và không ai có thể khoe mình có
kiến thức đầy đủ trong mọi chuyện khi cần chọn lựa.
Chúng ta có tự do nhưng thà không sử dụng nó đối với
những việc chúng ta không thành thạo.
Tóm lại,
không có một nguyên tắc quan trọng chung xác định tự
do nhiều hơn hay ít hơn bao nhiêu là tốt đối với chúng
ta. Đôi khi chúng ta có cơ sở cho rằng tự do cũng có thể
quá nhiều, không chỉ quá ít, và rằng tự do vượt ra
ngoài một số khuôn khổ sẽ gây hại. Chắc hẳn sẽ an
toàn hơn nếu luật pháp mắc tội khi cho phép quá nhiều
hơn là quá ít tự do để công dân tự quyết, nhưng ngay
cả nguyên tắc này cũng không thể được thừa nhận vô
hạn chế.
(Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi", NXB Znak, Kraków 2008)
Monday, 2 June 2014
Ấn tượng từ nhà hát (Wisława Szymborska)
(Thái Linh dịch)
Trong vở bi kịch, hồi sáu với
tôi là quan trọng nhất:
cuộc phục sinh từ những cảnh
chiến trường,
tóc giả, xiêm y được chỉnh
đốn sửa sang
con dao được rút ra từ lồng
ngực,
cổ được tháo đi chiếc dây
thòng lọng
đứng cùng người sống xếp
hàng ngang
hướng mặt về người
xem.
Những màn cúi chào chung, những màn cúi chào riêng:
bàn tay trắng trên trái tim thương tích,
Những màn cúi chào chung, những màn cúi chào riêng:
bàn tay trắng trên trái tim thương tích,
cái nhún chân của cô gái quyên
sinh
thủ cấp đã bị chặt nghiêng
đầu.
Những cặp đôi cúi chào cùng
nhau:
sự dịu hiền khoác tay giận dữ
nạn nhân hân hoan nhìn tên đao phủ,
sự dịu hiền khoác tay giận dữ
nạn nhân hân hoan nhìn tên đao phủ,
tên phiến loạn chẳng hề hấn
gì cùng bạo chúa sánh vai.
Cái giẫm lên vĩnh cửu của mũi giày.
Vành mũ tròn đuổi xua đạo
đức.
Sự sẵn sàng khiếm khuyết
Sự sẵn sàng khiếm khuyết
để bắt đầu lại từ ngày
mai.
Đi hàng một tiến vào những
người chết từ trước rất lâu
ở hồi ba, hồi tư và giữa các hồi trong vở.
Sự trở lại tuyệt vời của những người bặt tín vô âm.
ở hồi ba, hồi tư và giữa các hồi trong vở.
Sự trở lại tuyệt vời của những người bặt tín vô âm.
Ý nghĩ rằng họ không cởi bỏ
phục trang,
chẳng tẩy rửa phấn son,
kiên nhẫn đứng sau cánh gà chờ
đợi,
khiến tôi xúc động hơn nhiều lời kịch tràng giang.
khiến tôi xúc động hơn nhiều lời kịch tràng giang.
Nhưng thực long trọng uy nghiêm
chính là lúc hạ màn
và những gì dưới rèm nhung còn
thấy được:
đây một bàn tay nhặt vội bông hoa,
đây một bàn tay nhặt vội bông hoa,
bàn tay khác ở kia chụp thanh
gươm rớt
Chỉ khi đó bàn tay vô hình thứ ba
Chỉ khi đó bàn tay vô hình thứ ba
mới thi hành bổn phận:
nắm lấy cổ họng tôi siết nghẹt.
nắm lấy cổ họng tôi siết nghẹt.
Nguyên tác:
Wrażenia z teatru
Najważniejszy w tragedii jest dla mnie akt szósty:
zmartwychwstanie z pobojowisk sceny,
poprawianie peruk, szatek,
wyrywanie noża z piersi,
zdejmowanie pętli z szyi,
ustawianie się w rzędzie pomiędzy żywymi
twarzą do publiczności.
Ukłony pojedyncze i zbiorowe:
biała dłoń na ranie serca,
dyganie samobójczyni,
kiwanie ściętej głowy.
Ukłony parzyste:
wściekłość podaje ramię łagodności,
ofiara patrzy błogo w oczy kata,
buntownik bez urazy stąpa przy boku tyrana.
Deptanie wieczności noskiem złotego trzewiczka.
Rozpędzanie morałów rondem kapelusza.
Niepoprawna gotowość rozpoczęcia od jutra na nowo.
Wejście gęsiego zmarłych dużo wcześniej,
bo w akcie trzecim, czwartym, oraz pomiędzy aktami.
Cudowny powrót zaginionych bez wieści.
Myśl, że za kulisami czekali cierpliwie,
nie zdejmując kostiumu,
nie zmywając szminki,
wzrusza mnie bardziej niż tyrady tragedii.
Ale naprawdę podniosłe jest opadanie kurtyny
i to, co widać jeszcze w niskiej szparze:
tu oto jedna ręka po kwiat śpiesznie sięga,
tam druga chwyta upuszczony miecz.
Dopiero wtedy trzecia, niewidzialna,
spełnia swoją powinność:
ściska mnie za gardło.
Wrażenia z teatru
Najważniejszy w tragedii jest dla mnie akt szósty:
zmartwychwstanie z pobojowisk sceny,
poprawianie peruk, szatek,
wyrywanie noża z piersi,
zdejmowanie pętli z szyi,
ustawianie się w rzędzie pomiędzy żywymi
twarzą do publiczności.
Ukłony pojedyncze i zbiorowe:
biała dłoń na ranie serca,
dyganie samobójczyni,
kiwanie ściętej głowy.
Ukłony parzyste:
wściekłość podaje ramię łagodności,
ofiara patrzy błogo w oczy kata,
buntownik bez urazy stąpa przy boku tyrana.
Deptanie wieczności noskiem złotego trzewiczka.
Rozpędzanie morałów rondem kapelusza.
Niepoprawna gotowość rozpoczęcia od jutra na nowo.
Wejście gęsiego zmarłych dużo wcześniej,
bo w akcie trzecim, czwartym, oraz pomiędzy aktami.
Cudowny powrót zaginionych bez wieści.
Myśl, że za kulisami czekali cierpliwie,
nie zdejmując kostiumu,
nie zmywając szminki,
wzrusza mnie bardziej niż tyrady tragedii.
Ale naprawdę podniosłe jest opadanie kurtyny
i to, co widać jeszcze w niskiej szparze:
tu oto jedna ręka po kwiat śpiesznie sięga,
tam druga chwyta upuszczony miecz.
Dopiero wtedy trzecia, niewidzialna,
spełnia swoją powinność:
ściska mnie za gardło.
Sunday, 1 June 2014
(ballet) Don Quixote
(Kitri trong vở Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng)
Có thể nói Don Quixote một trong những chủ đề xuyên
suốt lịch sử ballet. Vở ballet đầu tiên với chủ đề
này được trình diễn vào năm 1614, đúng 400 năm trước trong hoàng cung Pháp với nhan đề „Le ballet de Don Quichot”.
Kể từ đó, Don Quixote liên tục trở đi trở lại trên
sân khấu, là nguồn cảm hứng của biết bao thế hệ vũ
công và biên đạo, từ thời ballet cung đình baroque, qua
thời phục hưng, lãng mạn và hậu lãng mạn, cho tới tận
ballet tân cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại. Hầu
hết các nhà biên đạo ballet lừng danh đều đã dựng vở
Don Quixote của mình, từ Louis-Jacques Milon, Charles-Louis
Didelot, Paul Taglioni... qua August Bournonville, Marius Petipa,
Aleksandr Gorski, Ninette
de Valois tới George
Balanchine, Rudolf Nuriejew, Alexei
Fadeyechev... Trong số đó, Don Quixote do Marius Petipa dàn dựng
với âm nhạc của Ludwig Minkus đã trở thành một kinh
điển lớn của nghệ thuật ballet.
Có lẽ không cần giới thiệu nhiều về Marius Petipa, nhà
biên đạo người Pháp, là cha đẻ và một tên tuổi gắn
liền với thời hoàng kim của ballet Nga mà bất cứ người
nào có đôi chút quan tâm đến ballet đều không thể
không biết, tác giả của các vở ballet nổi tiếng như
Hồ thiên nga, Công chúa ngủ trong rừng, Kẹp hạt dẻ,
Faust, Raymonda, La
Bayadère... Nhưng còn Ludwig
Minkus? Nhạc sĩ người Áo gốc Do Thái này là một trong
những nhà soạn nhạc ballet sáng tác dồi dào nhất, với
gần 30 vở, gắn bó gần như cả cuộc đời mình với
nước Nga và ballet Nga. Nhưng tên tuổi của ông không vượt
ra ngoài khuôn khổ các vở ballet, và Don Quixote là một
trong những tác phẩm khiến ông không bị rơi vào quên
lãng sau khi qua đời năm 1917 tại cố quốc trong đói
nghèo và cô đơn, mộ phần bị quân quốc xã san
phẳng năm 1939. Bi kịch của ông là đã sống và sáng tác
trong thời đại mà các nhà biên đạo chủ yếu chú trọng
đến các vũ điệu và tính kể chuyện, sự hoàn hảo về
trang trí hơn là các yêu cầu nghệ thuật khác cao hơn
trong ballet. Âm nhạc của ông phục vụ những mục đích
ấy, nơi nhà soạn nhạc phải ưu tiên các vũ công và nhà
biên đạo và do đó, không được các nhà âm nhạc học
thời nay đánh giá cao. Nhưng chúng ta còn nhớ, vào thời đó, khi
các vở Công chúa ngủ trong rừng hay kẹp hạt dẻ được
trình diễn lần đầu, các nhà phê bình đã không tiếc
lời chê bai âm nhạc củ Tchaikovsky là vứt đi, hay „không
thể múa được”.
Don Quixote của Marius Petipa, mặc dù dựa vào cuốn tiểu
thuyết cùng tên của Cervantes, thật ra không phải là một
phản chiếu sắc nét của chủ đề văn học này. Nhân
vật Don Quixote mờ nhạt, thậm chí chỉ là cái cớ để
các vũ công trình diễn các vũ điệu nối tiếp, liên
tục. Xét về nội dung, có thể nói đây là một vở
ballet không mấy phong phú hay sâu sắc. Nhưng về mặt biên
đạo, đây là một vở ballet xuất sắc và kiểu mẫu
(nhất là sau khi được Aleksander Gorski bổ sung thêm).
Marius Petipa dựng Don Quixote khi đã là một nhà biên đạo
dày dạn kinh nghiệm, sau khi đã tự mình biên soạn các
vũ điệu không ai bì kịp theo trường phái ballet
divertissement thời kỳ đỉnh cao với tính chất tân cổ điển.
Trong Don Quixote tràn ngập những vũ điệu Tây Ban Nha mà
Marius Petipa thông thạo hơn ai hết, bởi ông đã dựng các
vở ballet đầu tiên của mình ở Madrid, và chính ông đã
học múa các vũ điệu dân gian Tây Ban Nha trong những năm
1845-1847. Màn múa giấc mơ của Don Quixote trong hồi 2 là
một trong những tuyệt tác của biên đạo ballet. Tiết
mục múa đôi (pas de deux) của Kitri và Basilio ở hồi 3
(còn được gọi là Grand pas de deux) đã được các nghệ
sỹ ballet kiệt xuất của các thời đại khác nhau gặt
hái không biết bao nhiêu thành công vang dội trên khắp
thế giới. Tiết mục múa đơn xoay 32 vòng (fouettés)
của Kitri
luôn là niềm chờ đợi của khán giả, không ít người
còn đếm xem vũ công có xoay đủ 32 vòng hay không. Các vũ
điệu trong Don Quixote vui tươi, sinh động, đầy nhiệt
huyết nhưng cũng đầy quyến rũ, khiến người xem hoàn
toàn chìm đắm trong một không gian Tây Ban Nha tràn ngập
nhịp điệu và sắc màu.
(Grand pas de deux của Kitri và Basilio do Svetlana Zakharova và Andrei Uvarov thực hiện)
(Natalia Opisova trong vai Kitri và tiết mục xoay 32 vòng)
Vở
Don Quixote do Nhà hát Ballet quốc gia Ba Lan dàn dựng và
trình diễn lần đầu vào năm 2014 theo biên đạo của
Marius Petipe với phần biên đạo mới của nhà biên đạo
Nga nổi tiếng Alexei Fadeyechev mang lại cho người xem tất
cả không khí và tinh thần Tây Ban Nha ấy. Sân khấu được
dàn dựng với những sắc màu tươi sáng, rực rỡ trong
hồi 1 với không khí vũ hội linh đình, trong màn giấc mơ
của Don Quixote ở hồi 2 lại tối giản và tinh khiết với
gam màu trắng và lơ chủ đạo, tới hồi 3 lại là sự
kết hợp khéo léo và tinh tế giữa các màu sắc rực rỡ
với các màu thanh nhã nhẹ nhàng... có thể nói là phần
dàn dựng đẹp nhất và thành công nhất cho vở Don
Quixote mà tôi từng được xem. Vũ đoàn với các vũ công
kỹ thuật rất cao nên Alexei Fadeyechev tha hồ có đất
dụng võ và đã không khiến khán giả thất vọng.
(Thái Linh)
Thursday, 1 May 2014
Mùa Xuân tinh khiết
Tôi đến Thụy Sĩ gặp bạn vào mùa Xuân. Thật lạ, lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác hồi hộp và hào hứng đến thế. Trước mỗi chuyến đi xa, tất nhiên, đều có chút háo hức. Nhưng sau bao nhiêu chuyến đi tôi đã tưởng chẳng có gì có thể làm mình hồi hộp nữa. Tôi đi chỉ để gặp bạn, đơn giản vậy thôi, chúng tôi chọn Thụy Sĩ vì đây là nơi cả hai chưa từng đến và gần nơi bạn tôi đang làm việc.
Vậy mà lần này lại hồi hộp với một chuyến đi có vẻ như vô tội: bạn là bạn cũ, rất cũ, và Thụy sĩ không phải là nơi tôi định „chinh phục”. Làm sao có thể chinh phục một đất nước cái gì cũng chính xác và hoàn hảo, đầy rẫy xa xỉ phẩm, nơi người ta nói tới 4 thứ tiếng hành chính và một nửa dân số Geneva – thành phố tôi đến – có hộ chiếu nước ngoài? Làm sao có thể hồi hộp với một nơi chỉ gợi lên những hiệp định, hiệp ước, Liên Hợp Quốc, những cuộc họp, những cuộc trưng cầu dân ý, tinh thần thượng tôn pháp luật tuyệt đối, những ngân hàng và những cái máy đo thời gian mà người ta vẫn gọi là đồng hồ? Thậm chí cả với sự bình yên không chiến tranh từ gần 2 thế kỷ? Có thể khâm phục hay ngưỡng mộ những điều ấy, thậm chí có thể cảm thấy chúng... chán ngắt, nhưng vì sao lại hồi hộp?
Quả thực Thụy Sĩ – chẳng gì thì cũng là nơi khai sinh của ngành du lịch hiện đại - còn có Alps và những đỉnh núi như Metterhorn hay Dufourspitze, còn có hàng nghìn hồ nước lớn nhỏ không ai đếm xuể. Nhưng hồ và núi chưa bao giờ hấp dẫn tôi hơn biển. Mỗi khi có dịp, tôi đều tìm cách ra biển. Vậy cớ gì mà hồi hộp?
Tôi không biết. Chỉ biết khi máy bay sắp hạ cánh, nhìn xuống những ngọn núi trùng điệp của dãy Alps đỉnh còn trắng tuyết, tôi đã thành thật xúc động. Như khi lần đầu xem bức tranh „Nhớ một chiều Tây Bắc” của Phan Kế An. Và tôi nhớ Trần Dần. „Bản tôi ở/ non che/ núi phủ./ Những cánh buồm mây/ san sát/ đậu/ quanh nhà./ Một biển sương lam/ gió cuộn-/ bồng bềnh”... Những lời gọi ra đi. „Đi!/ Đi!-/ Trên đá nhọn tháng ngày,/ Chẳng quay nhìn/ vệt máu/ sau chân.”
Đi luôn là niềm thôi thúc của thi nhân. „Tôi không gọi là thi nhân những người làm thơ, có vần điệu hay không có vần điệu. Tôi gọi là thi nhân những người có thể thay đổi thế giới một cách sâu xa”(i). Trần Dần đã đi. Rimbaud đã đi. Phải chăng tôi hồi hộp vì chính sự ra đi? Nhưng tôi đã có bao nhiêu cuộc ra đi kia mà, những chuyến đi còn dài hơn xa hơn?
Tôi không giải thích được cảm xúc của mình cho đến khi ngồi với bạn trong quán Con tàu say ở làng cổ Yvoire trên đất Pháp, bên bờ hồ Geneva. Một ngẫu nhiên, một tình cờ lạ lùng, bởi chúng tôi không chủ ý chọn quán này. Thực đơn của quán được in bằng phông chữ viết tay nắn nót trên giấy kẻ ô ly, bài thơ Con tàu say xuyên suốt từ bìa đầu sang bìa sau. Rimbaud. Rimbaud. Rimbaud! Chàng thi sĩ tôi mơ hồ thoáng nhớ khi nghĩ đến sự ra đi của những thi nhân, vào thời khắc đó, khi chúng tôi ngồi trong quán giữa một buổi trưa mùa Xuân xanh lừng, đột nhiên trở về chất ngất trong tâm trí, chói lòa như một vết gươm, tinh khiết như một dòng máu phun trào.
Tinh khiết. Đó là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về Rimbaud. Tinh khiết. Đó cũng là từ tôi nhớ đến trước nhất khi nghĩ về bạn tôi suốt bao năm và vừa chợt nhận ra điều ấy khi nhìn bạn tôi lim dim say rượu vang, má hây hồng chòng chành ngồi trên con tàu trở về Thụy Sĩ, mặt hồ xanh biếc phẳng lặng gặp bầu trời xanh biếc phẳng lặng ở một điểm xa hút tầm mắt, nước trong suốt và không khí trong suốt.
„Tôi đã tìm thấy một viên đá xanh!”
Tôi nhớ lại màu tuyết trắng tinh khôi trên những đỉnh núi Alps, và những đồng cỏ non tươi, những đàn bò, những cánh đồng hoa cải vàng màu nguyên thủy dọc các con đường chúng tôi đi qua, bầu không khí trong trẻo dịu dàng của những ngày đầu Xuân, làng Annecy đầy cỏ hoa tinh khiết đẹp như buổi sơ khai, đàn thiên nga trắng muốt tựa những đóa hoa loa kèn dập dờn trên làn nước xanh trong tới đáy của hồ Geneva.... Tất cả đều là một cảm giác tinh khiết rưng rưng. Không phải tôi đến Thụy Sĩ, Annecy hay Yvoire, mà là đến với sự tinh khiết. Tôi cảm động, hồi hộp, vui thích không phải vì những danh từ, mà vì một tính từ. Tính từ ấy, nấp sau bao danh từ chỉ vạn vật, là nơi chốn tôi muốn trở về, là điều tôi luôn trân quý nâng niu giữa cuộc sống bề bộn ồn ào. Tinh khiết. Và bạn tôi là hiện thân sống của tính từ ấy!
Tôi đã định nói với bạn điều này ngay khi xuống tàu, nhưng ngôn ngữ thật bất lực và ngại ngùng . Mà có lẽ tôi cũng không cần phải nói ra. Tôi vẫn tin có một thứ ngôn ngữ khác xuyên qua hết thảy - bất chấp những ngôn từ thường nhật, bất chấp những phù phiếm xôn xao, bất chấp những đau đớn vô lý, những phẫn nộ và mỉa mai của cuộc sống - như một thứ ánh sáng tinh khiết lan tỏa giữa chúng tôi, giữa sự mẫn cảm của chúng tôi, giữa những ước vọng, mộng mơ và tư tưởng, khiến chúng tôi thấu hiểu nhau. Ngôn ngữ ấy - có vần hay không có vần, được nói ra hay không được nói ra - tôi gọi là thi ca.
Cũng không biết vì sao sáng nay, sau những ngày quay cuồng trong công việc như vẫn thế sau mỗi chuyến đi, tỉnh dậy muộn trong buổi sáng đầu tiên của kỳ nghỉ lễ, chưa rửa mặt, chưa chải tóc, việc đầu tiên tôi làm sau khi nhìn thấy bầu trời xanh tinh khiết ngoài cửa sổ là mở laptop, viết những dòng lộn xộn lan man này. Tặng bạn.
Warszawa, ngày đầu tiên của tháng Năm, 2014
---------
Chú thích:
(i) Henry Miller
Wednesday, 19 February 2014
Những đứa con của thời đại (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Chúng ta là những đứa
con của thời đại,
thời đại chính trị.
Mọi chuyện của anh,
của chúng ta, của các bạn
chuyện ban ngày, chuyện
ban đêm
Đều là chuyện chính
trị.
Dù muốn dù không
các gen di truyền của
anh vẫn mang quá khứ chính trị
da anh mang
màu chính trị
đôi mắt
anh mang cái nhìn chính trị
Mọi điều
anh nói đều có tiếng vang,
Mọi sự
lặng im của anh đều là thông điệp
Đằng nào
cũng là chính trị hết.
Ngay cả khi
thả bộ trong rừng
Anh cũng
bước những bước đi chính trị
Trên nền
đất chính trị.
Những câu
thơ phi chính trị cũng là chính trị,
Vầng trăng
sáng trên cao,
không còn
là trăng nữa.
Tồn tại
hay không tồn tại, đó là câu hỏi.
Câu hỏi gì, mến thương ơi, hãy trả lời đi.
Câu hỏi chính trị.
Thậm chí
anh chẳng cần phải là người
Để có
được tầm quan trọng chính trị.
Chỉ cần
anh là dầu lửa
ngũ cốc
hay nguyên liệu tái chế - là đủ.
Hoặc là
cái bàn hội nghị, mà hình dạng
bị tranh
cãi hàng tháng:
đàm phán về chuyện sinh tử
đàm phán về chuyện sinh tử
bên bàn
tròn hay vuông.
Trong khi đó con người vẫn bỏ mạng,
Trong khi đó con người vẫn bỏ mạng,
súc vật
chết,
nhà cửa
vẫn cháy
đồng ruộng
hoang tàn
như trong những
thời đại mịt mùng xa lắc
không chính
trị bằng.
Nguyên tác:Jesteśmy dziećmi epoki,
epoka jest polityczna.
Wszystkie twoje, nasze, wasze
epoka jest polityczna.
Wszystkie twoje, nasze, wasze
dzienne sprawy, nocne sprawy
to są sprawy polityczne.
Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.
O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.
Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.
Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.
Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.
to są sprawy polityczne.
Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.
O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.
Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.
Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.
Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.
Albo I stołem obrad, o którego kształt
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci,
okrągłym czy kwadratowym.
Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci,
okrągłym czy kwadratowym.
Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.
Tuesday, 18 February 2014
Tra tấn (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể biết đau,
Thân thể biết đau,
phải ăn, ngủ và hít thở,
nó có làn da mỏng, ngay dưới da
là máu,
có móng và răng - một số lượng
khá nhiều,
xương dễ gãy, các khớp co dãn.
Khi tra tấn, tất cả những điều
này đều được xét đến.
Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể run lên, như đã từng
run
trước khi thành La Mã được lập
nên, và sau đó,
vào thế kỷ hai mươi trước và
sau Thiên Chúa,
những đòn tra tấn vẫn như xưa,
chỉ trái đất ngày càng nhỏ
lại
và bất kỳ điều gì xảy ra cũng tựa như cách một bức tường.
và bất kỳ điều gì xảy ra cũng tựa như cách một bức tường.
Chẳng có gì đổi thay.
Chỉ có người ngày một nhiều hơn,
Chỉ có người ngày một nhiều hơn,
Bên cạnh những đòn cũ xuất
hiện nhiều đòn mới,
đòn thật sự, tưởng tượng,
không có, hay tạm thời,
nhưng tiếng kêu thét thân thể
đáp lại chúng
đã, đang và sẽ là tiếng kêu
vô tội,
theo cung bậc và âm giai xưa cũ
đời đời.
Chẳng có gì đổi thay.
Có chăng chỉ là kiểu cách, lễ
nghi, các điệu vũ.
Động tác đưa tay lên che đầu
thì vẫn nguyên như cũ.
Thân thể quằn quại, co giật, giãy ra,
bị chặt chân sụp xuống, khuỵu
gối,
bầm tím, sưng vù, chảy máu và
dãi nhớt.
Chẳng có gì đổi thay.
Ngoại trừ những bờ sông,
đường biên của rừng, bờ
biển, sa mạc và sông băng.
Giữa những phong cảnh ấy, một
linh hồn bé nhỏ dật dờ,
khi ẩn, khi hiện, khi gần lại,
khi xa mờ,
xa lạ với bản thân, không cách
gì nắm bắt,
lúc chắc chắn, lúc phân vân
về sự hiện hữu của chính
mình,
trong khi thân thể vẫn có đó,
có đó và có đó
mà chẳng chốn nương thân.
Nguyên tác:
Nic się nie zmieniło.
Ciało jest bolesne,
jeść musi i oddychać powietrzem i spać,
ma cienką skórę, a tuż pod nią krew,
ma spory zasób zębówi paznokci,
kości jego łamliwe, stawy rozciągliwe.
W torturach jest to wszystko brane pod uwagę.
Nic się nie zmieniło.
Ciało drży, jak drżało
przed założeniem Rzymu i po założeniu.
w dwudziestym wieku przed i po Chrystusie,
tortury są, jak były, zmalała tylko ziemia
i cokolwiek się dzieje, to tak jak za ścianą.
Nic się nie zmieniło.
Przybyło tylko ludzi,
obok starych przewinień zwawiły się nowe,
rzeczywiste, wmówione, chwilowe i żadne,
ale krzyk, jakim cialo za nie odpowiada,
był, jest i będzie krzykiem niewinności,
podług odwiecznej skali i rejestru.
Nic się nie zmieniło.
Chyba tylko maniery, ceremonie, tańce.
Ruch rąk osłaniających głowę
pozostal jednak ten sam.
Ciało się wije, szarpie i wyrywa,
ścięte z nóg pada, podkurcza kolana,
sinieje, puchnie, ślini się i broczy.
Nic się nie zmieniło.
Poza biegiem rzek,
linią lasów, wybrzeży, pustyń i lodowców.
Wśród tych pejzaży duszyczka się snuje,
znika,powraca, zbliża się, oddala,
sama dla siebie obca, nieuchwytna,
raz pewna, raz niepewna swojego istnienia,
podczas gdy ciało jest i jest i jest
i nie ma się gdzie podziać.
Kết thúc và khởi đầu (Wisława Szymborska)
Thái Linh dịch
Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.
Phải có người xúc đống gạch
nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy
xác
đi qua.
Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế
bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.
Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa
sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.
Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh
khác.
Phải bắc lại cầu
Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.
Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa
mất.
Nhưng quanh họ
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm
thấy
những thứ đó chán ngấy.
Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào
lên
những lý lẽ đã gỉ sét
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.
Những người biết
về những điều từng xảy ra
nơi đây
phải nhường chỗ cho những
người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.
Trên thảm cỏ
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.
Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm
và ngây ngắm mây bay.
Nguyên tác:
Nguyên tác:
Koniec i początek
Po każdej wojnie
ktoś musi posprzątać.
Jaki taki porządek
sam się przecież nie zrobi.
Po każdej wojnie
ktoś musi posprzątać.
Jaki taki porządek
sam się przecież nie zrobi.
Ktoś
musi zepchnąć gruzy
na pobocza dróg,
żeby mogły przejechać
wozy pełne trupów.
na pobocza dróg,
żeby mogły przejechać
wozy pełne trupów.
Ktoś
musi grzęznąć
w szlamie i popiele,
sprężynach kanap,
drzazgach szkła
i krwawych szmatach.
w szlamie i popiele,
sprężynach kanap,
drzazgach szkła
i krwawych szmatach.
Ktoś
musi przywlec belkę
do podparcia ściany,
ktoś oszklić okno
i osadzić drzwi na zawiasach.
do podparcia ściany,
ktoś oszklić okno
i osadzić drzwi na zawiasach.
Fotogeniczne
to nie jest
i wymaga lat.
Wszystkie kamery wyjechały już
na inną wojnę.
i wymaga lat.
Wszystkie kamery wyjechały już
na inną wojnę.
Mosty
trzeba z powrotem
i dworce na nowo.
W strzępach będą rękawy
od zakasywania.
i dworce na nowo.
W strzępach będą rękawy
od zakasywania.
Ktoś
z miotłą w rękach
wspomina jeszcze jak było.
Ktoś słucha
przytakując nie urwaną głową
Ale już w ich pobliżu
zaczną kręcić się tacy,
których to będzie nudzić.
wspomina jeszcze jak było.
Ktoś słucha
przytakując nie urwaną głową
Ale już w ich pobliżu
zaczną kręcić się tacy,
których to będzie nudzić.
Ktoś
czasem jeszcze
Wykopie spod krzaka
przeżarte rdzą argumenty
i poprzenosi je na stos odpadków.
Wykopie spod krzaka
przeżarte rdzą argumenty
i poprzenosi je na stos odpadków.
Ci,
co wiedzieli
o co tutaj szło,
muszą ustąpić miejsca tym,
co wiedzą mało.
I mniej niż mało.
I wreszcie tyle co nic.
o co tutaj szło,
muszą ustąpić miejsca tym,
co wiedzą mało.
I mniej niż mało.
I wreszcie tyle co nic.
W
trawie, która porosła
przyczyny i skutki,
musi ktoś sobie leżeć
z kłosem w zębach
i gapić się na chmury.
przyczyny i skutki,
musi ktoś sobie leżeć
z kłosem w zębach
i gapić się na chmury.
Friday, 14 February 2014
Thơ rất cũ :)
Thức tỉnh buồn
Như mảnh thiên thạch đột nhiên rơi vào lồng ngực em, anh mãi để lại
Hương thơm và ánh sáng vũ trụ phảng phất quanh tim em,
Ưu phiền và bóng tối thời gian lẩn quất.
Huy hoàng hơn những vết xước rực cháy trong ngực vì cạnh đá nhọn sắc,
U minh hơn những hố thẳm của hơi thở trong đêm sâu quặn thắt,
Yêu-thương là một thức tỉnh buồn.
*
Chỉ còn Ánh Sáng
Vậy là chỉ còn Ánh Sáng
Em
chỉ còn Ánh Sáng.
Những cơn đau sắc nhọn
mờ mờ dần mòn
Những đêm đen nhức nhối bóng tối
loãng loãng tan ra
Những vực sâu em đã đi qua
dâng dâng đầy lấp
Những hờn ghen cay đắng
nhạt nhạt phai nhòa...
Chỉ còn Ánh Sáng.
Những câu thơ không được viết ra
Những ngôn từ rỗng nghĩa
Gương mặt anh trở nên xa lạ quá
trong xôn xao nhẹ bỗng ngoài kia...
Màu thời gian màu của vĩnh ly
Chỉ còn Ánh Sáng.
*
Những lời bông đùa
Những lời bông đùa, anh thấy không, chúng ta trốn vào đó như trốn sau những tấm rèm vạn năng mờ ảo, mềm mại nhưng không cách gì xuyên thủng - lớp da trơn tuột, bóng nhẫy mà ta ra sức gắn lên đó những emoticon hình mặt cười tựa những chiếc vẩy tua tủa sắc cạnh, thứ vũ khí lợi hại bảo vệ chúng ta trước mọi tổn thương và tan vỡ trong thế giới đầy nghi hoặc, hoang mang.
Những lời bông đùa, anh biết không, sẽ trở thành tấm vải liệm của chúng ta. Ngay cả khi đã chết, mình cũng vẫn không thể chạm vào nhau, vĩnh viễn.
*
Chỉ còn Im Lặng
Ngay khi Yêu Thương như viên đá long lanh từ đáy đại dương trĩu lặn vào lồng ngực em khiến trái tim như muốn vỡ òa, chính là lúc em cảm thấy nó mong manh như hương thơm trong vắt của giọt sương vừa ứa ra trên đóa Huệ-tây trắng muốt.
Chỉ còn Im Lặng...
Ngay khi Gần Gũi như tiếng thì thầm âu yếm từ đôi-môi-kẻ-đang-yêu khẽ chạm vào làn da khiến cơ thể em nhận ra anh rõ ràng hơn bao giờ hết, chính là lúc em cảm thấy nó hun hút nghìn trùng như ngọn gió lang thang thổi suốt sa mạc hoang vu mênh mông vẩy cát.
Chỉ còn Im Lặng...
Ngay khi Thực Tại như trái ô-liu đen óng từ một hòn đảo Hy Lạp nhẹ vỡ trong vòm miệng em khiến đầu lưỡi run lên trong vị mặn bùi, chính là lúc em cảm thấy nó lãng đãng tan ra như bóng tối của đêm Địa Trung Hải xa xưa nhạt nhòa sóng vỗ.
Chỉ còn Im Lặng...
(Thái Linh)
Subscribe to:
Posts (Atom)









