Thursday, 22 September 2011

Vì Roma là vô tận, vô cùng



Đúng một tháng tròn sau chuyến đi Roma. Trong suốt một tháng ấy, giữa ngồn ngộn công việc, trong thực tại Warszawa dịu mát và ẩm ướt, hành trình Roma vẫn lặng lẽ tiếp diễn trong tôi, thực tại Roma vẫn âm thầm hiện hữu, những vòng sóng dư âm vẫn lan tỏa, ánh lên nét sáng từ những bức ảnh, những trang sách mà tôi đã đọc, đã chụp, đã xem và vẫn còn mãi trở đi trở lại với chúng. Tôi nghĩ rằng có lẽ phải lâu, lâu lắm nữa tôi mới đủ sức viết chút gì đó về Roma, khi mọi ấn tượng và cảm xúc không còn lộn xộn và bề bộn nữa, khi Roma đã ngấm đủ vào tôi.

Nhưng rồi hôm nay, trước một chuyến đi xa, tôi phải vội vàng ghi lại nhưng gì vẫn còn rất ngổn ngang và mơ hồ, vì tôi sợ mình sẽ chẳng còn thời gian nữa.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi đến Roma, nhưng lại như lần đầu, bởi vì những lần trước tôi đến khi còn quá trẻ, như một khách du lịch vô tâm và „hạnh phúc”, cái hạnh phúc mà Goethe đã ghen tị đến thế với những du khách chớp nhoáng của Roma, chỉ cần đến, nhìn thấy nó, rồi vui vẻ ra đi, và thế là đủ. Nhưng đó không phải là cái hạnh phúc của một người thực sự du hành, một người vừa „học lại từ đầu cách nhìn và làm quen với mọi thứ đúng như nó là thế”, vừa biết về nơi ấy như từ tiền kiếp, hiểu rõ từng nơi chốn và yêu nó tới mức mỗi giây mỗi phút đều quí giá, đều là nhắc nhở đau đớn về lúc chia xa. Goethe nói ai đã từng biết rõ về nước Ý, nhất là Roma, người ấy sẽ không bao giờ còn là một con người hoàn toàn bất hạnh. Không sai. Nhưng tôi nghĩ ai đã từng biết rõ Roma rồi rời xa nó, người ấy sẽ không bao giờ còn là một con người hoàn toàn hạnh phúc.

Khách du lịch và người nước ngoài, từ bao nhiêu thế kỷ nay, đã luôn là một phần của Roma, đến nỗi khó lòng hình dung ra một Roma thiếu họ. Từ những trang viết của Montaigne, Stendhal, Goethe, qua Muratov hay Antoine Ampere, đều là „c'est une ville rapiécée d'étrangers”. Giờ đây, trong thời đại xê dịch này, Roma càng nhiều du khách nước ngoài hơn bao giờ hết. Nhưng có lẽ không mấy ai yêu Roma từ cái nhìn đầu tiên. Ấn tượng ban đầu của nhiều người khi đến Roma là sự thất vọng. Vì điều gì không rõ. Có thể vì sự lộn xộn vĩnh hằng của nó, từ hàng nghìn năm. Có thể vì chính đám đông người nước ngoài này. Cũng có thể vì người dân Roma (mà Goethe gọi là những đứa trẻ được nuông chiều) có vẻ (chỉ có vẻ thôi) không mấy hiếu khách. Nhưng sớm hay muộn, du khách cũng sẽ bị Roma quyến rũ. Dần dần, nhẹ nhàng, nhưng Roma không ngừng khuấy động tâm hồn họ, lấp đầy nó, thấm sâu vào nó, để rồi cuối cùng ở lại mãi đó, cho đến hết cuộc đời.


Thật khó xác định rõ ràng điều gì đã khiến Roma quyến rũ đến thế, cái cảm thức Roma ấy hình thành từ những điều đơn giản và nhỏ nhặt nhất, từ mỗi bước chân, mỗi buổi sáng, mỗi góc phố, mỗi đường cong, mỗi viên gạch, mỗi mái vòm, mỗi hàng cột, mỗi di tích, mỗi hòn đá, mỗi ánh đèn, mỗi tia nước mát lành từ vòi phun, mỗi tiếng lao xao quán xá về đêm, mỗi làn gió biển, từ những hình ảnh và ấn tượng vụt thoáng qua giây lát, để rồi đến một lúc nào đó, ta chợt giật mình nhận ra mình đã thấm đẫm Roma tự bao giờ.

Đến Roma lần này, dường như tôi cùng một lúc du hành nhiều chuyến khác nhau. Vừa là chuyến du hành về quá khứ, gặp lại mình và Roma của mười lăm năm trước. Vừa là chuyến du hành với R. Kapuściński, bởi Roma là thành phố đầu tiên ông đặt chân tới khi ra nước ngoài, cũng là thành phố cuối cùng ông đến trước khi tạm biệt thế giới này, và giữa hai lần đến Roma ấy, trong suốt quãng đời đầy di chuyển của mình, ông đã đến Roma rất nhiều lần. Thành phố này đã yêu ông và đã được ông yêu biết bao nhiêu. Vừa là chuyến du hành với những trang sách mà tôi hằng yêu thích: Những cuộc đời song hành, Quo Vadis, Du hành Ý đại lợi, Những bức tranh nước Ý – Roma... với Plutarch, Sienkiewicz, Goethe, Muratov, hay đâu đó là Byron, Montaigne, Stendhal, Ampère... Và tất nhiên, là chuyến du hành với lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật. Những chuyến du hành ấy vừa song song, vừa đan xen lẫn nhau, với những diễn biến và tác động không ngừng đến mọi giác quan, khiến cho tôi chồng chất bao cảm xúc, có lúc tưởng như cái đầu muốn nứt ra (theo cách nói của con gái tôi). Trong cái nhịp điệu chậm rãi của Roma, nơi thời gian có thể ngừng lại ở bất cứ đâu, là một dòng thác lũ của lịch sử, của các sự kiện, các kiệt tác, những kho báu, ào ào cuồn cuộn tuôn chảy trong vẻ ngoài im lìm bình thản. Tôi luôn có cảm giác sợ mình không biết mà bỏ qua một cái gì đó quí giá trên mỗi bước chân. Cảm giác mình quá nhỏ bé trong dại dương Roma vừa sâu vừa rộng này, càng đi, càng bơi, thì chỉ càng thấy thăm thẳm mênh mông. Và không chỉ là cảm giác. Thực tế, tôi đã bỏ qua rất nhiều điều, vì không biết, vì không có thời gian.

Thật ra ban đầu tôi không có ý định „tham quan” Roma, tôi ngỡ mình đã biết về nó. Đúng là tôi đã „biết” tất cả các di tích quan trọng của nó. Nhưng khi đến Roma rồi, tôi lại không thể cưỡng lại được việc đi dạo lang thang, và những chuyến du hành kia rất tự nhiên bất ngờ ập đến. Lúc đó tôi mới chợt nhận ra mười lăm năm qua tôi đã thay đổi đến thế nào. Mười lăm năm trước tôi đã nhìn rất nhiều mà chẳng thấy, hay đúng ra là trong lúc đó, tôi gần như chỉ nhìn thấy người bạn đồng hành của mình mà thôi, và những gì gắn liền với người ấy. Tôi cũng xúc động vì sự cổ kính của Roma, nhưng đó chỉ là một cảm giác xúc động nhẹ nhàng. Còn giờ đây, tôi bàng hoàng nhận ra mình đã biết ít về Roma biết bao nhiêu. Vẫn những di tích ấy, những công trình ấy, những cảnh vật ấy, nhưng bên trong đó là những câu chuyện trùng trùng điệp điệp, là những vẻ đẹp bây giờ tôi mới thấy được, là những giá trị bây giờ tôi mới nhận ra. Nhưng trước hết, đó là sự „thấy mình”. Bởi chắc hẳn mười lăm năm sau, nếu có quay lại đây, tôi cũng sẽ „bàng hoàng nhận ra mình đã biết ít về Roma biết bao nhiêu”. Vì Roma là vô tận vô cùng.


Vì những chuyến đi thực ra không phải để nhìn, mà là để thấy. Không phải thấy ngoại giới, mà là thấy chính mình. Để tìm thấy mình, trong cuộc tìm kiếm không ngừng, u buồn và miên viễn.

(8.9.2011)


Monday, 19 September 2011

Chiếc chìa khóa (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Chìa khóa từng ở đây, bỗng nhiên không còn nữa
Ta phải làm sao mở cửa vào nhà?
Chìa khóa mất rồi chắc ai đó sẽ tìm ra,
và ngắm nghía – anh ta cần gì nó?
rồi bước tiếp, tiện tay vứt bỏ
như quẳng đi miếng sắt vụn vô tình.

Nếu với tình yêu em dành cho anh
điều tương tự cũng xảy ra như vậy,
thì không chỉ chúng mình, mà toàn thế giới
sẽ hư hao mất một tình yêu.
Trên bàn tay xa lạ nhặt lên
tình yêu không mở ra căn nhà nào hết,
nó sẽ chỉ là một khuôn hình, không hơn không kém.
Xin những rỉ hoen phù hộ nó trên đời.

Quẻ bói này được lập người ơi
không dựa vào tiếng công kêu, các quân bài hay những vì tinh tú.


Wednesday, 14 September 2011

Lòng hận thù (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Hãy nhìn xem, trong thế kỷ chúng ta
lòng hận thù vẫn đầy hiệu quả,
vẫn đường đường phong độ làm sao.
Nó nhẹ nhàng vượt qua những rào cao.
Thật dễ dàng - nó nhảy ra, xộc đến.

Lòng hận thù không như bao tình cảm khác.
Nó vừa cũ vừa mới hơn chúng, đồng thời.
Tự nó đẻ ra nguyên nhân hồi sinh nó trên đời.
Nếu nó có thiếp đi,
thì cũng không bao giờ vĩnh viễn.
Chứng mất ngủ không khiến lòng hận thù cạn kiệt,
mà chỉ tiếp sức thêm.

Tôn giáo này hay tôn giáo kia -
miễn sao được quỳ xuống vạch xuất phát.
Tổ quốc này hay tổ quốc khác -
miễn sao được chạy bứt lên.
Công bằng và không tệ lúc đầu tiên.
Rồi nó tự thúc mình phải chạy.
Lòng thù hận. Lòng thù hận.
Khuôn mặt nó nhàu nhò nhăn nhúm
bởi say cuồng mê ngất của tình yêu.

Còn những tình cảm khác, ôi dào,
lờ mờ và ốm yếu.
Từ khi nào tình anh em bằng hữu
trông cậy được vào đám đông?
Có bao giờ, có bao giờ không,
lòng cảm thông được về đích trước?
Bao nhiêu người nỗi nghi ngờ lôi kéo được?
Chỉ lòng hận thù biết khích động mà thôi.

Nhanh trí, giỏi giang, cần mẫn tuyệt vời.
Lòng hận thù đã viết nên bao khúc ca, chẳng cần phải nói.
Bao trang sử nó đã từng đánh số.
Nó đã trải ra bao tấm thảm người
trên bao nhiêu quảng trường và sân chơi.

Chúng ta đừng nói dối, bạn ơi:
lòng hận thù có thể tạo ra cái đẹp.
Những quầng lửa của nó trong đêm đen vô cùng diễm tuyệt.
Trong ban mai hồng tươi những cuộn khói diệu vời.
Trước điêu tàn khó cưỡng nổi sầu lơi
nỗi cảm động và tâm tình bi lụy,
khó cưỡng nổi lòng hận thù trỗi lên mạnh mẽ
lớp lớp hàng hàng.

Về tương phản, nó là quán quân
giữa rú gầm và im lặng
giữa máu đỏ và màu tuyết trắng.
Nhưng hơn hết, nó chẳng bao giờ chán
với chủ đề tên đao phủ tinh tươm
trước nạn nhân ô uế, điếm đàng.

Với nhiệm vụ mới giao, nó luôn rất sẵn sàng.
Nếu phải đợi, lòng hận thù sẽ đợi.
Người ta bảo lòng hận thù mù quáng.
Mù quáng ư? Mắt xạ thủ tinh anh
và nhìn về tương lai táo bạo, kiên gan -
chẳng ai ngoài nó.


Sunday, 11 September 2011

Bức ảnh ngày 11 tháng 9 (Wisława Szymborska)

(ảnh lấy từ internet)



Họ nhảy xuống từ những tầng nhà cháy
- một, hai, rồi thêm vài người
dưới thấp, trên cao.

Bức ảnh đã giữ họ sống
và giờ đây giữ họ
trên mặt đất hướng về mặt đất.

Mỗi người vẫn còn vẹn nguyên
với khuôn mặt riêng
với máu còn ẩn kín.

Vẫn đủ thời gian
cho tóc xõa tung,
và chìa khóa, tiền xu
rơi ra khỏi túi.

Họ vẫn luôn còn trong tầm tay với
của không trung,
trong phạm vi những nơi
vừa mới mở.

Chỉ hai điều tôi có thể làm cho họ:
Miêu tả chuyến bay này
và không thêm câu cuối vào đây.


Thái Linh dịch

Thursday, 18 August 2011

Dưới một vì sao nhỏ (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Xin lỗi sự ngẫu nhiên vì em gọi nó là điều tất yếu.
Xin lỗi điều tất yếu nếu dù sao em cũng đã nhầm.
Hạnh phúc xin đừng giận dữ réo gầm, vì em chiếm như của riêng mình vậy.
Người đã khuất hãy quên đi điều ấy, rằng trong ký ức mơ hồ họ leo lét lắt lay.
Xin lỗi thời gian vì em đã không hay, bao lần lỡ những trần gian khoảnh khắc.
Xin lỗi mối tình xưa, vì tình mới em xem như tình yêu thứ nhất.
Những cuộc chiến xa xôi xin hãy thứ tha, khi em đem hoa thắm về nhà.
Những vết thương hoác miệng hãy bỏ qua, khi em tự làm kim đâm vào ngón.
Xin lỗi những người từ vực sâu đang gọi khóc, vì đĩa nhạc kia với vũ khúc nhịp nhàng.
Xin lỗi những người sân ga lang thang, vì giấc ngủ lúc năm giờ sáng.
Hi vọng hãy bỏ qua đừng chấp, vì đôi khi em cũng mỉm cười.
Đừng chấp em, sa mạc kia ơi, vì em chẳng chạy nhanh khi cầm thìa nước.
Cả mi nữa cú ơi, vẫn trong chiếc lồng này bao năm không gì khác trước,
bất động đăm đăm nhìn một điểm không rời,
hãy buông tha cho ta, ngay cả khi mi là một chim nhồi.
Vì bốn chân bàn xin thứ lỗi cho em, cây bị đốn kia ơi.
Xin lỗi những câu hỏi lớn lao vì những câu trả lời nhỏ bé.
Sự thật ơi, đừng để ý tới em sít sao đến thế.
Hỡi trang nghiêm, hãy rộng lượng hải hà.
Nhẫn nại đi sự sống bí ẩn à, từ gấu áo người em rút từng sợi chỉ.
Tâm hồn đừng lên án em như thế, khi lâu lâu em mới gặp người.
Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.
Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.
Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,
vì chính em là trở ngại của mình.
Xin đừng chỉ trích em lời nói hỡi, em xin, khi em mượn những ngôn từ thống thiết,
rồi sau đó thêm vào bao khó nhọc, để chúng dường như thanh thoát nhẹ nhàng.

Sunday, 26 June 2011

Rồi một con chim bay



"Rồi một con chim bay" là ca khúc của giáo sư Tadeusz Sygietynski, người sáng lập ra nhóm mùa dân gian Mazowsze nổi tiếng của Ba Lan. Đây là một trong những ca khúc được biết đến nhiều nhất của ông, viết theo lời thơ dân gian.


1. Ej, przeleciał ptaszek kalinowy lasek,
Siwe piórka na nim zadrżały.
Nie płacz ty, dziewczyno, nie płacz ty, jedyna,
Albo ci to świat mały?

Szumi gaj, szumi gaj, szumi gałązeczka
Żółte listki z drzewa padają, ej padają.
Zabrali mi chłopca, a ja w świecie obca,
Innego mi rodzice rają.

2. Leć głosie po rosie, ku zieleskim łąkom,
Przeleć Wisłę, przeleć dunaje,
Powiedzże miłemu, że ja się tu błąkam,
Że mi serce się kraje.

Leć, ptaszku, wysoko, leć, ptaszku, daleko
Do chłopca mego, jedynego. Jedynego!
Niechże on przyjeżdża, niechże on przybywa,
Bo mi rają niekochanego.

3. Kochanie, kochanie, dalekośwa siebie,
Niech płyną do ciebie moje łzy,
Szeroko, daleko słoneczko na niebie,
Jeszcze dalej jesteś ty.

Nie przybędziesz do mnie ani ja do ciebie,
Nie doleci do ciebie mój głos. Nie doleci!
Smutne życie moje, kiedy nie we dwoje,
Smutny mój -- bez ciebie -- smutny los.


Năm 1955, trong dịp Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ 5 ở Warszava, thủ đô Ba Lan, đoàn Việt Nam đã học được ca khúc này của nhóm múa Mazowsze và mang theo về Việt Nam. Đoạn 1 của ca khúc đã được đặt lời Việt và phổ biến ở miền Bắc Việt Nam từ những năm 50:

Rồi một con chim bay còn nghiêng đôi cánh qua khu rừng,
nghiêng đôi cánh hồn thấy rung rinh.
Đừng buồn đừng khóc nữa, người yêu duy nhất đừng khóc nữa em,
cuộc sống quanh ta vô cùng.

Rào rạt trong cành lá, trong cây mênh mang trong cây,
Âm vang trong bao nhiêu lá khô đang trút rơi
Những lá vàng rơi...
Ngày họ mang anh đi là khi đôi lứa xa cách
Mẹ cha em muốn khuyên em dứt tình cùng anh


Hôm nay, nhân một người bạn nhắc tới ca khúc này, Thái Linh đánh liều đặt thêm lời Việt cho đoạn 2 và đoạn 3, tặng bạn :)

2.
Nào giọng ca bay đi, lượn trên sương mai tới cánh đồng,
Bay qua suối, rồi bay mãi qua sông,
Nhủ cùng người yêu dấu rằng em đang lạc lối nơi đây,
Rằng trái tim em nát tan rồi

Này một con chim bay, bay đi bay cao bay xa
Bay đến với anh yêu thương duy nhất trên đời,
duy nhất của em...
Trở về đây bên em, cùng bên em sống đời kiếp này
Vì mẹ cha muốn khuyên em lấy người không thương.


3.
Này người yêu thương ơi, người thương xa vắng nơi phương trời,
Em xin cho nước mắt chảy đến nơi anh...
Kìa vầng dương bao la, vầng dương xa tít trên cao xanh,
mà anh cách xa hơn muôn phần.

  
Người chẳng đến bên em, không bên anh em không bên anh,
Không sao bay tới bên anh tiếng em,
tiếng em chẳng tới...
Sầu này em riêng mang từ khi loan thúy chia cách rồi,
Buồn vì thiếu anh yêu riêng buồn phận em.

Có thể nghe ca khúc này bằng tiếng Ba Lan với đầy đủ cả 3 đoạn ở đây. (youtube không cho phép bê bản này về blog)

:)

Thursday, 23 June 2011

Ban mai (thơ Bolesław Leśmian)


Bản dịch 1:

Em còn ngủ... Mi vương tia nắng sớm
Bàn tay thấy ác mộng gì mà run rẩy, nóng ran.
Cứ thở vậy nghe em, cứ đừng thôi quyến rũ
Anh yêu nét ngực làn hơi này, yêu từng cử động châu thân.

Từ âu yếm thủa ban đầu, giờ đã bao năm?
Bao ngày đã qua từ cuối cùng nguy khốn?
Nỗi buồn nào hôm qua? Điều gì ngày mai làm ta đau đớn?
Ta có khi nào thôi màng hạnh phúc không em?

Với đôi mắt to âm hồn, đêm sẽ đến, đêm đen
Nó nhìn và giết ta... Rồi tử thương – ta chỉ còn giấc ngủ
Vậy là sao? Ta phải chết như bao người vạn cổ?
Như các láng giềng? Ta nguyện cầu cho họ đi em...

***

Bản dịch 2

Em còn thiêm thiếp giấc nồng...
Sợi ban mai nhỏ vương hồng mi ngoan
Mộng về run rẩy tay thon
Xin em cứ thở như còn mãi đây,
Cứ làm anh ngất ngây say
Để cho mê đắm muôn ngày xuân xanh.
Làn hơi bờ ngực mong manh,
Anh yêu từng nét cựa mình trong mơ.

Bao năm từ bấy đến giờ,
Kể từ âu yếm dại khờ đầu tiên?
Bao ngày đã trải hỡi em,
Từ phen nguy khốn lấm lem cuối cùng?
Sầu nào ngày cũ đã từng?
Đau thương nào đợi dặm đường mai sau?
Có khi nào bước bên nhau
Ta thôi màng tới nồng sâu hương tình?

Với đôi mắt lớn u minh
Đêm đen sẽ đến giết mình, em ơi.
Mạng vong, còn giấc ngủ thôi...
Lẽ nào như thế? Em rồi phải xa?
Chết như muôn vạn người ta?
Ví như hàng xóm mấy nhà trước sau?
Cúi xin trời rộng trên đầu,
Nguyện cầu cho họ, ta dầu mai sau....

Thái Linh dịch

Saturday, 18 June 2011

Nhân chuyện ông Zhiguo Gao, nói đôi lời về Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea)

(thẩm phán Zhiguo Gao, ảnh lấy từ trang web của ITLOS)

Tin ông Zhiguo Gao (Cao Chí Quốc) người TQ tái đắc cử thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) làm một số bạn "hoang mang", nên mình muốn viết đôi lời để nói rằng chuyện này "chẳng có gì mà phải rộn".

Thứ nhất, TQ từ trước đến nay luôn có thẩm phán ở ITLOS, việc ông Zhiguo Gao tái cử chẳng làm thay đổi tình hình thành xấu hơn.

Thứ 2, ITLOS có 21 thẩm phán, khi phán quyết tất cả các thẩm phán đều phải tham gia. Như vậy, tuy TQ có thẩm phán, nhưng 1/21 không phải là 1 tỷ lệ quá đáng sợ. Ngoài ra, nếu 1 trong 2 bên tranh chấp có thẩm phán mang quốc tịch của mình thì bên kia có thể chỉ định một thẩm phán ad hoc thay mặt cho quốc gia mình tham gia vào hội đồng xét xử, thẩm phán ad hoc này có tư cách ngang với các thẩm phán của ITLOS.

Thứ 3, thẩm quyền xét xử (jurisdiction) của ITLOS là các vụ việc liên quan đến diễn giải và thực hiện UNCLOS. Các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ như Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc thẩm quyền của ITLOS. Theo nguyên tắc thông thường, khi TQ vi phạm UNCLOS như vụ Bình Minh hay Viking vừa rồi, mình nhấn mạnh lại là không liên quan gì đến tranh chấp HS-TS nhé, thì VN có thể kiện TQ trước  ITLOS, vì cả 2 nước đều tham gia UNCLOS. (Tất nhiên là TQ không chủ động đưa ra tòa rồi, vì họ sai rành rành).

Nhưng.... TQ lại bảo lưu quyền không chấp nhận đưa ra tòa ITLOS! (theo điều 298 UNCLOS)

"The Government of the People’s Republic of China does not accept any of the procedures provided for in Section 2 of Part XV of the Convention with respect to all the categories of disputes referred to in paragraph 1 (a) (b) and (c) of Article 298 of the Convention. "

(http://www.itlos.org/procedings/competence/298.e.pdf)

Vậy là VN có muốn kiện TQ ra ITLOS cũng chẳng được. Thế nên ông Zhiguo Gao chẳng ảnh hưởng gì đến bất hòa bình thế giới. Sự kiện TQ có thẩm phán ở ITLOS, và trước đây từ những năm 30 từng có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice) chỉ cho thấy họ đã đi trước chúng ta bao xa, chúng ta phải làm gì và làm thế nào để rút ngắn bớt khoảng cách, mà thôi.

Sunday, 12 June 2011

Bàn về bình đẳng (Leszek Kołakowski)

(Mẹ Teresa, ảnh lấy từ internet)


Thái Linh dịch



Chúng ta hãy suy ngẫm về câu nói – xưa kia vang lên như trái phá, về sau trở thành nhàm chán – rằng “tất cả mọi người đều bình đẳng”. Nó không biểu thị mệnh lệnh mà theo đó, tất cả mọi người phải được đối xử như nhau trước pháp luật, bởi vì ai đó có thể phản bác rằng bản thân mệnh lệnh này là tùy tiện: vì sao lại chính luật pháp phải đối xử với mọi người như nhau? Không, mệnh lệnh đó được đưa ra dựa trên khẳng định rằng mọi người bình đẳng và do đó, luật pháp phải như nhau cho tất cả mọi người. Như vậy, cơ sở của quy tắc này là một thực trạng nhất định. Nhưng thực trạng đó là gì và làm sao chúng ta có thể xác định được rằng thật sự có nó?

Khi nói rằng con người không bình đẳng bởi họ khác nhau về nhiều mặt – về sức khỏe, các khả năng, kiến thức và tính cách – những người phê phán đã phát biểu thiếu khôn ngoan. Bởi vì hiển nhiên và rõ ràng ai cũng biết rằng con người khác nhau về mặt này mặt khác, rằng không ai hoàn toàn giống ai, và những người đề xướng sự bình đẳng như một thực trạng cũng biết điều ấy, bất kể những khác biệt kia; do đó dựa vào sự khác biệt để khẳng định con người không bình đẳng là vô nghĩa, bởi như vậy là không nắm bắt được khái niệm bình đẳng mà những người đề xướng nó chủ tâm.

Nhưng tất nhiên vấn đề cũng không nằm ở cách nhìn nhận rằng con người thuộc cùng một loài, do đó họ có các trang bị sinh học giống nhau, các đặc điểm hình thái học và sinh lý giống nhau. Nếu vấn đề là ở đó thì chúng ta cũng có thể nói “tất cả các con ngỗng đề bình đẳng” hay “tất cả các con ruồi đều bình đẳng”, “tất cả các cây tầm ma đều bình đẳng”. Nhưng chúng ta không nói thế và cũng chẳng rõ những câu như vậy có thể mang nghĩa gì. Con người bình đẳng, nhưng ruồi thì không.

Xưa kia, các nhà tư tưởng thời Khai minh tin rằng mọi người sinh ra đều giống nhau, như những tấm bảng chưa bị viết lên, tất cả mọi khác biệt là nảy sinh từ giáo dục và ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Ngày nay đã không còn cách nào tin được vào điều đó, bởi chúng ta biết rằng con người sinh ra với những hành trang di truyền khác nhau, và mặc dù còn nhiều điều phải nghiên cứu về di truyền học con người, mặc dù không ai nghi ngờ rằng mỗi người chúng ta là vừa sản phẩm của các đặc điểm di truyền, vừa của giáo dục, thì cũng không ai nghi ngờ rằng chúng ta khác nhau bởi các đặc tính được thừa hưởng. Không ai có thể khẳng định toàn bộ sự nghiệp của Hitler đã được ghi sẵn trong các di tố, hay mọi hành động và tư tưởng của mẹ Teresa đều đã được ghi trong di tố của bà, nhưng được phép giả định rằng có những nhân tố di truyền đã khiến cho một người có thể – dù không nhất thiết – thiên về trở thành Hitler hơn hay mẹ Teresa hơn. Nhưng cả Hitler và mẹ Teresa đều không chỉ thuộc cùng một loài sinh vật, mà theo một nghĩa nào đó, nghĩa của chính điều đang được diễn giải, họ còn như nhau, như tất cả mọi người, họ bình đẳng, mặc dù họ khác nhau ở cấp độ cao nhất.  

Chắc chắn, có thể đề xướng sự bình đẳng của con người dựa trên truyền thống tôn giáo cơ đốc – và không chỉ cơ đốc. Theo nghĩa này, ta nói mọi người đều là con của một cha và đều bị Chúa phán xét theo các chuẩn mực như nhau – dù họ là bác học hay thất học, nghèo hay giàu, sinh ra ở nơi này hay nơi khác, thuộc tầng lớp này hay tầng lớp khác. Như vậy là họ bình đẳng như những đối tượng đạo đức, được Chúa truyền ra các mệnh lệnh nhất định của luật tự nhiên và ban cho khả năng để họ tùy ý nghe theo hoặc vi phạm các mệnh lệnh này.

Có thể đề xướng sự bình đẳng – như một thực trạng chứ không chỉ như một mệnh lệnh – độc lập với niềm tin vào sự hợp nhất của con người trong hình ảnh Chúa hay không? Tôi nghĩ rằng có thể, nhưng điều này đòi hỏi các nền tảng mang tính đạo đức nhất định, cũng như các nền tảng liên quan đến bản thân thể chất con người. Khi nói “mọi người đều bình đẳng”, ý chúng ta là họ bình đẳng về nhân phẩm mà mỗi người đều có và không ai được quyền xâm phạm. Nhưng nhân phẩm là gì, điều mà một số triết gia cho rằng không thể tách rời khỏi khả năng sử dụng lý trí và thực hiện các lựa chọn tự do của chúng ta, đặc biệt là sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu? Chắc chắn nhân phẩm không phải là thứ chúng ta có thể nhìn thấy, và khi nó bị xâm phạm thì dễ nói đến hơn là phát biểu thực chất nó là gì. Nhưng nếu chúng ta giới hạn vào một vấn đề, cụ thể là vào chính khái niệm con người như một bản thể có thể bằng chính sức mạnh của mình, không bị hoàn cảnh xung quanh áp đặt, lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, ta sẽ đi đến được một sự sáng sủa nhất định. Ta hãy đặt sang một bên vấn đề riêng của những người bất hạnh bị thiệt thòi sâu sắc, không đủ năng lực để có bất cứ tham gia nào vào văn hóa và hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Không có gì dị thường khi tin rằng con người có khả năng lựa chọn, rằng họ chịu trách nhiệm về những việc mình làm – tốt hay xấu – rằng chính khả năng này chứ không phải phương pháp mà họ sử dụng khiến họ bình đẳng về nhân phẩm, và rằng chính nhân tính được xác định như vậy là điều đáng tôn trọng, và do đó mỗi người riêng biệt đều cần được tôn trọng. Từ đây có thể kết luận điều gì cụ thể về việc chúng ta phải có thái độ ra sao với những kẻ sử dụng tự do của mình để giết, hiếp, hành hạ người khác, để trừng phạt và chà đạp nhân phẩm họ, hay không? Có lẽ chỉ có thể kết luận rằng, thậm chí với những kẻ tồi tệ nhất cần bị trừng trị và bỏ tù vì tội ác cũng không được phép cư xử theo cách hạ thấp nhân phẩm. Nhân phẩm không phụ thuộc vào tất cả những điều khiến con người khác biệt, nghĩa là vào giới tính, chủng tộc, dân tộc, trình độ, nghề nghiệp, tính cách.

Nếu tin rằng chúng ta là các cơ chế mà hành động và tư duy đều hoàn toàn bị các nguồn lực của môi trường xung quanh và vũ trụ vật lý thúc đẩy, thì bản thân khái niệm phẩm cách sẽ trở nên rỗng tuếch, và do đó khái niệm bình đẳng sẽ không còn ý nghĩa.  

Từ việc chúng ta bình đẳng theo nghĩa này chắc chắn dẫn đến rằng sự bất bình đẳng trước pháp luật là một công cụ chống lại nhân phẩm. Nhưng nó không dẫn đến việc chúng ta cần phải đòi hỏi sự bình đẳng theo nghĩa chia đều của cải cho tất cả mọi người. Sự bình đẳng hiểu theo nghĩa đó, bình đẳng trong phân chia của cải, hiển nhiên đã được đề xướng nhiều lần – bởi một số hội kín thời Trung cổ, sau đó bởi phe cánh tả Jacobin thời cách mạng Pháp, còn trong thế kỷ XIX và về sau thì bởi một số mảnh lẻ của phong trào xã hội chủ nghĩa. Lý luận trong các trường hợp này rất đơn giản: một khi mọi người đều bình đẳng thì mỗi người phải được hưởng của cải của trái đất như nhau. Nhưng đây không phải là lý luận tốt. Ở một số biến thể của chủ nghĩa quân bình, người ta cho rằng bình đẳng là giá trị cao nhất, do đó cần phần đấu để đạt được nó ngay cả khi hậu quả của việc đem lại bình đẳng khiến cho mọi người đều tồi tệ hơn, kể cả những người nghèo khổ nhất; không hề chi, hãy cứ để những người nghèo nhất trở nên nghèo hơn nữa, miễn sao không ai giàu hơn ai. 

Trong tư tưởng này, điều quan trọng không phải là làm sao cho mọi người có được cuộc sống tốt hơn, mà chỉ là để không ai có cuộc sống tốt hơn người khác; như vậy đây không phải là tư tưởng xuất phát từ cảm thức về sự công bằng, mà chỉ là từ lòng đố kỵ (có một giai thoại Nga như sau: Chúa hỏi một nông dân Nga: “Ngươi sẽ nhận được mọi thứ mình muốn, nhưng hãy biết rằng bất cứ ngươi nhận được gì thì hàng xóm của ngươi sẽ được gấp đôi. Ngươi muốn gì?” Người nông dân đáp: „Lạy Chúa, xin Người hãy móc một mắt con đi.” Chủ nghĩa quân bình thực thụ là vậy đó). Nhưng sự bình đẳng kiểu này lại là một lý tưởng không thể dập tắt. Để thực hiện nó, sẽ phải đặt toàn bộ nền kinh tế dưới sự cưỡng bức toàn trị, tất cả sẽ đều phải do nhà nước hoạch định, không ai có quyền làm khác lệnh nhà nước, sẽ không ai có lý do để gắng sức hay làm việc nhiều hơn mức cưỡng bức. Hậu quả là không chỉ toàn bộ nền kinh tế rách nát, mà bình đẳng cũng chẳng có, vì trong chế độ toàn trị sự bất bình đẳng là không thể tránh khỏi và kinh nghiệm cho thấy rõ điều đó, bởi những kẻ cầm quyền không có sự kiểm soát của xã hội sẽ luôn chia chác lợi ích vật chất ở tầm cỡ rất lớn, thêm vào đó là cả các lợi ích phi vật chất nhưng vô cùng quan trọng, ví dụ như quyền tiếp cận thông tin và tham gia vào quyền lực mà phần lớn người dân bị tước đoạt. Như vậy là sẽ có cả nghèo khổ lẫn áp bức.

Đương nhiên có thể đặt câu hỏi: sự bình đẳng trong việc phân chia tất cả các lợi ích trên nguyên tắc tự nguyện, ví dụ như trong tu viện hay ki-bus1, phải chăng là bất khả? Câu trả lời rất đơn giản: đó là điều khả thi theo nghĩa nó không đối nghịch với bất cứ một định luật vật lý hay hóa học nào. Nhưng tiếc thay, nó trái ngược với tất cả những điều chúng ta biết về hành xử của con người, ít nhất là các hành xử điển hình.

Điều này không dẫn đến kết luận rằng sự bất bình đẳng trong phân chia lợi ích hoàn toàn không phải là vấn đề, nhất là ở những nơi có lãnh địa rộng lớn của sự nghèo khổ khủng khiếp. Sự bất bình đẳng có thể được xoa dịu nhờ việc đánh thuế lũy tiến, công cụ hiệu quả nhất cho đến nay, nhưng chúng ta cũng biết rằng thuế lũy tiến vượt quá giới hạn nhất định sẽ trở thành thứ thuế phá hoại kinh tế và không chỉ người giàu mà cả người nghèo cũng sẽ bị thiệt thòi. Ta phải công nhận rằng có những quy luật nhất định của đời sống kinh tế mà chúng ta không thể xóa bỏ. Tất nhiên, điều vô cùng quan trọng là làm sao để tất cả mọi người có thể được hưởng cái gọi là cuộc sống xứng đáng, có nghĩa là cuộc sống không bị đói, có đồ để mặc, có nơi để ở, có thể hưởng sự chăm sóc sức khỏe và cho con cái đi học. Đây là những nguyên tắc được công nhận nói chung ở các nước văn minh, mặc dù chúng chưa được thực thi một cách hoàn hảo. Ngược lại, đòi hỏi sự bình đẳng tuyệt đối trong phân chia lợi ích là công thức dẫn đến bất hạnh cho tất cả mọi người. Thị trường không công bằng, song loại bỏ thị trường có nghĩa là nghèo đói và áp bức. Thế nhưng bình đẳng về nhân phẩm và sự bình đẳng quyển lợi và nghĩa vụ nảy sinh từ đó là yêu cầu mà thiếu nó, chúng ta sẽ sa vào man rợ. Thiếu yêu cầu này, ví dụ, chúng ta sẽ có thể cho rằng được phép hủy diệt các dân tộc và chủng tộc khác một cách vô tội vạ, rằng không có lý gì để phụ nữ có các quyền công dân như nam giới, rằng được phép giết người già yếu bệnh tật, những người chẳng ích lợi gì cho xã hội v.v. Niềm tin vào sự bình đẳng này không chỉ bảo vệ nền văn minh chúng ta, mà còn khiến chúng ta là những con người.


Trích từ tập "Các thuyết trình mini về những vấn đề maxi" (Mini wykłady o maxi sprawach), NXB Znak, Kraków 2008
--------------
Chú thích:

1 Một kiểu hợp tác xã rất phát triền của người Do thái ở Israel, nơi nguyên tắc chủ yếu là không có sở hữu cá nhân, toàn bộ tài sản là của chung, trẻ em là của chung, hoàn toàn bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.




Thursday, 9 June 2011

Các khả năng (Wisława Szymborska)

Thái Linh dịch

Tôi thích điện ảnh.
Tôi thích mèo.
Tôi thích những cây sồi bên sông Varta.
Tôi thích Dickens hơn Dostoyevsky.
Tôi thích mình yêu mọi người
hơn thích mình yêu nhân loại.
Tôi thích phòng sẵn kim chỉ.
Tôi thích màu xanh lá cây.
Tôi thích không khẳng định rằng
mọi điều đều do lý trí.
Tôi thích những ngoại lệ.
Tôi thích ra khỏi nhà sớm hơn.
Tôi thích chuyện trò với bác sỹ
về điều gì đó khác.
Tôi thích những hình minh họa cũ xưa.
Tôi thích sự nực cười của việc làm thơ
hơn sự nực cười vì không viết chúng.
Tôi thích những nhà đạo đức
chẳng hứa hẹn với tôi điều gì.
Tôi thích những dịp kỷ niệm tình yêu không tròn tháng tròn năm
càng thích hơn nếu hàng ngày kỷ niệm.
Tôi thích lòng tốt khôn ngoan hơn cả tin quá mức.
Tôi thích trái đất mặc thường phục.
Tôi thích những đất nước bị đánh bại hơn các quốc gia xâm lăng.
Tôi thích khi tán thành vẫn có ý kiến riêng.
Tôi thích địa ngục của hỗn loạn hơn địa ngục của trật tự.
Tôi thích truyện cổ Grim hơn trang đầu báo chí.
Tôi thích lá không có hoa hơn những bông hoa không có lá.
Tôi thích chó không bị tỉa đuôi.
Tôi thích những đôi mắt sáng màu, vì màu sẫm mắt tôi.
Tôi thích các ngăn kéo.
Tôi thích nhiều thứ chưa kể ra đây
hơn nhiều thứ ở đây cũng còn chưa kể.
Tôi thích những con số không thoải mái tự do
hơn những số không xếp hàng sau một con số.
Tôi thích thời gian của côn trùng hơn thời gian của các vì sao.
Tôi thích nói “trộm vía”.
Tôi thích không hỏi “khi nào” hay “còn bao lâu nữa”.
Tôi thích cân nhắc ngay cả khả năng:
rằng sự sống có lý riêng của nó.